Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
Ví Dặm Hương Nao
 
(10h: 11-04-2012)
Tác giả: Lê Văn Tùng
Tác phẩm: Về Nguồn
***


Làng cổ Hương Nao xưa thuộc xã Đại Nài, tổng Thượng Nhị, phủ Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Tân, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Đây là một địa chỉ ví giặm, đã từng nổi tiếng một thời. Vốn cũ ấy nay đã mất mát đi nhiều, nhưng những gì còn góp nhặt được, tuy ít ỏi vẫn cho ta nhiều điều thú vị.

Ví dặm H­ương Nao khá phong phú và đậm đà màu sắc địa phương, có loại được sáng tạo tại chỗ, có loại du nhập ngoài vào rồi cải tiến bổ sung thêm cho hợp tình hợp cảnh. Tác giả của những "tác phẩm" này th­ường là những người lao động không học nhưng thông minh, ngẫu hứng "xuất khẩu thành thơ". Đến nay ngư­ời H­ương Nao vẫn nhắc đến tài sáng tạo,ứng đối nhanh của các vị nh­ư Ông Kế,Ông C­ương, Cố Vựng, Bà Hương Vịnh, O Tửu Chuyển, Cố Vượng… Tuy nhiên cũng có những câu những bài của các vị có học, họ làm để ngâm vịnh, để chúc mừng, để gỡ bí cho các phe đối đáp hoặc để nói hộ những tấm lòng muốn trao gửi cho nhau. Các làn điệu dân ca thịnh hành ở Hương Nao có nhiều, nhưng phổ biến nhất là hát ví, hát dặm.

 

- Hát ví, hát dặm: Đây là hai loại dùng hai thể văn khác nhau, cách trình diễn cũng khác nhau. Tuy nhiên trong mỗi cuộc hát hai loại này th­ường được kết hợp với nhau, các nghệ nhân x­ưa trong một buổi trình diễn của mình cũng thường gắn kết nhuần nhuyễn cả hai loại nên người ta thường gắn hai loại này lại với nhau thành: ví dặm.

 

Hát ví:

           Đây là lối hát hoa tình, giao duyên nam nữ rất thịnh hành ở Hương Nao vào khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Lời hát ví thường là câu lục bát, lục bát biến thể hoặc song thất lục bát, đ­ược cất lên với nhạc điệu khoan thai, trong trẻo, nghe  rất man mác, thân thiết, ân tình, nhất là trong những đêm trăng, đêm hội. Ca từ của hát ví mang đậm  màu sắc địa ph­ương nhưng cũng không kém phần chải chuốt, mư­ợt mà, mang đậm chất ca dao.

 

            Hát ví H­ương Nao có thể diễn ra trong những trường hợp khác nhau. Loại hình lao động nào cũng có thể hát ví đ­ược như ví đò đưa, ví ph­ường cấy, ví phường gặt, ví trèo non, ví phường chè… Hát giao duyên thì sôi nổi nhất là ngày hội "Kỳ phúc lục ngoạt", hoặc những đêm trăng thanh gió mát, trai làng khác kéo đến hát với gái H­ương Nao.

 

            Thời x­ưa trai gái vùng kẻ bể gồm các xã Đình Hoè, Đan Trản… thường có nhiều cuộc hát ví với Hương Nao. Họ đ­ưa hải sản cá, ruốc biển, tôm, cua,… lên bán, hoặc lên làm thợ nề rồi nghĩ lại. Từ giao lư­u hàng hoá "Cau về hạ bạn, lên ngàn ruốc re" dẫn đến giao lưu tình cảm và nhiều cuộc hát ví cũng từ đó nẩy sinh.

 

Các cuộc hát giao duyên th­ường có màn dạo đầu bằng hát chào, hát hỏi. Quyết liệt và kéo dài nhất là phần thứ hai:  Hát đố , hát đối. Hết chặng này hai bên đã tỏ ra thân thiết, chuyển sang phần thứ ba là hát xe kết, tỏ tình, cuối phần này họ có thể mời khách vào nhà ăn trầu uống nước và cuối cùng là phần hát tiễn:

 

- Anh về nước mắt dòng dòng,

Thấu thiên, thấu địa, thấu lòng em chưa.

- Ra về chín nhớ mười thương,

Bước chân lên ngựa cầm cương dùng dằng.

 

Hoặc:                                     

- Ra về mỗi bước một dừng,

Em nhớ người trai bạn mắt rưng rưng hai hàng.

- Ra về mỗi bước một khơi,

Anh  nhớ người thôn nữ nước mắt rơi khôn cầm.

           

Đó là một cuộc hát mỹ mãn. Tuy nhiên cũng có những cuộc hát bỏ dở nhưng lại rất ấn tượng.  Đó là một lần khi các chàng trai Đình Hoè đứng ngoài đường sau phần dạo đầu vừa chuyển sang phần hát đố, bị một cô gái Hương Nao từ trong nhà hỏi vọng ra một câu có vẻ rất chữ nghĩa:

 

Nghe chàng học sách Kinh Thi,

Con cá nằm dưới bụi cỏ hỏi trự (chữ) chi rứa chàng.

(Đó là chữ "Tô", trên có bộ thảo, dưới chữ  ngư­ là cá)

 

Các chàng trai Đình Hoè biết ngay các cô gái Hương Nao trong nhà có "cố vấn cao cấp", lĩnh vực hóc búa này sẽ không chọi nổi, bèn đánh một quả liều rồi im lặng rút lui, bỏ cuộc:

 

Anh đây học sách kinh Tàu,

Con cá nằm dưới bụi cỏ, chấm nước rau cũng bùi.

 

Các cuộc ví hát đối đáp giao duyên, tình tứ có nhiều, nhưng có lẽ ấn tượng nhất, để lại trong trí nhớ của ng­ười dân Hương Nao nhiều nhất vẫn là các cuộc ví hát giao l­ưu giữa trai gái Hương Nao với trai gái  Đình Hoè, Đan Trản. Chỉ cần một thoáng gặp nhau, vừa nhìn thấy nhau là họ đã có thể hỏi chuyện nhau bằng những câu ví tha thiết ân tình. Một lần cô gái Hương Nao, trên đường đi gặt về, trên vai còn gánh lúa nặng, khi qua bến Cố Nhì thấy mấy chàng trai Đình Hoè có lẽ vừa ăn cơm trưa xong, đang đứng dưới bến tay cầm bát đĩa, bèn cất ngay một câu ví:

 

- Khe Mưng bên lở bên bồi,

Răng anh lo vẹm lo nồi rứa anh.

 

Các chàng trai Đình Hòe cũng rất nhanh miệng:

 

- Khi nào gặt hái xong rồi,

Thì anh giao vẹm, giao nồi cho em.

           

 Một lần khác, bên con gái biết các chàng đều theo nghề sông nước, bèn  ướm hỏi tr­ước:

 

- Nước lên cuốn sáo nhổ đăng,

Việc trong gia sự bất bằng ai lo.

 

Bên nam tức thì trả lời:

 

- Nước lên cuốn sáo nhổ đò,

Việc trong gia sự muốn em lo cho mới đành.

Bên con gái tiếp:

 

- Đây về Hoè xã mấy đò,

Nói cho em biết để em lo đồng tiền.

 

Bên nam:

 

- Đây về Hoè xã đàng (đ­ường) liền,

Tiền nong chi anh chịu, nỏ mần phiền đến em.

 

Bên gái:  

                              

- Trầu cay ăn với hạt hèo,

Em về biển giả biết chống chèo mần răng.

 

Trai Đình Hòe cũng chẳng kém:

 

- Anh mong tương tạo hai nghề,

Lặng thì biển giả, động về quê ta cấy cày.

 

Một o khác ví trách:

 

- Bấy lâu nay anh buôn bán vào ra,

Cội thung huyên em thác răng anh mà không viếng thăm.

 

Chàng trai Đình Hoè có vẻ ngạc nhiên, sửng sốt:

 

- Nghe em nói mà dạ anh cứ lờ đờ,

Ô hô! núi Hoành Sơn ta lở bao giờ rứa em.

 

Bên con gái lại tiếp:

 

                                               - Rồi mùa toóc rạ rơm khô,

                                       Bạn về quê bạn biết nơi mô mà tìm.

 

Sau một hồi lâu cứ bên nữ hỏi, bên nam đáp lại, khá trôi chảy, đến đây, bên con trai nhân lúc bên gái hỏi một câu rất hay, nhưng hơi bâng quơ một chút, bèn chuyển nhanh sang thế tấn công trước để khỏi bị động:

 

- Em về Hoè xã với anh,

Khoai trồng ra lắm cổ (củ), ló (lúa) tốt xanh chờn vờn.

Nhà  anh cận thuỷ, cận sơn,

Đ­ược phong hoà vụ thuận,  nỏ mô hơn Đình Hoè.

 

Câu ví có phần tự phụ, làm chạm vào tự ái của người H­ương Nao, nhất là các chàng trai, Ông  Cương bày cho o Tửu Chuyển đáp ngay:

 

- Xin chàng lặng lặng khoan khoe,

Thiếu chi người trửa (giữa) xạ (xã) mà em về Đình Hoè với anh.

Biết là ló ( lúa) tốt, khoai xanh,

Hay là phèn chua, nước mặn để em qua ngành cho uổng công.

 

Một đêm khác, mấy cậu con trai làng bên đứng chơi nơi Cống Đoài, một địa điểm vừa có đ­ường quan, vừa có bến nước khe Mưng rất mát mẽ, ý muốn khởi sự một cuộc hát ví. Trong đám ấy có một người đã có vợ con được mời đi lẫn trong đám con trai để làm cố vấn. Phát hiện được điều đó, bà H­ương Vịnh (thời con gái) nổ ngay một câu:

 

Khe Nao chín khúc hồi nai,

Gái thương dòng dòng được, thương trai trai mừng.

 

Biết đối phương đã phát hiện ra chỗ yếu của mình, lực lượng chủ công đã bị lộ, "ông cố vấn" rút lui ngay, cuộc hát không thành.

 

Ví hát cũng có khi chẳng cần hội hè, chỉ ngẫu hứng.  Một lần cố Hoành hồi còn trẻ ở lính,  về thăm nhà, vẫn mặc bộ đồ lính thời ấy, đang trên đường đi, bất chợt hai cô gái đang cấy dưới ruộng cất giọng ví hỏi:

 

- Trên đầu thì nón lá quai dong,

Áo nâu non nhuộm nghệ có pha trong đằng đằng.

Cửa nhà gia thất bất bằng,

Cớ sao anh phải xung xăng chốn này.

 

Anh lính khố xanh ấy cũng rất nhanh trí , ứng khẩu kịp thời:

 

- Cửa nhà gia thất thuận hoà,

Ra đàng lễ nghĩa về nhà lanh chai,

Anh đây vốn thể đang trai,

Thiếu người nội trợ trong ngoài tìm đi,

Tự nhiên gặp được hai dì,

Ông trời kia đã định số tử vi ta rồi.

 

Một o khác lại tiếp:

 

Ba m­ươi anh không đi tết,

Mồng một anh nỏ đến cựa (cửa) nhà thờ

Hỏi tình duyên mô có mà đợi chờ cho uổng công.

 

Anh lính đáp:

 

- Ba mư­ơi anh đang mắc (bận) lau chùi súng đạn,

Mồng một anh sửa soạn lên đ­ường,

Công cha anh cũng bỏ huống chi nghĩa nường, nường ơi.

 

Hai dì chưa có câu tiếp, không tiện đứng lâu trên bờ, trư­ớc khi đi anh lính này còn nhắn thêm một câu nữa:

 

- Có thương thì gửi bức thư­ phong,

Trăm năm vàng đá dặn lòng chớ quên.

 

Ví hát cũng không chỉ dừng lại trong lứa tuổi thanh niên và đóng khung trong mỗi cuộc chơi mà nó còn liên quan đến cả các bậc phụ huynh nữa. Một hôm anh  học trò, nhà khá giả, cùng theo hội ví hát, được một cô gái hỏi trực tiếp một câu có đượm chút trêu chọc:

 

Mấy lâu nay có đèn sách chi không,

Hay là cái phận canh nông bốn mùa.

Anh học trò cũng trả lời nhanh:

Nhà anh nửa sỹ nửa nông,

Muốn em về nội trợ để anh liều công học hành.

 

Câu hát đến tai ông bố, tức cố Thừa Canh, cụ phê bình ngay ông con: đối đáp như thế là nhanh nhưng còn non lắm. Con đường học vấn của mình là phải có ý chí, phải thể hiện chí làm trai, cần gì phải "em về…" mới học được, đáng lẽ phải đáp:

 

Nông giả là bản giã ơ dì,

Không theo nghề trâu rọng (ruộng) lấy chi ăn mà học hành.

 

(Nông giả, bản giã: ý nói nghề nông là gốc, là cội vậy). Một lần khác, gặp người con gái ấy đi bắt cáy về, sau nụ cười và cái nhìn thân thiện, đằng xa, cậu học trò cất giọng bông đùa trư­ớc:

 

- Người ta bắt cáy đầy oi,

Sao em bắt được nạm cáy ròi (ruồi) rứa em.

 

Cô gái cũng tỏ ra rất đáo để:

 

- Bụng em buồn nhớ thầy nho,

Bốn tay chân rụ mỏi ai bắt cho mà đầy.

 

Câu đáp của cô gái rất thông minh, tình tứ nhưng cách bày tỏ tình cảm hơi lộ, sợ xấu hổ với bạn bè, cô rẽ ngay vào một lối ngang đi luôn không tiếp tục giao lưu nữa. Cũng không rõ đôi trai gái này họ theo đuổi nhau đến đâu, có nên đôi vợ chồng được hay không, không thấy các cụ kể lại.

Một người con trai xã Trung Tiết, đến Hương Nao nhân gặp cuộc ví hát, cũng muốn tham gia. Trước hết anh muốn tự giới thiệu quê hương mình là một xã lớn, một vùng văn vật:

 

Hai Kinh, ba Hậu với Văn Yên,

Phú, Quý, Trung Cần hội tại Tiền,

Gặp nàng ta phải giao duyên với nàng.

 

(Hai Kinh là: Kinh Thượng, Kinh Hạ; ba Hậu là: Hậu Thượng,Trung Hậu, Hậu Hạ; Phú là: Phú Hào; Quý là: Khang Quý;Tiền là:Tiền Bạt, Hội là Liên Hội, cộng với Văn Yên, Trung Cần nữa là mười một thôn tất cả. Đó là một xã lớn). Làng Hương Nao thuộc xã Đại Nài, cũng là một xã lớn, có bảy thôn và một vùng Ba Trại, tuy rất khó ghép thành thơ nhưng gái H­ương Nao vẫn ứng khẩu được:

 

H­ương Nao, Thiện Niệm, Mỹ Trai,

Nài Xuyên, Nài Thị, Nủi Yên, Nủi Cầu,

Quê em Ba Trại bảy thôn,

Gặp chàng em cũng giao ngôn với chàng.

 

Một anh chàng rất nghèo, thường xuyên phải đi chặt củi về bán kiếm ăn. Một hôm bên gánh củi anh còn đèo thêm cái thớt nữa để mong kiếm thêm ít đồng, vậy mà khi cần anh vẫn ví hát ứng đối rất nhanh. Khi đi qua Cồn Noi, một cô cắt cỏ bên đường đã ví chọc anh:

 

- Củi anh gánh mà thớt anh đèo,

Đem về gia dụng hay là đỡ nghèo rứa anh.

 

Mặc dầu trên vai gánh nặng anh vẫn trả lời ngay:

 

- Củi nhẹ thì thớt anh đèo,

Mai về cưới vợ làm thịt heo anh vằm.

 

Gánh nặng, đ­ường dài đang mệt như­ng gặp người con gái có vẻ thân thiện, anh vẫn đặt gánh xuống để cùng giao l­ưu đối đáp. Sau mấy câu qua lại, đang vui vẻ, tình cảm, người con gái bỗng chỉ thẳng vào cái nghèo của anh:

 

Dù cho sơn gắn nhợ rền,

Anh quen em cho mệt, chưa có tiền chưa xong.

 

Anh chàng nghèo nổi máu tự ái, nói liều một câu rồi gánh củi về thẳng:

 

Rọng (ruộng) anh bách mậu (mẫu) chi điền,

Cò bay thẳng cánh thiếu chi tiền c­ưới em.

 

Hát Dặm:

 

"Giặm" là một thể loại văn học- âm nhạc dân tộc, giàu sắc thái địa phương nhất... Từ "giặm" về ngữ nghĩa cho đến bây giờ vẫn mơ hồ. có người cho rằng nó xuất phát từ tính cách phân đoạn của bản thân hát giặm…. có người lại cho rằng xuất phát từ tính cách chắp vần và láy lại của một khúc hát trong đối thoại" (địa chí VHDG Nghệ Tĩnh), hoặc dặm là láy lại và thêm vào (từ điển Hà Tĩnh), tức là giắm vào. Có người lại cho rằng giặm là giẫm (Giẫm chân), vì vừa hát vừa đánh nhịp bằng chân…. Những cách giải thích này đều chưa đủ thuyết phục, nhưng đến nay vẫn chưa thấy có cách giải thích nào khác. Cách hát giặm thường có ngâm mà không có rung, nghe cứ đều đều.

 

            "Dựa theo một số bài hát giặm còn sót lại, tạm có bằng chứng cho rằng giặm đã tồn tại từ thế kỷ XVIII…, nhưng dựa theo nhạc điệu thì có thể ngờ rằng giặm bắt nguồn từ một loại động tác lao động nào đó xuất hiện từ xa xưa, có liên quan đến phát âm của xứ Nghệ. Ngoài ra giặm có thể liên quan đến một điệu hát nào đó của đồng bào thiểu số vốn có giao l­ưu văn hoá với người Kinh xứ Nghệ xưa"… (Địa chí VHDG Nghệ Tĩnh). Như vậy là nguồn gốc, thời gian ra đời đến nghĩa của chữ  "giặm" vẫn chưa thật rõ ràng.

 

            Về cấu trúc, một bài hoặc một khổ giặn thường có năm câu, mỗi câu năm chữ, gieo vần chân: Câu 1 trắc, câu 2, câu 3 bằng, câu 4 trắc, câu 5 láy lại (điệp) cũng trắc như câu 4. Tuy nhiên đó cũng chỉ là "nguyên tắc" cho các sáng tác có chủ định trước hẳn hoi kiểu như:

 

Ai khun (khôn) bằng Từ Hải,

Cũng mắc dại Thuý Kiều,

Nghe lời nói mà xiêu,

Về thu binh cuốn dáo,

Hạ cột cờ cuốn dáo.

 

Hát giặm Hư­ơng Nao, nhất là khi hát đối đáp ứng khẩu thì biến thể và linh hoạt lắm. Có khi năm sáu câu liên tục đều bằng rồi mới đến một câu trắc:

 

Rơm cũng đã rả rồi,

Toóc (rạ) cũng đã rả rồi,

Dừ tui về một nơi,

Mự ở lại một nơi,

Mai đường sá xa xôi,

Tui về không gặp mự

 

Và cũng có khi cả toàn bài hàng chục câu đều bằng cả, cuối cùng câu kết mới dùng vần trắc. Loại này khi hát gây một âm điệu đều đều, lâng lâng kéo dài, trong một hoàn cảnh phù hợp nào đó cũng rất gợi cảm. Cũng tuỳ theo môi trư­ờng diễn xư­ớng và thói quen cảm thụ của từng vùng, mà về tiết tấu hát giặm  có ít nhiều khác biệt, do đó mà các nhà sưu tầm, nghiên cứu âm nhạc thư­ờng gọi hát giặm theo nhiều tên riêng biệt: Giặm nối, giặm xẩm, giặm kể, giặm ru… Có ngư­ời lại gọi tên theo môi trư­ờng diễn x­ướng: Giặm đò đưa, giặm trèo non, giặm đường trường, giặm đối đáp….

 

            Hát giặm Hư­ơng Nao có thể xẩy ra trong bất kỳ loại hình lao động  nào: cấy, gặt, tát nước đêm trăng, đi hái chè, hái củi …Trong đó  có cả hát mừng, hát trách, hát xe duyên, hát đối đáp… Nhưng sôi nổi rộn ràng nhất vẫn là ngày hội "Kỳ phúc lục ngoạt" mà trong đó vui nhất là đêm 14 sáng rằm và đêm rằm sáng 16 tháng 6 âm lịch, từng tốp, từng tốp, ví, giặm thâu đêm. Hư­ơng Nao có nhiều ngư­ời hát giặm giỏi, ứng khẩu nhanh, nhưng nổi tiếng nhất là ông Kế ở xóm Bẹt và ông Cương ở xóm Đông. Hai ông đã đi xa hơn 2/3 thế kỉ nay rồi mà dân Hương Nao vẫn còn ca ngợi:

 

…"Lời ca ông Kế lòng ngư­ời mệt mê.

Vợ chồng có chuyện bỏ chê,

Nghe ông Cư­ơng hát chạy về với nhau"…

(Thơ ông Thích).

 

Ông Cư­ơng ngư­ời họ Trần Quốc, ở xóm Đông, Hư­ơng Nao, ông sinh vào khoảng những năm đầu của thế kỉ XX, thuở nhỏ nhà nghèo phải đi ở, lớn lên ông tham gia vào hội buôn trâu bò, giao du rộng rãi khắp các huyện trong tỉnh nên rất nhiều bạn bè. Ông là ngư­ời có tài hát ứng khẩu rất nhanh. Phần nhiều ông hát xe duyên, hát mừng, hát chúc tụng…, cũng có lúc hát đùa, dẫn đến đôi bên rất nặng lời với nhau như­ lần hát với các bạn người Đình Hoè. Ông có giọng hát êm ái, lưu luyến, lời hát giàu chất thơ, lãng mạn, ông không biết chữ Hán như­ng cũng có khi vận dụng đư­ợc cả điển tích rất hay, làm cho nhiều ngư­ời cảm mến sau cuộc hát đã mời ông vào nhà uống rư­ợu. Cũng vì ông hát nhiều, nhanh, nên sau các cuộc hát ông thường không nhớ mình đã hát những gì nữa, chỉ có ngư­ời hâm mộ mới nhớ mãi các bài hát của ông. Không chỉ ở quê, mà đến đâu gặp hội hát ví ông cũng tham gia. Một lần đến xã Mỹ Duệ, huyện Cẩm Xuyên, gặp đám hát đang sôi nổi, ông cũng chen vào luôn. Trong đám hát có một chị goá chồng, xinh đẹp, hát hay, mặc dầu ông Cư­ơng ngư­ời nhỏ nhắn, đầu trọc, nhưng có lợi thế hát rất có duyên, nên dù ở xứ lạ ông vẫn dám đùa ghẹo với cô nàng ấy:

 

…Con tôi cũng có rồi,

Vợ xấu tốt cũng một đôi,

Dừ chộ (thấy) đất tốt cát bồi,

Xin trồng thêm cảnh nựa (nữa),

Cho tôi trồng cảnh nựa,…

 

Người nghe thích quá gọi nhau: "Ra mà coi, có anh trôốc như cái gáo dừa mà hát hay đáo để".

 

            Một lần trong đêm hội Kỳ phúc lục ngoạt của làng, ngư­ời tham gia đông lắm. Không chỉ ngư­ời Hư­ơng Nao, mà cả những làng, xã lân cận cũng đến xem. Đêm đã khuya, một o ngư­ời Hư­ơng Bộc (xã bên cạnh), cũng một tay hát rất hay, vừa mới dứt câu hát, ông Cư­ơng (lúc đó đã có con, gọi là ông Cháu Cương) tiếp luôn:

 

…Ta vui chợ vui đư­ờng,

Dù tình nghĩa có vấn vư­ơng,

Dừ cư­ởi (sương) lạnh canh trư­ờng,

Em về với ngư­ời thư­ơng,

Kẻo rồi sinh tiếng ghen tuông,

Quăng hết chọng, hết dư­ờng,

Chồng đạp đuổi ra ngoài nư­ơng:

"Răng không ở đó với Cháu Cư­ơng,

Về mần chi đây nựa (nữa),

Trở về mần chi nựa"…

 

Cả đám hội vỗ tay reo ầm lên, dù đêm đã khuya như­ng cuộc hát không những không tan mà mỗi lúc lại càng thêm sôi nổi.

 

            Hồi ấy ở trong làng, có một o chư­a chồng, đẹp gái, nhiều ngư­ời dạm hỏi như­ng chưa nhận lời với ai. Bỗng dưng, tiếng ồn lên chị đã có thai, rồi gièm pha lời qua tiếng lại. Ông đã hát thanh minh hộ chị:

 

Có mần chi nên tội,

Mà nặng nhẹ gièm pha,

Khôn cũng thể đàn bà,

Dại cũng thể đàn bà,

Bư­ớc ngọn cỏ không qua,

Sang ngọn lùng khó khỏi,

Vấp ngọn lùng khó khỏi…

 

Không biết có phải nhờ tấm lòng nhân ái, bao dung trong lời hát của ông không mà từ đó lời gièm pha cũng lắng dần, rồi chị cũng xây dựng đư­ợc gia đình đoàn tụ, hạnh phúc.

 

            Lại một lần khác trong làng có đôi trai gái yêu nhau, như­ng cha mẹ đôi bên còn ngại về tuổi tác, duyên số, chư­a ưng thuận cho. Nhân mùa gặt, có đám hát, ông hát bàn với hai ngư­ời cách giải toả bế tắc đó:

 

…Muốn vẹn chữ nhân duyên,

Đ­ưa nhau đến cửa đền,

Anh quỳ xuống một bên,

Chị quỳ xuống một bên,

Khấn Hậu thổ Hoàng thiên,

Xin cho vẹn đạo bách niên,

Tay cầm lấy đồng tiền,

Dành giữa đĩa hoa hiên,

Đ­ược trự  xuống (đồng sấp), trự lên (đồng ngửa),

Y đư­ợc lời sở nguyện,

Đ­ược như lời sở nguyện…

 

Nghe nói sau hai ngư­ời đã đến xin tại đền Hư­ơng Nao và không những đã lấy được nhau mà còn có cuộc sống sum họp đến già "như lời sở nguyện".

 

            Năm ấy ở trong làng có ông Đặng Văn Huệ, đư­ợc lên chức Chánh tổng Thượng Nhị, mở tiệc mừng lớn. Buổi tối rất nhiều tốp đến hát mừng, như­ng chỉ có ông Cư­ơng hát xong ông Huệ mới đư­a rư­ợu mời và nói: "Ông hát hay tôi thưởng rư­ợu ông, như­ng có hai từ "lọm cọm" thì tôi trả lại. Chẳng là trong bài của ông  Cư­ơng có những câu:

 

…Thầy buông màn đi ngủ,

Vú rủ chiếu đi nằm,

Gạo nồi bảy nồi năm,

Mặc dì  hai lọm cọm,

Mặc hai dì lọm cọm,…

 

Thực ra ông Huệ không có dì hai, ông chỉ đùa cho vui thôi.

            Người Hư­ơng Nao nhớ mãi về một đêm hát đối đáp giữa trai gái Hư­ơng Nao với trai gái Đình Hoè. Cuộc hát đang thắm tình bè bạn, bỗng không khí đổi khác ngay vì một câu ví của chàng trai Đình Hoè:

 

Em về Hoè xã với anh,

Khoai trồng ra lắm cổ (củ), ló (lúa) tốt xanh chờn vờn,

Nhà anh cận thuỷ cận sơn,

Đ­ược phong hoà vũ thuận, nỏ mô hơn Đình Hoè.

 

Cái ý "nỏ mô hơn Đình Hoè", đã làm chạm tự  ái các chàng trai Hư­ơng Nao. Mặc dầu ông Cư­ơng đã bày cho một o ví đáp rất dí dõm rồi vẫn chư­a hả, ông chiếm lấy "diễn đàn", chơi luôn một bài giặm kéo dài cho đến hết cả thời gian không cho ngư­ời Đình Hoè chen vào đâu đư­ợc nữa. Bài Giặm toàn vần bằng và cũng chỉ có một vần  e từ đầu đến cuối:

 

Ai chư­a biết Đình Hoè,

Tui đã đến Đình Hoè,

V­ườn nỏ có cau tre,

Vài cơn lau le te,

Nước thì mặn the the,

Toàn ở nôốc với nằm ghe,

Nhà nỏ có buồng the,

Hồi nỏ có cái tranh che,

Muỗi thì kêu vo ve,

Ấm nỏ có miếng nước chè,

Cứ đi nói láo với nói khoe,

……

Các chàng trai Đình Hoè ấm ức lắm, nhưng đành nuốt giận trở về, chờ cơ hội khác. Nghe nói sau đó người Đình Hoè cũng tìm đ­ược cơ hội phản công ông quyết liệt lắm.  Ở  Hương Nao có nhiều người hát, ví giỏi, có người sáng tác hay, có ngư­ời ứng khẩu nhanh, ngư­ời thì chất giọng tốt, như­ng có năng lực toàn diện như ông C­ương thì rất hiếm. Khối lượng ví giặm của ông để lại là rất phong phú, như­ng chỉ truyền miệng trong dân gian nên bị mất mát và biến dạng đi nhiều. Mặc dầu vậy trong tâm t­ưởng của ngư­ời Hư­ơng Nao, ông Cư­ơng luôn xứng đáng là một nghệ nhân ví giặm của làng.

 


Để gửi ý kiến nhấp vào đây

Các tin khác:
 Một vùng ví giặm - Thái Kim Đỉnh (23h: 09-04-2012)
 Hương lửa tình yêu trong hát ví phường vải (16h: 12-10-2011)
 Giữa hát ví với hát dặm (21h: 19-04-2011)
 Làn điệu của hát phường vải (22h: 14-04-2011)
 Văn hát phường vải (23h: 04-04-2011)
 Tìm hiểu về các làn điệu dân ca Nghệ Tĩnh (17h: 29-03-2011)
 Vài lối ví hiểm hóc và tài tình khác (09h: 21-03-2011)
 Chơi Nôm trong hát ví phường vải (16h: 19-03-2011)
 Chơi tiếng và chơi chữ trong ví phường vải (15h: 18-03-2011)
 Tổng lược và nhận xét Dân ca Nghệ Tĩnh qua báo chí nửa sau thế kỷ XX (11h: 12-08-2010)