Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
Nguyễn Du đã viết Truyện Kiều như thế nào (tiếp theo)
 
(16h: 20-02-2012)
Trích tiểu thuyết lịch sử "Nguyễn Du" của tác giả Nguyễn Thế Quang
Phân đoạn "Đoạn trường tân thanh" chương III


Trời đã xế chiều, nắng tháng chín vẫn ửng trên dòng Lam, Nguyễn Hành đứng lặng trên bến Giang Đình. Lâu lắm rồi, chàng mới trở về quê cha. Nhận được thư của Nguyễn Thiện cho biết chú Bảy về quê nghỉ sáu tháng, đang viết truyện thơ hay lắm, liên vội vàng về. Vẫn biết chú mình là người tài ba hiếm có, nhưngkhi đọc những trang bản thảo đầu tiên của Đoạn trường tân thanh, Hành không ngờ lại tuyệt diệu đến như vậy. Không làm quan, không đi cày, chỉ có uống rượu và làm thơ, thơ Hành nhiều người cho là vô địch, nhưng so với chú, Hành chưa là gì cả. Thơ đường luật chú đã hay, thơ lục bát chú càng hay. Hành không dám làm thơ lục bát, dễ làm nhưng khó khá, lại càng khó hay. Đọc Đoạn trường tân thanh của chú, Hành sững sờ: lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu mà chứa đựng bao nhiêu là cung bậc nỗi lòng của bao người, của người viết, lúc hả hê sảng khoái, lúc lại như có máu chảy đầu ngọn bút. Đêm nay, ngày Tết Trùng Cửu, chú Nhưng và anh em Hành đã xin chú làm một đêm thơ ở Vọng Giang Đình.

Đứng bên bến Giang Đình nhìn xuống, dòng sông Lam lấp lánh càng về xuôi càng mở rộng đến tận cửa Hội Thống. Vọng Giàng đình hình lục giác với chóp tròn đứng cạnh bến, in lên dòng sông gợi nhớ một miền bồng lai non nước hữu tình. Luỹ tre làng ôm lấy vọng Giang Đình làm nên cảnh sắc một miền quê cổ tích. Cảnh thế này ai chẳng động lòng mà nảy ra thi tứ. Thiện và Hành mang mấy chiếc ghế dài đặt hai bên bàn. Chiếc ghế tựa đầu bàn vẫn để nguyên. Hành nói với anh:

 

-         Không ai được ngồi vào đây. Và cũng không ai thay được chú Nguyễn trong cõi người này.

 

Rồi Hành kể lại những ngày chú sống ở Thái Bình, đói rét phải ăn nhờ hết miền sông lại miền biển. Nhớ đến bài  Trệ khách, Hành nói với Thiện:

 

-         Khi nói về tâm trạng cô đơn của mình, chú Bảy viết: Quy hồng bi động thiên hà thuỷ/ Thú cổ hàn xâm hạ dạ phong (Tiếng chim hồng cô độc vang động đến đến sông Ngân/ Tiếng trống canh làm lạnh cả đêm hè), thì em thật bàng hoàng. Mượn âm thanh ngoại cảnh để diễn tả lòng mình, tình người lay động cả vũ trụ, biến đổi cả khí trời. Em chưa thấy ai tả tình hay đến thế. Thơ Đỗ Phủ tầng tầng lớp lớp ý, thơ chú Bảy trùng trùng hữu cảm.

 

Thiện nói với em:

-         Về đây, xin chú cho xem những bài viết trong chuyến đi sứ vừa rồi, còn có nhiều điều em còn phải ngạc nhiên nữa.

 

Trời vừa tối nhưng trăng thượng tuần đã sáng, Nguyễn, chú Nhưng, anh em Thiện, thầy đồ Nghĩa và mấy người Làng đã có mặt ở Vọng Giang Đình. Bao nhiêu năm rồi, bây giờ chú cháu, anh em mới có dịp được ngồi với nhau trên mảnh đất quê nhà. Hai be rượu, hai đĩa lạc rang, hai dãy chén bày sẵn trên bàn.

 

Rượu đã rót, Nguyễn nâng chén:

 

-         Trải qua ba triều đại, bao cảnh bể dâu dâu bể, bây giờ anh em chú cháu mình mới được gặp nhau tại quê nhà cùng bà con làng xóm. Chỉ có chén rượu nhạt, kính mời thầy và anh em ta nâng chén mừng cuộc hội ngộ hiếm có này.

 

Mọi người đứng lên nâng cốc, chúc nhau mạnh khoẻ. Nhưng rót rượu đầy chén, nâng lên nói:

 

-         Em và các cháu rất mừng là bác Bảy bình an trên đường hoan lộ. Nhà ta vốn dòng “Dịch thế thư hương”, chúc bác viết được nhiều thơ hay cho bà con đọc, giữ được nếp nhà.

 

Nguyễn mỉm cười:

 

-         Làm quan nhiều điều lo nghĩ mà cũng lắm điều đắng cay. Luôn nghĩ đến quê hương, làng xóm, nghĩ đến gia tộc, tôi luôn giữ mình làm tròn bổn phận để về đây không xấu hổ với làng xóm, không thẹn với cha ông. Đêm nay tiết Trùng Cửu, chúng ta đọc thơ bày tỏ nỗi lòng mình cho bà con cùng nghe.

 

Nói đến đây, Nguyễn nhìn Hành:

 

-         Cháu Đạm (tên thường ngày của Hành) xa quê lâu ngày mới về, ta nhường cháu đọc trước.

 

Hành nhìn Thiện như muốn để anh đọc trước. Hiểu ý, Thiện lắc đầu. Hành nhìn chú Nhưng rồi nhìn chú Nguyễn gươngmặt thanh thản đang nhìn mình như khuyến khích, xúc động nói:

 

-         Thưa hai chú, thư anh, thưa các bác trong làng. Cháu là đứa con bất tài, bất lực, hai mươi lăm năm rồi mới trở về quê nhà, xin nhận tội là đứa con bất hiếu. Nhiều khi muốn về nhưng rất ngại…Về đây được làng xóm quý mến, được sống trong tình cảm sâu nặng của gia tộc, cháu thật mừng. Mừng nhất là chú Bảy thoái quan về lại phải ra làm quan, mưới ba năm phải đi trên đường chông gai, nhiều điều ô trọc mà chú vẫn Thả hỷ tu mi bất nhiễm trần (Mày râu không nhuốm bụi trần). Cho cháu được nâng chén chúc mừng và bái phục chú. Chúc chú Nhưng Luỹ thế y nhân công dĩ tích cho con cháu ngày càng thịnh. Chúc bà con xóm làng mạnh khoẻ, no ấm.

 

Hành nhìn mọi người, nhìn chú Nguyễn: mái tóc bạc phơ mà gươngmặt thanh thản lạ. Chưa bao giờ Hành thấy chú vui thế này, bèn nói:

 

-         Các cháu muốn nghe thơ của chú trước, nhưng chú đã bảo thì cháu xin đọc.

 

Hành nhìn ra dòng sông: hơn nửa vầng trăng lơ lửng trên cao toả ánh vàng xuống mặt sông mênh mông đầy sương. Một chiếc thuyền trôi xuôi mờ mờ, chỉ thấy chấm đèn đỏ như đang đi vào cõi mộng, bèn nói:

 

-         Trăng khuyết rồi trăng tròn, tròn rồi khuyết. Hôm nay được tắm trăng quê, bao năm nhìn trăng đất người, cháu xin đọc bài Minh nguyệt thiên cháu làm năm trước lúc ngắm trăng đất Bắc.

 

Hành đọc giọng đầy xúc động:

 

Trăng sáng từ đâu tới?

Trăng sáng từ quê nhà.

Khi còn ở cố hương,

Đã say ngắm trăng này.

 

Nay trăng sáng trở lại

Còn quê nhà xa vời…

Nhớ quê ngắm trăng sáng,

Trăng có khuyết, lòng nhớ quê không bao giờ vơi…

 

Nhưng vỗ tay: “Hay!”. Nguyễn nhẹ nhàng: “Tứ khéo, tình sâu.” Thiện mỉm cười. Hành nói:

 

-         Lâu ngày mới gặp chú, chú vừa đi Bắc quốc về, xin cho chúng cháu nghe chuyện nước Tàu, nghe thơ chú.

 

Nguyễn đứng dậy, nhìn mọi người:

 

-         Đoàn sứ bộ qua cửa Nam quan ngày sáu tháng tư năm quý Dậu (1813), đầu màu hè đến cuối thu tới Bắc Kinh, đầu đông trở về và cuối tháng ba Giáp Tuất (1814) về đến nước nhà. Như vậy đi qua nhiều nơi của Trung Hoa, ngắm được cảnh sắc nhiều miền, đủ cả bốn mùa xuân hạ thu đông, dừng lại ở nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều người, chứng kiến nhiều cảnh ngộ, mới hay thiên nhiên Trung Hoa cẩm tú, nhưng thiên triều mẫu mực văn hoá dân chúng vẫn rất khổ, quan lại vẫn hết sức tham tàn, cõi người vẫn lắm đau thương.

 

Mọi người vừa tò mò, vưa ngạc nhiên. Nguyễn đọc cho họ nghe Thái bình mạc giả ca, Sở kiến hành. Xung quanh lặng đi, Nguyễn nói:

 

-         Ra Thăng Long, gặp lại cô Cầm tiều tuỵ, sang Trung Hoa gặp lão mù hát rong khốn khổ, thấy người mẹ bốn con sắp chết đói, đâu đâu trên trái đất này vẫn còn nhiều người khổ, mà phụ nữ càng khổ.

 

Không muốn để đêm thơ buồn, Nguyễn lên tiếng:

 

-         Thưa chú, em Hành vừa có bài thơ trăng. Xin chú cho chúng cháu nghe một bài thơ trăng của chú.

 

Nguyễn lại rót rượu: “Mọi người nâng chén đi. Nguyệt phải đi với tửu, tửu có vào, nguyệt mới xuất được”. Mọi người vui vẻ cạn chén. Trăng mồng chín đã xế, chiếu sáng vọng Giang Đình. Thiện nhìn ánh trăng soi sáng mái tóc bạc trên đầu Nguyễn, khuôn mặt chú dưới ánh trăng ửng hồng trông đẹp như một tiên ông đạo cốt vậy. Nguyễn nói, giọng không nặng như người quê nhà mà nhẹ nhàng ấm áp:

 

-         Chú có nhiều bài thơ về trăng. Ngày chú làm quan ở Bắc Hà, chú cũng nhớ trăng quê như cháu Hành Đêm nay Ngàn Hống bóng trăng soi/ Ngàn dặm Tràng An một khúc nhôi, chú đau xót ví Ngọc mộc đã không toàn vẻ thật. Thế nhưng xa quê nhà, có trăng cũng đỡ buốn phải không cháu?

 

Nghe Nguyễn nói thế, Thiện biết là chú không muốn nói về mình. Những ngày qua đọc thơ chú, Thiện rất chú ý đến hình ảnh vầng trăng. Không có thơ hay, nhất là cạnh thơ chú, thơ em, Thiện bình thơ vậy. Thiện đứng dậy nhìn ra xung quanh. Một số người đã đến nghe tự hồi nào. Dưới sông có một bác chài cũng ghé thuyền bước lên. Dân Nghệ hình như ai cũng mê thơ. Thiện nói:

 

-         Thưa các bác, các chú. Chú Bảy làm nhiều thơ và có rất nhiều trăng. Trăng là bạn tri âm trong thơ chú. Trăng trong thơ chú xưa buồn, trăng trong chuyến đi sứ vui hơn nhưng vẫn chứa chất nhiều tâm sự. Đến Thăng Long gặp trăng sáng chú thấy đó là Thành mới, trăng xưa, bóng lững lờ/ Thăng Long đô cũ dấu còn xưa. Vì sao lại như vậy, chắc chúng ta hiểu. Sang Trung Hoa, xa nhà, lòng chú luôn nhớ về nước mình. Đến Thái Bình nhìn trăng, chú thấy: Nước sông gợn sóng, trăng sông lạnh. Với chú thời gian ở xứ người quá dài nên Núi cao, trăng mọc chậm. Khi về đến Từ Châu, mừng sắp về đến nhà, chú thấy vầng trăng từ nước Việt ta mọc lên thật đẹp: Trăng lớn Nam Quốc dọi, Trung Hoa núi non nhiều. Dù ở đâu, chú Bảy cũng nhớ về Tiên Điền: Đi đến Tiềm sơn Lộ, càng nhớ Hồng Lĩnh cao.

 

Tiếng vọ tay tán thưởng nổi lên.

Bỗng từ phía sau mấy người, một tiếng nói rành rõ vang lên:

 

-         Bác Thiện bình thơ hay quá!

 

Một người trạc ngoài ba mươi, da ngăm đen, vầng trán rộng, đôi mày rậm và đôi mắt sáng, lương quyền cao bước vào. Hành ngạc nhiên nhìn người đàn ông tướng mạo khôi nghô, còn Nguyễn và Thiện nhận ngay ra đó là Nguyễn Công Trứ - con của Hương cống Nguyễn Công Tấn ở làng dưới. thiện đứng dậy:

 

-         Chào cậu cử, mời cậu ngồi.

 

 

Nguyễn sai Hành rót rượu mời. Mọi người cùng nâng chén. Nguyễn Công Trứ nói:

 

-         xin các bác tha lỗi cho em đường đột bước vào chiếu thơ này. Em có việc đi qua, thấy đông người tưởng có đám hát, sà vào. May sao đây lại có hội thơ, thơ em không dám sánh với thơ bác Nguyễn, nhưng thấy đang bình về trăng gió, em nảy ra ý, xin đọc.

 

Mọi người vui hẳn lên. Trứ đọc, giọng vang to:

 

Chẳng lợi danh chi lại hoá hay

Chẳng ai phiền luỵ chẳng ai rầy.

Ngoài vòng cương toả chân cao thấp,

Trong thú yên hà mặt tỉnh say.

Liếc mắt coi chơi người lớn bé,

Vểnh râu bàn những chuyện xưa nay.

Của trời trăng gió kho vô tận,

Cầm, hạc tiêu dao đất nước này.

 

Trứ dừng lại: “Có chỗ nào sai xin được chỉ giáo”. Một số người biết tính cách của Trứ, vui vẻ tán thưởng. Hành tỏ vẻ khó chịu, nhìn hai chú. Nguyễn vui vẻ lấy rượu rót đầy chén, đứng dậy đến trước Trứ, đưa rượu: “Thơ cậu Trứ khoáng đạt lắm. Xin mời”.

 

Mọi người vỗ tay. Trứ đỡ lấy chén:

 

-         Được bác Bảy – Đệ nhất An Nam ngũ tuyệt khen, em xin nhận.

 

Cả hai cạn chén. Mọi người vỗ tay. Cụ đồ Nghĩa gật gù:

 

-         Vọng Giang Đình tụ hội anh tài, Mấy người này mà lập “Nghi Xuân tao đàn” thì vô địch thiên hạ.

 

Từ trong đám đông, một cụ già khăn đen, tóc bạc, áo nâu bước ra:

 

-         Thưa quan Hầu và bà con. Nghe quan Hầu và các cậu đọc thơ cũng hay, nhưng nghe nói quan có bẻ chuyện (đặt chuyện) o Kiều hay lắm. Nỏ mấy khi gặp được quan, xin cho dân làng nghe ít đoạn.

 

Nhiều tiếng hoạ theo. Đúng đó. Quan cho bà con nghe với.

Nguyễn lúng túng đứng dậy:

 

-         Thưa bà con. Đúng là tôi đang viết truyện o Kiều. Truyện này lấy ở sách bên Tàu, đời nhà Minh, nhưng tôi viết chưa xong.

 

Có tiếng ai đó: “Xin quan cứ cho nghe, được đoạn mô nghe đoạn đó”. Nguyễn bèn kể chuyện Kiều, nói qua tài sắc của chị em Thuý Kiều, kể chuyện gặp Đạm Tiên, kể chuyện Kiều sang nhà Kim Trọng…vừa kể vừa đọc. Trong đám đông có tiếng cười khúc khích, có người nói: “Thích quá”. Trăng lên cao, Nguyễn dừng lại, bà con lại giục: “Quan Hầu cứ kể đi, nỏ buôn ngủ mô. Hát phường vải còn thức được suốt sáng nữa là”. Thấy chú Bảy hơi mệt, Thiện nói:

 

-         Để cháu đọc thêm ít đoạn nữa nhé?

 

Nguyễn gật đầu. Thiện kể tóm tắt cảnh sai nha đến nhà Kiều rồi đọc:

 

Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao

Người nách thước, kẻ tay dao,

Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi…

 

Thiện dừng lại. Một người đàn ông tóc hoa râm ngồi cuối bàn nói:

 

-         Quan Hầu kể chuyện bên Tàu mà cứ như chuyện bên ta.

 

Thiện lại kể đến đoạn Kiều bán mình chuộc cha:

 

Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn,

Để lời thề hải minh sơn,

Làm con trước phải đền ơn sinh thành,

 

Cả đám đông lặng đi. Khi Thiện đọc đoạn Kiều cậy Vân thay mình kết duyên cùng Kim Trọng, đến câu Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang! / Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây, cả đám đông lặng ngắt. Có tiếng ai sụt sịt. Cậu cử Trứ chắp tay về phía Nguyễn:

 

-         Tiểu đệ bái phục, bái phục!

 

Khi cuộc thơ ngừng, cụ già hồi nãy bước lên nắm lấy tay Nguyễn:

 

-         Quan hầu bẻ thơ hay quá. Xin quan viết cho mau xong để lão được đọc. Chưa đọc hết truyện o Kiều mà chết thì tiếc quá!

 

Nguyễn quá xúc động. chưa bao giờ Nguyễn hạnh phúc như lúc này. Nguyễn nắm lấy bàn tay gầy gò của bà cụ, không nói nên lời.

 

Mọi người ra về, mấy chú cháu Nguyễn nán lại. Nguyễn Hành xúc động:

 

-         Dân quê ta tuyệt vời quá chú ạ!

 

Chú Nhưng gật gù:

 

-         Dân Nghi Xuân và cả dân Xứ Nghệ đều mê văn chương lắm.

 

Nguyễn nói với em, với cháu:

 

-         Trong đời mình, chưa có đêm nào đáng nhớ như đêm nay.

 


Để gửi ý kiến nhấp vào đây

Các tin khác:
 Nguyễn Du đã viết Truyện Kiều như thế nào (tiếp theo) (22h: 07-12-2011)
 Nguyễn Du đã viết Truyện Kiều như thế nào (15h: 29-11-2011)
 Thú chơi tập Kiều - Lá đơn thưa kiện của hai cô đầu (16h: 02-12-2010)
 Thú chơi tập Kiều - Vọng quê (16h: 03-12-2010)
 Thú chơi tập Kiều (16h: 02-12-2010)
 Tập Kiều khuyết danh – Tiễn biệt và mừng tái ngộ (14h: 13-12-2010)