Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
Giai thoại Hồ Xuân Hương (1772 - 1822)
 
(17h: 02-06-2011)
Phlanhoa tổng hợp các nguồn sưu tầm


Hiệu là Cổ Nguyệt Đường (chữ “cổ” (古 ) ghép với chữ “nguyệt” (月) thành chữ “hồ” ( 胡), ý là họ Hồ của Hồ Xuân Hương)

Hồ Xuân Hương quê gốc xã Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Là con gái của Hồ Phi Diễn, cháu nội Hồ Phi Cơ, Chắt nội của Hồ Thế Anh. Theo tông phả họ Hồ ở Quỳnh Đôi thì Hồ Thế Anh là anh trai của Hồ Phi Phúc. Hồ Phi Phúc là bố của Nguyễn Huệ. Vị chi Hồ Xuân Hương là cháu gọi vua Quang Trung bằng chú.

Cụ Sinh đồ Hồ Phi Diễn sinh nữ sĩ Hồ Xuân Hương tại phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận (Hà Nội ngày nay).

Nham Giác Phu họ Phan từng viết về bà : “Học rộng mà thuần thục, dùng chữ ít mà đầy đủ, từ mới lạ mà đẹp đẽ, thơ đúng phép mà văn hoa, thực là một bậc tài nữ”. Còn nhà thơ Xuân Diệu thì gọi Hồ Xuân Hương là “Bà chúa thơ Nôm”. Sinh thời bà là bạn thơ thân thiết với Dương Trí Tản và cậu Chiêu Bảy Nguyễn Du.

Xuân Hương là người đàn bà thông minh, tài hoa và gần gũi với quần chúng, các giai thoại để lại cho đời sau đều chứng minh bà rất có tài chơi chữ, đối đáp xuất thần.

Năm 1788, sau khi treo ba chữ “Cổ Nguyệt Đường” lên, khiến khách văn chương thành Thăng Long tò mò kéo đến tấp nập. Hồ Xuân Hương đã nổi hứng ra vế đối hiểm hóc:

Gái Cổ Nguyệt chơi Hồ cô Nguyệt, Nguyệt Nguyệt bằng quân tử trượng phu.

Trong vế đối hai chữ ‘nguyệt” ghép lại thì thành chữ “bằng” ( ), chữ “bằng” ở đây có nghĩa là bằng hữu. Vế đối ngầm khoe bàn bè bằng hữu của Cổ Nguyệt Đường đều là bậc quân tử trượng phu.

Vế đối hiểm hóc này mãi sau mới có Dương Trí Tản đối lại được:

Trai Kỳ Sơn chơi núi Kỳ Sơn, Sơn Sơn xuất anh hùng hào kiệt.

Nhưng người đời bình luận rằng vế đáp của Dương Trí Tản chưa chỉnh so với vế đối của Hồ Xuân Hương, vì tuy vế sau hai chữ “sơn” ghép với nhau thì thành chữ “xuất”, nhưng vế trước chữ “Kỳ” không ghép được với chữ “sơn” để nên nghĩa như chữ “cô” ghép với chữ “nguyệt”.

***

Vế đối chê anh quan võ kém tài:

Mặc áo giáp, dải cài chữ Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân khoe mình là Quý.

Vế đối này được Chiêu Hổ (Nguyễn Du) đối lại như sau:

Làm đĩ Càn, tai đeo hạt Khảm, Tốn, Ly, Đoài khéo nói răng Khôn.

***

 

Thuở thiếu thời, Hồ Xuân hương đi học, gặp hôm trời mưa đường trơn bị trượt ngã sóng soài, một cậu học trò tinh nghịch ghẹo :

Vươn tay với thử trời cao thấp.

Hồ Xuân Hương đứng dậy đọc ngay:

Xoạc cẳng đo xem đất vắn dài.

***

 

Hai văn sĩ phương Bắc nghe tài Xuân Hương tìm đến đưa danh thiếp ngỏ ý muốn cùng Xuân Hương đàm đạo chữ nghĩa. Theo thủ tục thời đó, chủ nhân đưa ra vế đối, nếu khách đối được thì chủ nhà mới xuất đầu lộ diện để tiếp khách, vế ra của Xuân Hương như sau:

Chân đi giày Hán, tay bán bánh Đường, miệng nói líu lường ngây ngô ngấy ngố.

Hai người khách phương Bắc nghĩ một lúc rồi bỏ đi, vì hiểu ra ý nghĩa vế đối xem ra Xuân Hương đã nhận ra và có vẻ căm ghét coi thường người phương Bắc, nơi có ba triều đại nổi tiếng Hán, Đường, Ngô luôn là kẻ thù của người Nam.

***

 

Vài câu đối tết của Xuân Hương:

Tối ba mươi tống cựu, khép cánh càn khôn, một then đưa đẩy: khìn – khin – khít – khịt,

Sáng mùng một nghinh tân, mở lò tạo hóa, hai cánh banh ra: toác – toạc – toàng – toang.

***

 

Tối ba mươi, khép cánh càn khôn, ních chặt kẻo ma vương đưa quỷ tới;

Sáng mùng một, lỏng theo tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ rước xuân vào.


Để gửi ý kiến nhấp vào đây