Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
 Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
Thơ bốn câu
 
(17h: 09-04-2011)
Sách "Lãng nhân chơi chữ"


1 – Tứ tuyệt :

Khoảng đầu thế kỷ 20, khi người Pháp đặt cơ quan hành chính ở Bắc Việt, sự cộng tác của nhân dân còn rụt rè. Nếu không phản đối ra mặt, ít nhất cũng có sự phản đối trong trong tinh thần vì ai cũng còn giữ điều tự trọng. chỉ riêng một bọn vô học vì danh lợi mà nhảy ra, mà được cân nhắc lên chức nọ chức kia, vội cho ngay là cờ đã đến tay, lên mặt lên mũi hống hách với nhân dân. Trong đám này, ở tỉnh Nam Định, có ông Pháo được sung vào chức phòng thành tức cũng như cảnh sát trưởng. Hàng phố gọi tắt là ông Thành Pháo. Hai chữ này đã khiến cho tú xương liên tưởng đến lối chơ bài tam cúc; khi mỗi nhà còn hai quân trên tay thi từ quân xe trở xuống, ai có được đôi nào tức là thành, nghĩa là thành đôi, và ngả ra ăn kết, nếu không có đôi hơn đè trên. Ông bèn đọc bốn câu:

 

Thành Pháo

Tượng tượng xe xe xé lẻ rồi

Sĩ đen sĩ đỏ chẳng thành đôi,

Đố ai biết ngỏ đôi gì kết?

Mã cũng chui mà tốt cũng chui…

 

Tuy là nói về tam cúc, sự thực là nói về bức tranh thời cục: Trong trật tự tam cúc (tướng – sĩ – tượng – xe – pháo – mà – tốt), sĩ, tượng, xe phần bị xé lẻ vì khủng bố, phần không liên kết được với nhau (chẳng thành đôi) vậy nếu mỗi người con hai quân trên tay và nếu nhà cái lại gọi đôi, th2 có còn đôi gì khiến cho mã tốt phài chui hết ? Tất nhiên người nào thành pháo là đôi hạng xoàng bất quá đứng trên hàng mã và tốt, được ngỏ ra ăn hết: rõ thật tiểu nhân đắc chí !

Ông Thành Pháo bị diễu, ghét cay ghét đắng Tú Xương.

 

Lại kể chuyện bà Tú gần tết sắm cỗ mũ để cúng ông táo về trời, nhìn thấy ba vua bếp chỉ có áo, mũ và hia, Tú Xương liên tưởng đến phong trào Duy Tân, các thầy Thông thầy Phán đều đua nhau bỏ khăn lượt để đội mũ cát, bỏ giầy Gia – định đệ dận giày tây, nhưng rút cục vẫn giữ tấm áo the dài, thành ra tuy gọi là duy tân, nhưng chỉ được đầu và chân, nên Tú Xương làm thơ diễu :

 

Thấy ba vua bếp dạo chơi xuân

Đội mũ, đi hia, chẳng mặc quần

Trời hỏi: làm sao ăn vận thế?

Thưa rằng: Hạ giới nó Duy – Tân!

 

2 – Thơ hạn chữ

Là trong bốn câu thơ của bài tứ tuyệt, mỗi cầu đều phải nhắc đến một loại cây, con, hay vật nào đó. Vì dụ bốn câu dưới đây đều nói về gỗ :

 

Chắc (trắc) lại việc này tại cụ ông,

Buôn lim, buôn gụ, chẳng buôn thông,

Sinh con dốt đặc mai làu táu,

Đem khảo ba vồ vẫn mít không!

 

3 – Liên hoàn

Là thơ bốn câu có lối liên hoàn, hai chữ cuối câu trên bắt xuống hai chữ đầu câu dưới. ví dụ bài thơ “Lúc say sưa” dưới đây của Yên Đổ:

 

Những lúc say sưa cũng muốn chừa

Muốn chừa nhưng tỉnh lại hay ưa,

Hay ưa nên nỗi không chừa được,

Chừa được thì ông cũng chẳng chừa !

 

Hoặc lấy cả bốn chữ của câu trên đặt xuống câu dưới :

 

Hạ gặp sen thơm hoa lẫn lá,

Thơm hoa lẫn lá mùi đưa sạ,

Sạ đưa mùi lá lẫn hoa thơm,

Lá lẫn hoa thơm sen gặp hạ.

 

Hoặc lấy nguyên câu thứ tư làm đầu bốn câu kế tiếp :

 

Nhàn rỗi sinh ra thói chán đời

Hết ăn rồi ngủ, ngủ rồi chơi

Chót ba mươi tuổi mà chưa vợ

Tuy có nhiều cô vẫn đón mới.

 

Tuy có nhiều cô vẫn đón mời

Nhân tình nhân nghĩa mới quen hơi

Cứ nghe cửa miệng thề non nước

E có ngày kia khổ thấy trời !

 

‌4‌ - Điệu lộng hoàn

Dùng ba vần thay đổi thứ tự trong mỗi bài bốn câu :

 

Còn chơi

 

Ai đã hay đâu tớ chán đời,

Đời chưa chán tớ, tớ còn chơi.

Chơi cho thật chán, cho đời chán,

Đời chán nhau rồi, tớ sẽ thôi.

 

Nói thế can gì tớ đã thôi,

Đời đương có tớ, tớ còn chơi.

Người ta chơi đã gìa đời cả,

Như tớ năm nay mới nửa đời.

 

Tớ hãy chơi cho quá nửa đời,

Đời chưa quá nửa, tớ chưa thôi.

Tớ thôi tớ nghĩ buồn cho tớ,

Buồn cả cho đời vắng bạn chơi.

 

Nào những ai đâu bạn của đời?

Sao mà bỏ vắng, ít ra chơi/

Chờ ai chờ mãi, ai đâu tá?

Hay ngán cho đời chẳng muốn chơi?

 

Nếu tớ như ai: cũng ngán đời,

Đời thêm vắng bạn lấy ai chơi?

Cuộc đời tớ nghĩ chưa nên ngán,

Nếu ngán thì xưa tớ đã thôi.

 

Tớ muốn chơi cho thật mãn đời,

Đời chưa thật mãn, tớ chưa thôi,

Chẳng hay đời tớ lâu hay chóng?

Dù chóng hay lâu, tớ hãy chơi.

 

Trăm năm tớ độ thế mà thôi,

Ức, triệu nghìn năm chưa hết đời,

Chắc có một phen đời khóc tớ,

Đời chưa khóc tớ, tớ còn chơi.

 

Tản Đà

5 – Yết hậu

Là thơ bốn câu, nhưng câu bốn chỉ có một hay hai chữ, ví dụ bài “Đánh Long Thần” :

 

Hôm qua trời tối tới chơi đây

Đánh phải long thần mấy cẳng tay

Khi tỉnh thì nào ai có dám !

Say…

 

Bài thơ này của Nguyễn Công Trứ, một buổi tối ngày rằm lảng vảng vào miếu Long Thần, lấy rượu thịt người ta bày cúng, đem dánh chén, say khướt rồi đem rượu ghé môi long thần mới uống. Thấy tượng thần không nhúc nhích, bực mình Trứ vật ngửa bức tượng đổ rượu vào miệng rồi lại còn bạt tai mấy cái, mới khật khưỡng ra về. sớm mai tỉnh lại mới hối hận, nên viết bốn câu trên dán ở miếu.

  

Lại kể một năm hạn hán, viên tri phủ nọ lập đàn cầu đảo, mấy ngày liền mà chẳng thấy mưa. Có anh học trò thấy dân phủ phải tốn công tốn của về việc này, nên làm một bài thơ yết hậu :

 

Cầu mưa

Tri phủ cầu mưa rơi

Nhân dân sướng mê tơi

Nửa đêm mở cửa ngó

Trăng soi !

 

Bài thơ lọt vào tai Tri phủ, Tri phủ giận quá đòi anh học trò tới công đường bắt làm một bài khác sửa lại ý bài trên, nếu không làm được sẽ bị đòn.

 

Viên tri phủ vốn có biệt hiệu Tây Pha, nên ra hai chữ ấy làm đầu đề cho bài thơ mới, anh học trò liền đọc :

 

Người xưa hiệu Đông Pha

Người nay hiệu Tây Pha

Hai người so sánh lại

Khác xa!

 

Viên Tri phủ càng giận hơn, sai đánh 18 roi. Anh học trò chịu đòn xong, vừa xuýt xoa vừa đọc :

 

Làm thơ mười bảy chữ

Bị đánh mười tám roi

Nếu làm thơ muôn chữ

Chết toi!

 

6 – Song thanh điệp vận

Là ghép vào mỗi câu hai chữ cùng vần, như bài “Cảnh chiều” của Tuy Lý Vương dưới đây :

 

Mây xây, núi túi*, chim tìm tổ,

Khách cách, đường trường, nốt *cột lau

Lỏng khỏng đào cao nường phậu* xấu

Lơ thơ liễu yếu chị đầu đau*

 

7 – Vĩ tam thanh

Ba tiếng cuồi cùng là ba thanh của một âm gốc, ví dụ như bài thơ của vua Đồng Khánh :

 

Chạy theo danh lợi quang quàng quáng

Nói đến chung tình nhẹ nhẻ nhe

Rượu uống ba đồng nhan nhát nhạt

Say thi ngủ giấc khoẻ khoè khoe!

 

8 – Thơ dùng toàn tử âm

Ví dụ  bài “Trách nguời đa tình” toàn tử âm ch :

 

Chạy chữa chai chân chẳng chịu chừa.

Chín chiều chua chát, chán chê chưa

Cha chài chú chóp chơi chung chạ,

Chẳng chính chuyên chi, chớ chực chờ!

 

Hay một giai nhân than phiền cảnh cô đơn bằng một bài lục bát :

 

Nỗi niềm non-nuớc não nùng

Lỡ làng lạc lối lạnh lùng lẻ loi

Tâm tình tan tác tả tơi

Ngổn ngang nghĩ ngợi ngậm ngùi ngẩn ngơ

Du dương, déo dắt, dật dờ:

Điệu đàn đòi đoạn đẫn đờ đêm đông.

 

9 – Thơ hồi văn:

Nàng Tô Huệ xưa dệt bức gấm hồi văn để xin cho chồng giải ngũ. Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa cũng làm hồi văn gửi cho người tình, nhưng xếp đặt một điều bí hiểm, để chỉ riêng “ai” đọc đuợc mà thôi :

 

  Đây

   Lại

   Gởi

Thiếp   nhớ   chàng   thơ    bỏ   nghĩa   này

   Đặng

   Em

   Hay

 

Người đẹp đã hội được ý mà ngâm rằng :

 

Đây lại gởi thơ đặng em hay

Hay em đặng thơ bỏ Nghĩa này

Này Nghĩa bỏ thơ chàng nhớ thiếp

Thiếp nhớ chàng thơ gởi lại đây!

 

Muốn “bảo mật”, khách đa tình có khi lại biến bài thơ thành một bức vẽ :

 

Thu

Thu

Thu

Đêm            Tình                   tiệc

Chén        rượu nồng              s    y

                                                     a

                 Trời

                  Non

                 Nuớc

 Chỉ người trong cuộc mới hiểu ra đó là bốn câu :

Ba thu dọn lại một trăng tròn

Đêm vắn tình dài tiệc cỏn con

Nghiêng chén rượu nồng say chếnh choáng

Trên trời dưới nước giữa là non

 

----------------------

 

*Túi : Tối (tiếng trung)

*Nốt: Thuyền loại vừa

*Phậu :Người hầu gái

*Đầu : đào


Để gửi ý kiến nhấp vào đây