Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
Nguyễn Du đã viết Truyện Kiều như thế nào
 
(15h: 29-11-2011)
Trích đoạn từ cuốn "Tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Du - của tác giả Nguyễn Thế Quang"
Phân đoạn: Đoạn trường tân thanh - chương 1
*****



ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH - CHƯƠNG 1

 

Trời tháng bảy, ở xứ Nghệ gió Lào thổi thâu đêm suốt ngày. Mặt tròi vừa lên được hon con sào mà cái nóng đã hầm hập. Phía bến Giang Đình, bên cạnh dòng sông Lam trong xanh, trong căn nhà lục giác lợp cọ khá đẹp mới dựng, hai người đàn ông ngồi cạnh chiếc bàn gỗ lim dài. Một người dang cúi đầu vào những trang giấy, tay cầm bút, lúc viết lúc ngừng; một người trạc ngũ tuần, khuôn mặt nho nhã lãng tử ngồi phía đối diện hơi chếch về phía trong, đang nhìn ra phía bờ sông. Đó là hai chú cháu Nguyễn Du và Nguyễn Thiện. Tuy là cháu nhưng Thiện hơn Nguyễn hai tuổi, đậu cử nhân năm 1783, không ra làm quan. Sau một thi gian giúp Nguyễn Thiếp làm ở Sùng Chính viện, đến thi Gia Long vẫn không ra làm quan, thích lãng du cùng gió trăng sông nước. Đang ở Hương Sơn, bỗng nhận được thư của chú Nguyễn cho biết sau đi sứ đã xin về quê nghỉ sáu tháng: "Chú đã về Tiên Điền, có việc muốn nhờ anh. Anh nói với thím sắp xếp công việc xuống vi chú ít lâu." "Đây là lần đầu tiên chú nhờ việc. Việc gì mà lại dặn ở với chú ít lâu?" Quý trọng chú và cũng thích về quê, Thiện sắp xếp việc nhà rồi xuống ngay. Vừa gặp, chú đã cho biết: chú muốn làm căn nhà cạnh bờ sông lam để ngằm sông hóng mát. Nhà hình lục giác, kích cỡ chú Úc đã vẽ, gỗ đã có người mua, thợ đã gi, nhờ Thiện trông coi làm cho nhanh.Thiện mừng lắm. Tuởng cái gì khó, chứ cái này có khó gì. Thiện nói điều này vói chú Nhưng, chú ấy nói:

 

-         Bác ấy gọi đó là "Vọng Giang Đình". Bác ấy đang vui. Làm ngôi nhà cạnh sông mà ngắm cảnh sông nước thì thú quá.

 

Thế nhung Thiện lại nghĩ: Có phải chỉ để ngắm cảnh không? Một năm chú Bảy ở nhà được mấy ngày? Chắc còn duyên cớ chi đây? Thiện không dám hỏi. Làm đưc mấy ngày chú đưa cho Thiện cuốn Kim Văn Kiều - Thanh Tâm tài t, bảo Thiện đọc kỹ rồi cho chú biết ý kiến của mình.

 

Sau mười ngày, Vọng Giang Đình làm xong. Nhà cao, làm bằng gỗ lim, dổi, sáu mái lợp bằng cọ tạo nên một hình chóp đẹp. Phía dưới có lan can gỗ bao quanh, ch trừ lối vào và lối đi xuống bến. Trong nhà bày một chiếc bàn lim dài và ba ghế vuông có lưng tựa: một ghế để ở đầu bàn, ngồi quay lưng vào làng, nhìn chếch ra cửa sông Lam nối liền vói bin. Hai ghế hai bên bàn đối diện nhau, người ngồi bên trái quay lưng ra sông, nhìn về làng Tiên Điền, về phía nhà thờ họ Nguyễn, người ngồi bên phải quay lưng vào làng nhìn ra phía sông nước. Khi khách, chú Bảy ngồi ở phía đầu bàn, hai khách ngồi hai bên. Thiện hỏi:

 

-         Sao chú chỉ bày thêm hai ghế?

-         Thế thôi. Khách đến nhiều, khó chuyện trò.

 

Sau khi Vọng Giang Đình làm xong, vào một buổi sáng hai chú cháu ngồi uống trà ở đấy. Bấy giờ chú mới hỏi Thiện:

 

-         Anh thấy cuốn Kim Văn Kiều thế nào?

-         Thưa chú. Cháu đọc thấy đó là một cuốn truyện bình thường. Nôi dung ấy thì ở đâu cũng có và thời nào cũng có. Văn thì bình thưng, nhiều chỗ tả thì thực nhưng bất nhẫn.

-         Chính cái hay của cuốn sách đó là kể được một câu chuyện mà ở đâu cũng có, thi nào cũng có. Chú đang định viết lại câu chuyện ấy bằng tiếng nưc ta, một truyện thơ như kiểu Hoa tiên, để cho người Việt đọc. Thân phận của nàng Kiu cũng là thần phận của bao nguời dân Việt.

 

Thiện thoáng nghĩ: "Một truyện như kiểu Hoa Tiên - truyện về tình yêu đôi lứa? Loại truyện ấy đã nhiều, chú viết nữa không sợ trùng lặp, nằm chán ư?"

 

-         Thưa chú, thế là thêm một chuyện tình giữa tài tử và giai nhân?  

 

Hiểu ý của Thiện, Nguyn nói:

 

-         Phải thế mà cũng không phải thế. Có chuyện tình la đôi nhưng cái chính là chuyện đi, chuyện muôn người. Truyện của Thanh Tâm tài tử chỉ là cái cốt, cái cớ để chú nói chuyện nước mình, người mình, nỗi đau của người Việt mình, khát vọng của người Việt mình, ký thác tâm sự của mình. Dựa vào đó chú sẽ tạo nên một khúc đoạn trường mi, có như vậy mi khỏi bị bắt bẻ.

 

Nghe chú nói vậy, Thiện thấy chú đã có ý định khác nguời, bèn hỏi tiếp:

 

-         Chú viết theo loại thơ nào?

-         Lúc đầu chú đnh viết song thất lục bát như Chinh phụ ngâm của Phan Huy ích. Nhưng sau đó nghĩ lại thấy song thất lục bát đều, trầm và buồn quá. Vả lại truyện của chú phải dài hơn, viết thế nặng nề. Chú viết lục bát. Thể thơ này quen thuộc vối dân ta hơn.

 

Thiện ngạc nhiên:

-         Thưa chú, thơ lục bát dễ làm nhưng dễ rơi vào dề dãi nhàm chán, mà viết hay thì khó lắm lắm!

-         Chú sẽ cố gắng, anh ở đây chơi, có gì bàn bạc góp ý cho chú.

 

Thiện vừa mừng được chú bảo vậy, vừa lo, vừa bối rối nói:

 

-         Thưa chú, văn chương chữ nghĩa cháu còn tầm thường lắm. Cháu đâu dám.  

Không đâu! Một người không thể hiểu được tất cả. Ngay đến những người trồng dâu nuôi tằm ít học nhưng lời của họ có nhiều điều hay lắm. Anh văn chương khá. Cứ ở đây với chú. Có điều gì anh cứ nói thẳng. Chú mong anh thế.

 

Thiện ở lại.

Chiều qua, chú Bảy đưa cho xem đoạn đầu của truyện, Thiện thấy chú không kể vào việc như Thanh Tâm mà có sáu câu mở đầu:

 

Trăm năm trong cõi con người

Chữ tài chữ mệnh muôn đời ghét nhau

Trải qua bao cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

L đời b sắc tư phong

Trời xanh ghen với má hồng bao phen.

 

Thiện đọc đi đọc lại. Như vậy "Truyện của chú không ch là chuyện tình, chú nói đến cái rộng hơn: tài và mệnh, con người và số mệnh. Sao lại đi vào chuyện mệnh sắc sắc không không vô tận vậy nhỉ? Còn bể dâu, nỗi đau, chuyn đuc cái này, mất cái kia, chuyện má hồng phận bạc thì ai chả biết, sao chú chỉ nói chừng ấy nhỉ?" Một chút thất vọng nổi lên trong lòng, Thiện dè dặt nói với chú. Chú gật đầu:

 

-         Anh nói đúng. Chú cũng thấy chưa nói đúng điều chú muốn nói. Chú sẽ sửa lại.

 

Sáng nay theo lời dặn của chú, Thiện lại ra Vọng Giang Đình. Thiện ra muộn, thấy chú đang ngồi viết. Thiện rón rốn bước vào, không dám gây tiếng động làm đứt mạch cảm xuc của chú. Chú vẫn cặm cụi viết, hình như không biết Thiện vào ngồi ngắm chú: mái đầu bạc cúi trên trang giấy trắng, những dòng chữ hiện lên trên mặt bàn g lim đen bóng, tt c in lên mặt nước sông Lam xanh hiền hòa, trông chú thật đẹp. Thời gian cứ lặng lẽ trôi. Tiếng ồn ã ở chợ Giang Đình đã tắt mà chú vẫn viết. Chợt chú dừng tay, đặt bút lên nghiên, nhìn ra bờ sông, rồi quay lại, ngạc nhiên:

 

-         Thiện đấy à? Ra lâu chưa? Chú mải viết quá.

 

Thiện vui nói:

 

-         -Chắc chú viết được chỗ nào thú vị lắm.

-         Đúng rồi. Chú đang viết đến đoạn Kiều sang gặp Kim, cháu đọc đi.

 

Chú đứng dậy đưa tờ giấy cho Thiện rồi đi đi lại lại. Thiện cầm trang giấy đọc, những dòng chữ ngay ngắn tươi rói trướcmắt:

 

Xắn tay mở khóa động đào

Rẽ mây trông tỏ lối vào thiên thai

Mặt nhìn mặt càng thêm tươi

Bên lời vạn phúc bên lời hàn huyên.

 

Thiện sững sờ: hay quá! Một nhà nho, một ông quan mà lại để cho trai gái tự tìm đến nhau, đã qua tuổi ngũ tuần mà còn viết đuợc những vần thơ say đắm đến thế, bèn kêu lên:

 

-         Lạ quá! Tuyệt vời quá! Chú coi chỗ trai gái được tự tình cõi tiên. Chú để cho o Kiều dám xăm xăm đến nhà trai, thì trai gái đua nhau đọc mà các ông bố mà mẹ phải ra tay ngăn rán mất thôi.

 

Thiện đang sôi nổi bỗng dừng lại: Sao chú lại có v lặnglẽ? Chú nói:

 

-         Yêu nhau mà không đuọc đến vói nhau thì khổ lăm cháu ạ!

 

Thấy v chú trầm ngâm,Thiện không dám hhỏi thêm. “chắc chú đang nghĩ đến điều gì?" Đúng là Nguyễn đang nhớ đến Nhật - mối tình đầu của mình. Trai gái yêu nhau nhau là lẽ thường tình, sao lại cấm đoán? Sao lại bắt những người yêu nhau không được đến vi nhau, không lấy được nhau? Thật là cực hình. Sự cấm đoán làm cho bao người khốn khổ, có người phải chết. Mong sao cho con ngưi, nht là gái được đến với ngưi con trai mình yêu thương."

 

Thiện cúi đầu đọc tiếp, những cái thô thiển trong nguyên bản bị gạt b, những đoạn thơ hầu như mới hẳn mà đằng sau đó là khát vọng của một con người muốn phá tung khuôn phép của xã hội này. Chăm chú nhìn Thiện đọc, Nguyễn muốn xem nhng phản ng ca Thiện. Thiện đọc xong hoan hỉ nhìn chú:

 

-         Cháu không ngờ chú viết say đắm làm vậy.

 

Nguyn ngồi vào ghế, lấy một tờ giấy khác cầm tay đưa cho Thiện:

 

-         Mấy câu mở đầu anh góp ý đúng, bình thưng, quen thuộc quá, không có cái gì mới của riêng mình. Hồi đêm nằm nghĩ mãi, chú đã sửa lại như thế này:

 

Thiện cầm lấy đọc:

 

Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

Lạ gì b sắc tư phong

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

 

Thiện đọc lại lần nữa. Trong hai dòng đầu, hai từ "trăm năm" và "muôn đời" chú đã b đi một, thay vào đó chữ "khéo là", thì ý thơ không chỉ là "tài mệnh tương đố" mà người viết còn bộc lộ sự cười cợt, mai ma tạo hóa ngay từ dòng đầu tiên. Còn chuyện xưa - nay "bỉ sắc tư phong", "hồng nhan bạc mệnh” được đặt sau từ “lạ gì" và "quen thói" thì ông trời trở nên tầm thường, hay gây sự, còn người thơ Nguyn Du thì trở thành kẻ từng trải bực bội, đay nghiến và vạch ra sự đa đoan của đấng cao xanh. Thiện quay lại nói:

 

-         Tuyệt diệu. Chú chỉ thay có mấy chữ bình thường mà ý tứ càng sâu xa, giọng điệu khác hẳn.

 

Vừa lúc đó Nguyn Nhưng bước vào:

 

-         Chú cháu bàn chuyên o nào mà rôm rả thế?

 

Thiện mỉm cười nhìn Nguyễn, rồi nói vói chú Nhưng:

 

-         o Kiều ạ. Đẹp và táo tợn lắm. Chú xem.

 

Nhưng cầm mấy trang giấy lên, đọc mê mải. Nguyễn nhìn em, nhìn cháu, lòng cảm thấy vui lạ. Công việc triều đình xong, ci mũ áo quan triều gác lại, về quê nhà vi gia đình, với trang sách, không còn ai sai khiến, không bị ai theo dõi, không sợ phạm lỗi vói cấp trên, sướng quá. Bọn lý trưởng, chánh tổng, tri huyện thì không dám động đến, quan tỉnh cũng chẳng đáng kể gì, Nguyn được làm theo ý mình, chỉ nghĩ nhng điều mình thích, nghĩ những điều cần nghĩ. Nguyn là con người tự do! Nguyn còn được sống giữa những người ruột thịt đầy yêu thương. Nguyn thật hanh phúc.

 

Nguyn Nhưng đọc xong, nét mặt sáng ngời nhìn Nguyễn, nhìn Thiện:

 

-         Chà! Tuyệt bút. Tả tình tả cảnh hay đến thế là cùng. Bác đã ngoại ngũ tuần mà viết cứ trẻ trung như tuổi đôi mươi.

 

Khi ra về, Nhưng nói với Nguyễn:

 

-         Bác cứ viết nhiều vào đi. Ngày ngày em sẽ cho cháu mang nước chè xanh và khoai lang bột ra bác dùng. Khi có khách, nhất định em sẽ có rượu ngon mang ra.

 

Hai chú cháu ra về để Nguyn đưc yên tĩnh. Nhưng nói với Thiện:

 

Thì ra bác Bảy dựng Vọng Giang Đình để làm thơ. Hay thật!

 

Thiện dè dặt:

 

-         Có lẽ còn hơn thế chú ạ. Nhiều khi cháu thấy chú ấy cứ thẫn thờ nhìn ra bờ sông.

 

Thiện nghĩ đúng. Dựng căn nhà nhỏ để ngắm cảnh làm thơ là ao ước tự lâu của Nguyễn. Ngay từ hồi ở Quỳnh Dị, những đêm trăng, lên Phong Nguyệt sào trên hồ nước của tiến sĩ Đoàn Nguyễn Thục – nhạc gia của mình, Nguyễn đã mong sau này sớm có vườn rộng để làm một nhà đẹp hơn thế. Nhà Lê đổ, Tây Sơn lên, mọi ước mơ tan vỡ, mười năm lẩn trốn ăn nhờ ở đậu hết miền sông, miển biển ở Thái Bình...rồi Đoàn nương chết, về quê Tiên Điền sống vô cùng thiếu thốn, Nguyễn vẫn muốn có một căn nhà để ngắm cảnh, làm thơ. Nhung Nguyịj không muốn làm nhà trên ao - chật hẹp, tù túng. Ngày ngày đi khắp chín chín ngọn non Hồng hay ra chơi nơi sóng biển,  Nguyễn thích một không gian rộng rãi khoáng đạt. Nguyễn muốn làm một căn nhà bên bến Giang Đình. Ở đó, ngày ngày có thể hướng ra phương Bắc nhớ về quê mẹ với những câu quan họ ấm áp nghĩa tình, như thấy được bóng hình hiền hậu mà đài các của mẹ; có thể hưng về Thăng Long, nơi mình cất tiếng chào đời và cả tuổi thanh niên sôi nổi, hào hoa, nơi cả gia tộc thành đạt hiển vinh vi Lê triều, rồi nhớ đến Đoàn  thê với bao kỷ niệm vui buồn nữa. Ở Vọng Giang Đình nhìn ra Nguyễn như thấy lại cảnh cha mình trở về làng với Thuyền lướt sóng in rồng đậu/ Tàn quý chen mây ngỡ hạc bay. đây Nguyễn thấy mình không bị ràng buộc bi cân đai áo mũ triều đình,  chỉ còn là Nguyễn với sông nước mênh mang, cảm hng cứ dào dạt, trong lòng sảng khoái lạ. Bao giờ cũng vậy, sống cùng thiên nhiên hùng vĩ, Nguyễn thấy lòng mình phấn chấn, viết được nhiều thơ hơn. Lần đi sứ Trung Hoa, không còn thế lc nào bó buộc, hòa cùng thiên nhiên Trung Hoa hùng vĩ, thi hứng luôn trào dâng, chỉ trong mười ba tháng đã viết được một trăm ba mốt bài, cũng là những bài đắc ý nhất đi Nguyn. Trong khi đó làm quan ở Bắc thành hơn hai năm chỉ viết được mười bảy bài, bảy năm làm quan ở Phú Xuân và Quảng Bình ch viết được ba mươi chín bài. Quyết viết Đoạn trường tân thanh - gửi gắm lớn của đời mình, Nguyn quyết dựng bằng được Vọng Giang Đình như bao năm hằng mong.

 

Giờ đây, mong ước đã thàiửi, Vọng Giang Đình đã đứng bên bờ sông Lam, sáng sáng chiều chiều hay lúc trăng lên, ngồi ờ đấy nhìn sông nước êm ả trong xanh, nghe gió rì rào qua rặng tre, Nguyễn lại thấy lòng dạt dào cảm xúc. Nguyễn mải miết viết.

 

(Còn nữa…)

 

  


Để gửi ý kiến nhấp vào đây

Các tin khác:
 Thú chơi tập Kiều - Lá đơn thưa kiện của hai cô đầu (16h: 02-12-2010)
 Thú chơi tập Kiều - Vọng quê (16h: 03-12-2010)
 Thú chơi tập Kiều (16h: 02-12-2010)
 Tập Kiều khuyết danh – Tiễn biệt và mừng tái ngộ (14h: 13-12-2010)