Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
 Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
Tết xưa
 
(02h: 24-01-2012)
Tết xưaBài và ảnh của Phlanhoa


Luật lệ là do bà ngoại tôi đặt ra ¹. Năm nào cũng vậy, cứ hễ sáng 30 tết là cả nhà rộn rịp gói bánh chưng. Công việc bấn lên bởi sự lăng xăng của những đứa trẻ chúng tôi. Chừng đến giờ ngọ là phải xong, để bắt đầu nấu. Nồi bánh chưng được đun trong mười tiếng. Anh cả là người được giao nhiệm vụ giữ lửa cháy cho đều, thêm nước vào nồi cho bánh luôn luôn chìm xuống. Nhưng anh cả thật hên, vì nhiệm vụ đó lũ em út chúng tôi đứa nào cũng ham, nên tình nguyện làm đệ tử một cách nhiệt tình, bởi vì chúng tôi mong đợi giây phút cái bánh “đầu đày” ² được vớt ra lắm lắm.

Đến khoảng 8h tối, bà ngoại tập trung hết cả đại gia đình, gồm có ba mẹ tôi, cậu, dì, và lũ cháu chắt ngồi hết lại quanh nồi bánh chưng. Bên ánh lửa hồng, bà bắt đầu kiểm điểm, đánh giá ưu khuyết điểm từng người trong suốt một năm qua. Ai có thành tích thì bà khen, ai có khuyết điểm thì bà bắt đứng lên nhận khuyết điểm và hứa khắc phục sửa chữa. Kể cả ba tôi dù là con rể và lúc đó đã là một cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh cũng phải chịu phạt như chúng tôi. Không những thế, năm nào ba cũng bị bà phạt đứng lâu hơn chúng tôi.

 

Tôi nhớ một lần, ba bị bà phê bình, bởi vì trong năm đó ba có một vụ trêu chọc một người bạn của ba, chú ấy đã lớn tuổi mà chưa có vợ, ba lừa chú ấy ra đứng cột đèn chờ để ba đưa người đến làm mai, chú ấy tưởng thật nên đã chờ những hơn hai tiếng đồng hồ. Bà ngoại cho rằng như thế là ác, nên bà phạt ba đứng nghiêm 15 phút và nói 15 lần “Xin hứa năm mới không tái phạm”.

 

Vào năm ba hy sinh, đêm ba mươi đó, bà cũng họp tổng kết gia đình như thường lệ. Sau rốt bà nhìn vào ngọn lửa và nói một mình: “- Thằng con rể, mày có về thăm mẹ, thăm vợ con, quanh quẩn đâu đây thì hãy nghe mẹ xử phạt mày đây. Tội của mày năm nay to quá, mẹ già chưa đi mà mày đã bỏ đi trước rồi!”. Chúng tôi cũng lặng im sau câu nói đó, bà nhô người với tay đẩy que củi vào bếp, tiềng lửa xèo xèo, nhìn qua ánh lửa, chúng tôi hiểu ra, tiếng xèo xèo ấy là do nước mắt của bà nhỏ giọt xuống. Đó có lẽ là đêm giao thừa buồn đầu tiên của những đứa con từng được sinh ra trong hạnh phúc gia đình….

 

Nhà tôi cũng có cây đào trước sân, nhưng chỉ là trồng theo kiểu tự nhiên mặc kệ thời tiết, nên mỗi năm chỉ lác đác vài bông lúc nở sớm, lúc nở muộn. Năm nào tết đến rồi mà hoa đào còn chưa nở, dì tôi và chị cả lại lấy giấy hồng và giấy vàng cắt thành những bông hoa giống như hoa đào rồi dính hạt cơm nếp vào phía sau để dán lên trên cây cho giống như hoa đào đã nở đầy. Đến đêm sương xuống làm bong hạt cơm ra, hoa rơi xuống gốc nhìn cũng giống như là cánh hoa đào rụng trong gió xuân vậy. Dì và chị cả còn cắt những chùm tua rua ngũ sắc treo lên cây đào, bà ngoại nói là để xua tà ma không vào được trong nhà gây xúi quẩy trong năm mới. Một băng pháo tép Bình Đà nhỏ như con ruồi và ngắn khoảng nửa mét mua theo “phiếu cung cấp” ³ tại cửa hàng bách hóa, cũng được treo lên để chờ đón giao thừa.

 

Với những đứa trẻ con, việc chờ đợi pháo nổ dòn để sau đó tranh nhau nhặt những tép pháo chưa nổ còn sót lại là một trò chơi hết sức thú vị. Tiếng pháo lẻ nổ đì đẹt trong ba ngày đầu năm mới cũng là một nét ấn tượng đáng kể của “tết xưa”. Nhưng chúng tôi không chỉ chờ mấy cái pháo lép nhặt được không thôi, tự chế pháo còn thú vị hơn nhiều. Chúng tôi đứa nào mà chả có một ống binh bằng tre đựng tiền mừng tuổi từ năm trước. Khoảng trước tết, chúng tôi chẻ ống binh đếm xem mình tiết kiệm được bao nhiêu, rồi sau đó trả hết cho mẹ để chung vào mua áo mới. Chỉ xin mẹ hai đồng năm xu để mua hai hộp diêm làm pháo tự chế. Để có pháo nổ, mỗi đứa đều chuẩn bị sẵn hai khúc cây dạng như hai cái dùi cui và một que nhỏ để làm nòng pháo, một khúc cây được dùi sẵn một lỗ nhỏ, cái còn lại dùng để đập. Việc làm pháo đơn giản và dễ dàng lắm, chỉ cần tút vài cái đầu diêm sinh cho vào lỗ, xé một miếng vỏ nơi dùng để quẹt diêm đậy lên, cắm nòng pháo cho chắc vào, đập một cái thật mạnh là nổ thôi mà. Để thi thố xem pháo của ai nổ to hơn, chúng tôi xếp pháo thành hàng. Một đứa làm trọng tài (sẽ hoành tráng hơn, nếu chúng tôi tuyển mộ được trọng tài là là một cụ ông, hoặc một chú bộ đội).  Trọng tài đến từng vị trí của những “khẩu pháo”, đứng nghiêm rồi hô “hai ba !”, đứa có pháo phải nện chày xuống cho pháo nổ, pháo đứa nào kêu to nhất thì thắng cuộc.

 

“Tết xưa” của quê tôi không có hoa tươi, các nhà đều chưng hoa giấy. Tôi thích lắm nếu được theo mẹ đi chợ Tỉnh ngày tết. Vì lúc đó hoa giấy bày bán đầy với đủ loại hồng, mai, đào, cúc …khoe sắc như thật ở hai đầu cổng chợ. Con gái của thời xưa cũng siêng năng cần cù lắm. Dì và hai chị gái tôi năm nào cũng trổ tài làm hoa giấy. Những tờ giấy pơ-luya mỏng tang được đem nhuộm đủ màu. Những chiếc là mít vàng được dì tôi ngâm vào nước vo gạo cả tháng cho nẫu hết phần thịt, chỉ trơ lại phần gọng, đem rửa sạch rồi nhuộm xanh. Những chiếc gọng lá sau khi nhuộm xanh thì trong veo nhìn rất mê. Đúng là phụ nữ ngày xưa có khác, để làm được một bình hoa giấy chơi tết phải nói là rất kỳ công, tốn khá nhiều thơi gian. Nhiều khi dì và chị chỉ làm tranh thủ buổi đêm dưới ánh đèn dầu lờ mờ, nhưng xem ra họ rất say mê và tự hào với công việc tỉ mẩn đó.

 

Tết thì phải diện áo mới, với bé gái như tôi thì đó là một sự háo hức vô cùng, từ sau giao thừa đã là thấp thỏm khó ngủ vì chờ đợi rồi. Có lẽ cả năm trời, mùng một tết là ngày mà trẻ con tự giác dậy sớm nhất mà không cần đến sự nhắc nhở của người lớn, bởi vì bao nhiêu niềm báo tin vui đang chờ chúng ngay khi trời vừa rạng sáng. Nào là được diện áo mới thơm phức mùi vải, nào là được tiền mừng tuổi, được ăn bánh mứt vv…

 

Với lũ trẻ bây giờ thì chuyện được ăn bánh kẹo là bình thường, chứ thời chúng tôi, chỉ có đại lễ thì người lớn mới chịu phung phí tiền bạc mua cho mà ăn, cho nên phải tranh thủ cơ hội mới được. Cũng chẳng có nhiều mà ăn thả cửa đâu, vài gói mứt lạc, vài cái bánh la-vê được mua phân phối ở cửa hàng bách hóa. Ngoài ra mẹ tôi có đảo vài mẻ mứt gừng và cà rốt, mà ở thời đó chỉ có đường hoa mơ cho nên mứt làm ra cứ gọi là đen thùi lụi, nhưng không sao cả, được ăn đã là ngon lắm rồi, so với những đứa trẻ khác trong thôn thì có nhiều nhà còn không có nổi ký đường để làm mứt đâu, cho nên tôi mới nói chúng tôi được sinh ra trong sung sướng là vậy.

 

Chè bà cốt và bánh ngào lại khác, nó là hai thứ đại lễ dùng để thắp hương. Ngay tại đêm giao thừa, chúng tôi mỗi đứa được một đọi chè và một viên bánh ngào. Còn lại phải hết mùng hai, sang mùng ba bà ngoại mới cho phép ăn.

 

Nói là nói vậy, nhưng với bé gái như tôi thì ăn không khoái bằng chuyện được mặc áo mới. Tôi thích nhất là áo hoa, mà đặc biệt là áo hoa màu hồng cánh đào. Chúng tôi là con em cán bộ công nhân viên nên tiêu chuẩn mỗi năm được mua bốn mét vải với giá cung cấp. Mẹ tôi đã mua và may sẵn cho con cái từ trong năm, nhưng phải cất dành đến mùng một tết mới đem ra. Tôi được mặc một cái quần láng Phát Đạt đen bóng và một chiếc áo hoa nền hồng hoa đỏ, lá xanh, đại để là rất sặc sỡ. Có miêu tả cho nhiều vào, thì các bạn thời bây giờ cũng không thể tưởng tượng nổi mùi vải bông mới nó ngất ngây thế nào với chúng tôi lúc đó đâu, nó mê hoặc kinh khủng lắm!

 

Con gái thì thích chưng diện, thích khoe với nhau áo đẹp. Tết ở quê tôi thương mưa phùn và rét, nhưng bọn con gái hầu như đứa nào cũng không muốn mặc áo bông vào cho ấm, bởi vì nếu mặc áo bông thì chằng ai nhìn thấy cái áo hoa mới toanh của mình cả. Có chăng chỉ là mặc một cái áo len chui đầu không tay, hay một cái áo bông trấn thủ (loại áo mà các chú bộ đội điện biên vẫn mặc trong chiến dịch Tây Bắc đó, bạn xem phim “Hoa ban đỏ” thì biết liền à), do đó mốt áo len ba lỗ cũng là thời trang ngày tết của bọn con gái.

 

Với những đứa con trai thì áo kẻ ca rô nhiều sắc màu và quần ka ki xanh được cho là bảnh nhất thời đó. Các thanh nữ thì mốt nhất vẫn là quần lụa sa tanh đen và áo pô-pơ-lin chiết li hồng, xanh, lơ…nhưng thời đó người ta ưa chuộng nhất là màu hoàng yến, hay còn gọi là màu mỡ gà. Những cô thôn nữ với hai bím tóc đuôi sam thả dài, quần sa tanh đen, áo pô-pơ-lin chiết eo, má ửng hồng trong gió rét chẳng phải đã làm tốn hàng đống giấy mực của các nhà văn, nhà thơ thời đó hay sao?

 

Mẹ tôi và dì tôi thường ngày mê áo lụa đen, vì họ vốn có lợi thế về cái dáng lưng ong thắt đáy và nước da trắng. Nhưng đến tết thì họ cũng chưng diện mốt áo màu hoàng yến, thật ra là do ba tôi thích phụ nữ mặc áo màu đó (đàn ông thời đó hầu như ai cũng thích phụ nữ mặc áo màu đó), nên đã mua sẵn thứ vải đó cho mẹ với dì từ trước. Đàn bà con gái trong gia đình tôi hầu như đều ăn mặc theo ý thích của ba tôi. Anh cả tôi tị “Công nhận ba sướng thật, ai cũng chiều ba hết!”. Riêng tôi là con gái út, thì ba làm ngược lại, ba mua theo ý thích của tôi hơn là ý thích của ba…

 

Tết thì trẻ con đương nhiên được người lớn mừng tuổi rồi, tục lệ mà. Nhưng thời chúng tôi, người lớn không có nhiều tiền đâu, trẻ con cũng được giáo dục để quen với cuộc sống tinh thần là chủ yếu, nên khi được mừng tuổi cũng mừng, nhưng hầu như không đứa nào tiêu mất cắc nào cả, hết tết là cho vào ống binh hoặc trả cho cha mẹ. Những đồng xu màu trắng, có một lỗ tròn ở giữa, một mặt in hình bông lúa, mặt còn lại in hình Bác Hồ. Người lớn lì xì cho chúng tôi nhiều thì một đồng năm xu, ít thì một đồng hai xu (hai đồng năm xu thì mua được một ổ bánh mì thời bấy giờ). Chúng tôi dùng dây cước xâu những đồng xu lại thành chuỗi, bọn con trai thì ngoắc vào thắt lưng quần, thỉnh thoảng lại lắc rủng rẻng để khoe với đứa khác rằng tao đây có nhiều tiền mừng tuổi hơn mày nhá. Con gái thì đeo vào cổ tay như là đeo vòng trang sức.

 

Đồng xu mừng tuổi còn được bọn con trai đem ra đánh đáo, bọn họ lấy vỏ thiếc của hộp kem đánh răng cho vào nồi nấu chảy rồi khoét một lỗ hình lòng chảo dưới đất, đổ nồi thiếc nung chảy vào đó, đợi cho nguội thì được một cục thiếc hình chảo cứng và nặng chì, cục thiếc đó gọi là viên đáo. Trò chơi cũng đơn giản, mỗi đứa góp vào một đồng năm xu, vạch hai đường ngang trên mặt đất cách nhau khoảng 4 – 6 mét. Lần lượt từng đứa đứng ở vạch thứ nhất, tung đồng xu phải vượt qua vạch thứ hai, sau đó dùng viên đáo để liệng làm sao cho bay được đồng xu ra khỏi vị trí ban đầu thì coi như thắng được đồng xu đó. Tung đồng xu cũng phải có kinh nghiệm, nếu đồng xu rơi chụm vào một chỗ thì khi liệng đáo, bạn có thể đánh bay được một lúc hai ba đồng xu chứ chẳng chơi. Đứa đánh giỏi có thể ăn được của đứa khác khá nhiều tiền, thậm chí có đứa bị thua sạch không còn xu nào, hết tết coi như trắng tay.

 

Con gái thì không chơi trò ăn tiền đó, mà chủ yếu chỉ là tụm nhau chơi trò “ô ăn quan”. Quả sầu đâu (xoan) được trưng dụng đắc lực trong cho chơi này.

 

“Tôn sư trọng đạo” thời “Tết xưa” rất được coi trọng. Chúng tôi xin cha mẹ mỗi đứa dăm hào bạc, khoảng chín mười đứa dồn lại rồi mua vài gói kẹo, bánh và một chai rượu nút lá chuối, bỏ hết vào một cái túi vải và rồng rắn “xe đạp ơi” đến nhà thầy cô từ chiều mùng một, chứ không đời đến “mùng ba mới tết thấy” đâu. Đi chúc tết thầy cô cũng là một nét văn hóa đáng kể của “tết xưa” lắm. Tôi nhớ khoảng những năm học cấp 3, gia đình thấy tôi ở mãi Thạch Khê, cách nhà chúng tôi khoảng mười mấy cây số, mưa dầm đường trơn, lại là lũ xếp hạng ba sau ma với quỷ nên trơn trượt thì đã đành, xô nhau té ngã cũng dăm bảy bận mới đến được nhà thầy, đến rồi thì không dàm vào nhà ngồi vì đứa nào cũng bẩn giống ma lem cả. Còn thầy thi luôn có câu nạt yêu học trò “Mưa gió ra rứa, ai nhủ bay đến mần chi cho bổ nhớp hết trơn cả lũ!”. ..

 

Bây giờ quay lại chuyện nồi bánh chưng. Thì rõ ràng là bánh chưng thật 100%, nhưng ngày đó dân nghèo nên ít thịt lắm, mỗi chiếc bánh chưng chỉ có một lát thịt mỏng như tờ giấy, thậm chí nhiều nhà chỉ có đỗ với nếp, mà có khi còn tệ hơn nữa có nhà nếp không đủ phải độn thêm ít gạo tẻ loại dẻo để cho có bánh chưng gọi là cho con trẻ khỏi suy bì với con nhà hàng xóm. Ba cân gạo nếp, một cân đậu xanh, ba lạng thịt ba chỉ khéo gói thì ra tám cái bánh chưng. Chúng tôi được bóc một cái vào đêm giao thừa, còn lại thì còn khách khứa biếu xén họ hàng, may ra đến lúc hết tết thì được bóc cái cuối cùng. Một cái bánh chưng cho cả nhà thì mỗi người chỉ được một miếng nhỏ. Bởi vì nó nhỏ nên bánh chưng của “tết xưa” sao mà ngon hơn “tết nay” nhiều lắm!

 

Món ăn ngày tết của người Hà Tĩnh, không hoàn toàn là “thịt mỡ, dưa hành…” mà là “Thịt kho riềng, dưa kiệu, câu đối đỏ” thì phải hơn. Dưa món của người Hà Tĩnh ngoài củ hành còn có củ kiệu, bà con không đem ngâm dấm chua ngọt như trong miền Nam, mà muối chung với su hào, củ cải, và cà rốt thành dưa món.

 

Thịt kho riềng thì bây giờ tôi hướng dẫn bà con làm bằng móng giò cho dòn ngon, chứ thực ra hồi đó mẹ tôi nấu bằng thịt thủ, mà phải thân thiết cô bán hàng ở cửa hàng thực phẩm lắm mới có thể được đổi từ thịt mông sang thịt thủ đấy. Bởi vì theo quy định, một cân tem phiếu thực thẩm, nếu mua thịt mông thì được một cân y, nhưng nếu chọn thủ heo cả xương lẫn thịt thì được quy thành hai cân. Mẹ tôi bảo rằng mua cái thủ không chỉ được gấp đôi mà còn chế được nhiêu món hơn vì nó có cái lưỡi, cái tai đi kèm. Tem phiếu mấy tháng trời dồn lại của cả nhà cũng mua được một cái thủ heo và mấy lạng lòng già với cục tiết và vài cái dẻ sườn trơ ngoắc.

 

Với tài nghệ của mẹ tôi, cái thủ heo có thể biến thành năm sáu món khác nhau. Phần mỡ thì làm thịt kho tàu, phần tai và mui thì bó gió thủ, làng nhàng còn lại thì nấu thịt kho riềng, cái lưỡi heo thì hầu như chỉ để dành cho hai nhân vật có uy vũ nhất trong nhà là ba và bà ngoại, xương thì nấu măng miến.

 

Lúc đó tôi thật không hiểu sao người lớn chỉ thích ăn riềng? Mang tiếng là thịt kho riềng, nhưng thực chất thì ba phần tư là riềng, nên khi ngồi vào mâm cỗ, chỉ có trẻ con là khoái thịt, còn người lớn chỉ gắp riềng để ăn. Mãi sau này lớn lên, tôi mới hiểu vị cay bùi của củ riềng ngon là còn bởi thấm cả nỗi nghèo hèn của con người.

 

Cái dẻ sườn được mẹ băm nhuyễn, còn trộn thêm một ít lạc nhân, gia vị mắm muối, tiêu cay, rồi thêm chút bột mì, vo viên lại và đem rán hoặc kho, cũng có lúc  mẹ nấu đông bằng chính viên mọc sườn đó.

 

Bạn có biết tại sao mẹ tôi chọn mua lòng già cho ngày tết không? Ấy là để làm dồi đấy, dồi chẳng có thịt đâu, chỉ có tiết, lạc rang giã dập với một ít rau thơm băm nhuyễn nhồi vào, hấp chín. Sau đó khoanh tròn cả cái dồi dài vào trong niêu đất, cho vào một cái dóng nhỏ, treo lủng lẳng dưới chạn bếp, thứ đó dành cho người lớn đàn ông nhắm rượu.

 

Cái gì ít cũng ngon hơn là nhiều, nghe tôi kể thì bạn cũng tưởng tượng được là để cho cả nhà có cảm giác được no say thịt cá trong ba ngày tết, người nội trợ của “tết xưa” đã phải trổ tài hết mức để pha chế. Tôi dám cá là thời đó, chỉ với một lạng thịt, bà con có thể làm được tới hai mươi cái nem rán.

 

Bánh ngào theo công thức cổ truyền thì phải làm bằng bột nếp. Nhưng vào thời kỳ “tất cả cho tiền tuyến” đó, mười cân lương thực thì độn mất khỏang 40% là bột mì, hạt bo bo, khoai, sắn vv… cho nên bột mì và bột sắn khô được trưng dụng để làm bánh ngào thay cho bột nếp hiếm hoi. Tất nhiên là không chuẩn bằng bột nếp rồi, nhưng như tôi đã nói, mỗi đứa chỉ được một viên thôi thì có trộn thêm đất cũng ngon nữa là!

 

Có một vài loại bánh được nhân dân chế tác thủ công từ bột mì thay cho bánh kẹo mua trong bách hóa, đơn giản chỉ là nhồi bột cho kỹ rồi cán mỏng, cắt thành miếng hình tròn, hình vuông, đem rán vàng rồi ngào đường cho ngọt, vậy thôi chớ mà ngon lắm.

 

Chuyện của tết xưa kể mãi không hết được, thôi thì tôi cứ tạm dừng ở đây, còn dành văn chương mà đàm đạo về cái “tết nay”, nỏ rồi bà con lại bảo tôi cứ hoài cổ mà chẳng chịu tân thời. Với cả lại tết nay cũng có nhiều cái để nói lắm. hôm nay tôi mới đi hội hoa xuân về, để mai thong thả ngày xuân, tôi kể bà con nghe chuyện tết nay nhà tôi nhá…

 

======

¹ Do ông bà nội tôi mất sớm nên ba tôi lấy vợ và ở rể nhà ngoại

² Cái bánh nhỏ sau cùng làm bằngnguyên liệu vét quê tôi gọi là “đầuđày”

 

³ Các hộ phi sản xuất. gia đình CBCNVC thời đó được phát tem phiếu để mua lương thực, thực phẩm theo tiêu chuẩn phân phối gọi là “phiếu cung cấp”

 

 

                    

Ý kiến bạn đọc:
Nguyễn Yến Hoa

Cháu sinh sau đẻ muộn. Khi lớn lên Tết cũng đã khác rồi không thể hiểu hết được cái Tết xưa. Nhưng đọc bài viết hiểu được phần nào không khí Tết xưa mới vui và ý nghĩa làm sao. Đọc bài để biết giữ gìn hơn cho không khí tết nay

Phlanhoa phản hồi

Cám ơn cháu đã đọc. Chúc năm mới an lành, mọi điều may mắn.


Để gửi ý kiến nhấp vào đây