Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
 Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
Nhạc tính trong thơ
 
(21h: 17-08-2013)
Nhạc tính trong thơBài viết của Phlanhoa
***

Gửi bạn yêu thơ.

Lan Hoa không phải là nhà thơ, cũng chẳng phải là nhà lý luận phê bình thơ, mà chỉ là người đang học làm thơ. Vì đang học làm thơ, nên Lan Hoa nghĩ mình cần phải khiêm nhường. Từ chỗ nghĩ mình phải khiêm nhường, Lan Hoa rất chịu khó tìm đọc và học lý thuyết căn bản về làm thơ. Khi dạo chơi thăm và đọc thơ của bạn bè thi hữu trong diễn đàn, đem so sánh với lý thuyết thấy chưa ổn, nếu nhỏ nhặt thì góp ý tại chỗ. Nhưng nếu thấy đó là hệ trọng, thì Lan Hoa lại lặng lẽ lục tìm bài viết của những tên tuổi nổi tiếng nói về nội dung đó gửi lên để chia sẻ. Hi vọng bạn thơ ít nhiều ngộ ra được cái sự thiếu trong thơ của mình một cách không ồn ào, tự bạn âm thầm hiệu chỉnh…

Duy chỉ có một vấn đề Lan Hoa muốn nói từ lâu, đó là một trong những yếu tố căn bản để thơ có hồn thơ - “nhạc tính trong thơ”. Nhưng rồi đã tốn khá nhiều tiền mua sách, xợt gu gồ cũng đã lắm. Song tiếc thay các bài viết, phần nội dung đều chưa thực sự đầy đủ tính chất giáo khoa để phục vụ cho nhu cầu của người học làm thơ. Bài này được phần lý luận hay thì lại thiếu công thức; bài kia được chỗ công thức căn bản thì thiếu phần giải nghĩa…

Thôi thì Lan Hoa đành phải “múa rìu qua mắt thợ”, xin mạo muội bổ sung một vài ý kiến cá nhân vào đề tài  “NHẠC TÍNH TRONG THƠ”, tập hợp lại những gì mình đọc được, học được. Mong các bạn thơ ai biết rồi thì bỏ quá, ai chưa biết thì có thể dụng làm tư liệu tham khảo, hi vọng là không vô ích với mọi người…

NHẠC TÍNH TRONG THƠ

Có hai lý do mà Lan Hoa trước tiên cần phải dạo qua luật Trắc Bằng, Thanh – Vận – Điệu trong thơ Đường luật:

- Lý do thứ nhất đây là thể loại thơ có quy định (bằng văn bản) khá kỹ càng về âm thanh và giai điệu nên khi cần “nói có sách” thì đương nhiên phải dụng để làm căn cứ;

- Lý do thứ hai là gần đây có tranh luận về dòng thơ “Đường luật ngũ độ thanh”. Có người cho rằng ngũ độ thanh là thể loại mới sáng tạo của thơ Đường luật, có người lại cho rằng nó có xuất xứ từ nhạc phủ. Vấn đề này Lan Hoa xin đưa ra ý kiến như sau:

Ngũ thanh là gì?

Là 5 âm thanh chính của nhạc cổ là : cung, thương, chủy, giốc, vũ

-      Cung 宮: là Quân 君, là Thái Cực, là nốt Fa

-      Thương 商: là Thần 臣, Thiếu Dương, là nốt Sol

-      Giốc 角: làDân 民, Thiếu Âm, là nốt La

-      Chủy 徵: là Sự 事, Thái Dương, là nốt Đô

-      Vũ 羽: là Vật 物, Thái Âm, là nốt Rê

Tương ứng trên cây đàn có 5 giây, thì:

·        Cung         là giây Fa (F)

·        Thương     là giây Sol (G)

·        Giốc          là giây La (A)

·        Chủy         là giây Do (C)

·        Vũ             là giây Re (D)

( Về sau, Văn Vương là người thêm hai dây phụ là Biến Cung 變 宮 và Biến Chủy 變 徵. Tương ứng với nốt Mi (E) và Si (B), ta sẽ có toàn âm giai tương ứng một gamme diatonique của nhạc phương Tây )

Luật thể của thơ Ngũ ngôn bát cúThất ngôn bát cú:

Thơ Đường có nhiều thể loại, nhưng chỉ có thể loại thơ Ngũ ngôn bát cúThất ngôn bát cú mới có quy định luật sát sao chặt chẽ bằng văn bản, được sử dụng vào thi cử. Luật được chia thành hai thể: Thể chính cáchThể thiên cách.

Thể chính cách:

 

Câu số

Bằng thể

Trắc thể

1

TTT B vần

BB TT vần

2

BB TT vần

TTT B vần

3

BBB T  T

TT BB T

4

TTT B  vần

BB TT vần

5

TT BB  T

BBB T T

6

BB TT  vần

TTT B vần

7

BBB T T

TT BB T

8

TTT B vần

BB TT vần

Cấu trúc thể ngũ ngôn chính cách

Câu số

Bằng thể

Trắc thể

1

BB TTT B vần

TT BB TT vần

2

TT BB TT vần

BB TTT B vần

3

TT BBB T  T

BB TT BB T

4

BB TTT B  vần

TT BB TT vần

5

BB TT BB  T

TT BBB T T

6

TT BB TT  vần

BB TTT B vần

7

TT BBB T T

BB TT BB T

8

BB TTT B vần

TT BB TT vần

Cấu trúc thể thất ngôn chính cách

Thể thiên cách: là có thể sử dụng “nhất, tam, ngũ bất luận” (chữ thứ 1,3,5 không nhất thiết phải gò vào luật trắc bằng)

                Về ý nghĩa của ngũ thanh: Ngũ độ thanh là trường độ một âm giai gồm 5 nốt nhạc chính thống Fa, Son, La, Do, Re mà các thi nhân cổ xưa đã đặt làm luật cho thể thơ ngũ ngôn , là Chính cách thơ Đường luật thể Ngũ ngôn. Và theo phán đoán của Lan Hoa, có thể sau khi Văn Vương thêm hai dây biến Cung (Mi) và biến Chủy (Si), thì đồng thời thể thơ thất ngôn ra đời,  7 tiếng thơ trong một cú có thể là sự tương ứng với 7 nốt nhạc (Fa, Mi, Son, La, Si, Do, Re).  Bởi vậy, xin các thi hữu đừng hiểu nhầm là cứ đủ huyền, không, sắc, nặng, hỏi, ngã là đã làm thơ Đường luật ngũ độ thanh. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận, nếu một câu thơ năm chữ mà đủ cả dấu huyền, không, sắc, nặng, hỏi, ngã, thì cơ bản có thể đã gần tương ứng với ngũ thanh. Nhưng còn phải tùy thuộc vào sự sắp xếp dấu thế nào cho tương ứng với quy luật trật tự của một âm giai mới có thể tạo nên giai điệu mượt mà.

          Nhiều môn đệ dòng thơ Đường luật ngày nay lấy làm kiêu hãnh khi hoàn thiện một vài bài ở dạng ngũ độ thanh, thậm chí có người giọng điệu rất kiêu căng: “tôi chỉ có làm ngũ độ thanh thôi”. Vấn đề này Lan Hoa xin có đôi điều phân tích như sau:

          - Nếu ta nhìn vào bảng luật ở thể chính cách, mỗi bài tuy có 8 câu (bát cú), nhưng chỉ có 4 kiểu tiết tấu: câu 1-4-8 cùng một tiết tấu; câu 2-6; câu 3-7 cũng trùng tiết tấu, chỉ có câu 5 là mỗi mình riêng một tiết tấu.

 

Câu số

Bằng thể

Trắc thể

1

TTT B vần

BB TT vần

2

BB TT vần

TTT B vần

3

BBB T  T

TT BB T

4

TTT B  vần

BB TT vần

5

TT BB  T

BBB T T

6

BB TT  vần

TTT B vần

7

BBB T T

TT BB T

8

TTT B vần

BB TT vần

 

Câu số

Bằng thể

Trắc thể

1

BB TTT B vần

TT BB TT vần

2

TT BB TT vần

BB TTT B vần

3

TT BBB T  T

BB TT BB T

4

BB TTT B  vần

TT BB TT vần

5

BB TT BB  T

TT BBB T T

6

TT BB TT  vần

BB TTT B vần

7

TT BBB T T

BB TT BB T

8

BB TTT B vần

TT BB TT vần

 

Vấn đề đáng nói ở đây là âm giai và tiết tấu được cổ nhân biên soạn sẵn, tựa hồ như một làn điệu dân ca, chỉ được phép thay lời chứ không được phép thay nốt nhạc. Môn đệ làm thơ Đường luật ngũ độ thanh không được quyền chế tác gì thêm về phần âm nhạc, mà chỉ được quyền chế tác phần lời ca. Điều này gây nên những bất hợp lý cho cảm xúc thơ, bởi cung bậc của cảm xúc thì có hàng trăm, thậm chí hàng ngàn. Chỉ tính nụ cười không thôi mà người đời đã liệt kê được trên 36 điệu, thì thử hỏi chỉ với 4 kiểu tiết tấu của thể chính cách làm sao diễn tả hết được?

Trong phần đầu của bộ sách “Đường thi tuyển dịch”, Lê Nguyễn Lưu có viết: “ Những nhà thơ lớn thời kỳ đầu như Lý Bạch, Vương Duy, Thôi Hiệu vv… cũng đã làm luật thi, nhưng không chịu gò bó trong quy ước cứng nhắc, và nhiều bài thơ nổi tiếng rõ ràng là thoát ra ngoài khuôn phép, như Chước tửu dữ Bùi Địch (Vương Duy), Hoàng Hạc lâu (Thôi Hiệu), Đăng Kim Lăng phụng Hoàng Đài, Anh Vũ châu (Lý Bạch)…”  

Như vậy lý do ra đời của thơ đường luật thể thiên cách là do các vị Thánh thi không chịu gò bó khuôn phép mình trong giai điệu tiết tấu của một bài dân ca, họ muốn được sáng tạo. Nhưng đồng thời các vị Thánh thi cũng rất có ý thức về lịch sử, không muốn phá bỏ những gì đã đi vào truyền thống nề nếp. Chính cáchThiên cách được đồng thời soạn ra để gìn giữ và phát triển.

Cũng trong cuốn sách trên, Lê Nguyễn Lưu viết: …”Đến Đỗ Phủ, thơ luật mới được vận dụng rất nhuần nhuyễn, những bài Vịnh hoài cổ tích, tám bài Thu hứng… đã đưa thơ luật lên đỉnh cao của quá trình phát triển. Người đời sau gọi ông là Thi thánh là vì thế. Đồng thời, thể bát cú được phát triển một bước thành thể bài luật, mở rộng một số câu nhưng vẫn giữ niêm luật, thậm chí cả đối ngẫu… Về sau không ai còn sáng tạo thêm thể cách gì mới nữa…”

Ý nghĩa của ngũ thanh trong nhạc cổ còn là sự tương ứng với  ngũ hành Kim - Thủy – Mộc – Hỏa – Thổ; tương ứng với vũ trụ Thái cực - Thái dương - Thiếu dương - Thái Âm - Thiếu âm; và với Quân – Thần – Dân – Sự - Vật.

Thi hữu chắc đã từng nghe các bậc thi thánh nói đến cụm từ “vũ trụ trong thơ”. Nhạc cổ ý nghĩa sâu xa là vậy. Nên thơ Đường luật ở thể chính cách  - một dòng thơ xuất xứ từ dân ca nhạc cổ cũng đòi hỏi tư tưởng lớn và tâm hồn rộng trải. Khi làm thơ Đường luật thể chính cách, ta không chỉ chú trọng về ngũ âm, mà còn phải đặt mình ở vị trí Quân – Thần – Dân – Sự - Vật để phóng tác ngòi bút. Ở thể thiên cách, vượt ra ngoài yêu tố Quân – Thần – Dân – Sự - Vật, còn là sự biến thiên của Thái cực (biến Cung) và vần xoay của Sự vật (biến Chủy), khiến cho sự phóng tác đạt đến tuyệt đỉnh. Có lẽ đây là lý do vì sao trong danh sách những bài thơ Đường luật bất hủ lưu truyền lại, ta hầu như chỉ tìm thấy những bài ở thể thiên cách.

Vậy làm thế nào để thiết kế được tiết tấu, giai điệu cho thơ?

 Trước khi bước sang phần đàm đạo về nhịp điệu, tiết tấu của thơ, Lan Hoa xin trình bày sơ qua về định nghĩa một số từ và cụm từ chuyên môn:

Bằng trắc; Thanh – Trọc; Phù – Trầm; Bình – Thượng – Khứ - Nhập; Hướng – Lượng; Dương - Ức là gì?

-       Thanh trắc gồm: sắc, nặng, hỏi, ngã

-       Thanh bằng gồm : huyền và không dấu

-       Thanh là trong; Trọc là đục; Phù (đoản, thượng) là Thanh; Trầm (trường, hạ) là Trọc;

-       Dương là bổng; Ức là chìm; Bình thanh là Dương; Thượng thanh là Ức; Khứ thanh là Dương; Nhập thanh là Ức.

-       Như vậy trong Dương có Thanh có Trọc; trong Ức cũng có Thanh có Trọc. Thanh – Trọc chia 4 thanh gốc ra thành 8 nhánh, cao thấp theo hai nhóm dấu.

Thanh

Triển khai

Dấu

Ý nghĩa khác

Tính chất 

Bằng

Phù bình thanh
Trầm thượng thanh

không dấu
dấu huyền

Dương, Thanh

Ức, Thanh

Thanh trong

Trong, nhẹ, bình

Trắc

Phù thượng thanh
Trầm thượng thanh
Phù khứ thanh
Trầm khứ thanh

ngã (~)
hỏi (?)
sắc (')
nặng (.)

Dương, Thanh

Ức, Trọc

Dương, Thanh

Ức, Trọc

Cao trong

Đục, trầm

Xa trong

Đục, chìm,

Phù nhập thanh
Trầm nhập thanh

sắc (')
nặng (.)

Chỉ các tự
đằng sau có phụ âm
ch, p, và t

Thẳng gấp,

đột ngột

Thanh còn được chia ra Hướng và Lượng. Hướng là những thanh ngân dài đọc nghe kêu tựa như tiếng chuông, tiếng sáo. Lượng là những tiếng có sức nặng về ý nghĩa, mĩ từ.

Vậy thì, trong một câu Đường luật ngũ độ thanh không chỉ cần có quân, thần, dân, sự, vật; mà còn cần đủ  phù, trầm, bình, thượng, khứ ; và phải cẩn trọng ở yếu tố nhập, hướng, lượng nữa. Quả là khó khăn lắm thay!

Cổ nhân xưa dạy:

Bình thanh ai nhi an

Thượng thanh lệ nhi cử

Khứ thanh thanh nhi viễn

Nhập thanh trực nhi xúc

Nghĩa là:

Bình thanh buồn mà êm

Thượng thanh đẹp mà cao

Khứ thanh trong mà xa

Nhập thanh thẳng mà gấp

Rồi lại nói:

Thi trung dụng tự nhất hào bất khả câu

Thảng nhất tự bất nhã tắc nhất cú bất công

Nhất cú bất công tắc toàn thiên giai phế hĩ

Nghĩa là:

Dụng chữ dù một tơ hào cũng không nên bất cẩn

Rủi mà một chữ không nhã thời cả câu không đẹp

Một câu không đẹp thời toàn bài bỏ đi

Để có một câu thơ đẹp, mỗi một chữ đều có giá trị riêng của một chữ. Cho nên thiết nghĩ, nếu chỉ chăm chăm vào việc tìm mĩ từ mà quên đi việc sắp xếp vị trí các mĩ từ cho phù hợp với giai điệu của câu, của bài, thì cũng chưa đáng gọi là sành điệu trong phép dụng chữ. Nó ví như người ta hay nói “người đẹp vì lụa”, nhưng chớ quên còn có vế ngược lại “lụa đẹp bởi người mặc”. Người đẹp mặc áo nâu sồng thì tuy cũng có đẹp, nhưng sẽ đẹp hơn lên khi thân hình đó được khoác áo lụa; ngược lại, dẫu có lụa Hà Đông, đưa cho người thô kệch, liệu lụa có còn là lụa mềm được chăng? Mĩ từ được đặt trong một toàn âm giai đầy xúc cảm, cũng giống như một cô gái đẹp được mặc lụa là, lại được tạo dáng trong một khu vườn thơ mộng, khiến cho trở nên cốt cách cao quý…

Về Thanh – Vận – Điệu của thơ thì đã có quá nhiều bài lý luận vấn đề này. Lan Hoa không dài dòng thêm nữa. Chỉ đề cập ở đây một vấn đề nhỏ, đó là chữ thứ 3 trong thơ ngũ ngôn bát cú và chữ thứ 5 trong thơ thất ngôn bát cú được các thi nhân bậc thầy gọi là Thi nhãn, nghĩa là con mắt của thi cú. Lý do có lẽ là do nhịp phách của câu ngũ ngôn đại đa phần là 2/3; và thơ thất ngôn là 4/3, nên chữ thứ 3, 5 này thường rơi vào phách mạnh tạo nên điểm nhấn trong câu.  Xin lấy ví dụ :

Hang sâu nước đổ / sương giá

Cửa vắng hoa phô / rực áo người

(Quán đạo đồng bách – Chu Phác)

 

Đầm xa  / trăng vằng vặc

Núi biếc / suối bời bời

(Nhớ ngày xưa ở sông Sở - Mã Đái)

          Theo ý kiến của Quách Tấn thì cổ nhân chỉ dụng thực tự cho vị trí thi nhãn, hiếm lắm mới có cao nhân dám dụng hư tự ở vị trí này. Nhận xét của Lan Hoa có phần khác hơn một chút: Không cứ chữ thứ 3, hay thứ 5, mà nên tuỳ thuộc vào nhịp điệu của thơ mà gieo thi nhãn. Thi nhãn nên là chủ ngữ hay vị ngữ trong câu, hoặc là mĩ từ có giá trị làm đẹp câu thơ. Và vị trí thi nhãn phải rơi vào phách  mạnh của câu. Có như vậy thì khi ta đọc câu thơ lên, ý tứ ta muốn thổ lộ đã được tự nhiên nổi bật.

Về cao độ và trường độ của bài thơ, tại  bức thư số ba - cuốn Thi pháp thơ đường của Quách Tấn có đoạn: “…Khởi, Thừa, Chuyển, Hiệp là phép chung trong việc làm văn. Trong một câu có Khởi, Thừa, Chuyển, Hiệp của câu. Trong một thủ có Khởi, Thừa, Chuyển, Hiệp của thủ. Trong mười thủ có Khởi, Thừa, Chuyển, Hiệp của mười thủ…”. Nghĩa là viết một câu ý phải gọn gẽ một câu, trong một bài nội dung phải trọn vẹn một bài. Mà tiêu chuẩn để nhận xét xem có trọn vẹn hay không thì phải dựa vào Khởi, Thừa, Chuyển, Hiệp; hoặc là Đề; Thực; Luận, Kết.

Và cổ nhân xưa dạy rằng:

Khởi phải: Khai môn kiến sơn, đột ngột tranh vanh

Thừa phải: Thảo xà trắc tuyến, bất tức bất ly

Chuyển phải: Vạn khoảnh hồng ba, tất hữu cao nguyên

Hiệp phải: Phong hồi khí tụ, uyên vĩnh hàm súc

Nghĩa là:

Khởi phải như mở cửa thấy núi, đột ngột chênh vênh

Thừa phải như rắn cỏ, dây chuyền, chẳng tới sát mà cũng không rời xa

Chuyển phải như muôn khoảnh sóng lớn, tất có chỗ làm cao nguyên

Hiệp phải như phong hồi khí tụ, sâu thẳm, chứa đọng

Khởi, Thừa, Chuyển, Hiệp; hay Đề; Thực; Luận, Kết, tuy chỉ có thơ Đường luật quy định, nhưng trên thực tế nó là phép tắc chung trong làm văn, làm thơ. Kể cả thơ tự do, cũng nhất thiết phải nhớ thơ là một loại hình nghệ thuật được tách ra từ dân ca nhạc cổ, nên nó luôn luôn có tính nhạc.  Khởi, Thừa, Chuyển, Hiệp phải nối tiếp nhau nhịp nhàng trong giai điệu. Tự do có chăng là không bị gò bó theo kiểu tất cả các câu trong một bài phải năm chữ, bảy chữ, hay sáu/tám chữ, nhưng giai điệu thì phải hợp lý mới gọi là thơ được.

Lan Hoa xin chen ngang một câu chuyện của mình: có một thi hữu nhờ Lan Hoa ngâm một bài thơ tặng mẹ. Lan Hoa bỏ hai câu cuối không đưa vào bài ngâm. Anh bạn kêu ca Lan Hoa trình bày thiếu. Lan Hoa mới nói: Bây giờ em trình bày lại cho anh nghe để anh xem đến hai câu cuối thì nên đổ giọng thế nào cho mượt. Đến khi đó anh bạn mới ngộ ra thơ mình không chỉ lỡ làng âm giai, mà còn thừa cả nội dung câu cú. Tuy đã công nhận lỗi trong bài thơ ấy, nhưng anh bạn này vẫn cố cãi: “nhưng mà thơ tự do thì cần gì tính nhạc?”. Lan hoa liền trình bày một khúc trong bài thơ “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan. Anh bạn lúc này mới chịu đồng ý là kể cả thơ tự do cũng cần phải có giai điệu.

Có người cho rằng thể thơ tự do xuất xứ từ Tây phương, mới du nhập vào ta. Nhưng Lan Hoa lại nhìn thấy thể tự do ngay trong những bài dân ca nhạc cổ, và trong dòng thơ cổ của Đông phương cũng đã có từ xưa, không lấy làm mới mẻ gì.

 …
Núi ngàn ngoắt ngoéo đường lắm hướng, 
Mê hoa tựa đá bỗng tối om. 
Beo gầm rồng kêu núi khe dồn, 
Run rừng sâu hề rợn từng non. 
Mây xanh xanh hề mưa chớm, 
Nước mờ mờ hề khói un. 
Sét đánh chớp lòa, 
Gò nhào cồn tan. 
Động trời cửa đá, 
Ầm ầm mở toang. 
Xanh mờ thăm thẳm chẳng thấy đáy, 
Ánh trời ánh trăng ngấn bạc vàng. 
Mặc áo ráng hề cưỡi ngựa gió, 
Thần trong mây hề bời bời bay xuống đó

(Bài: Mộng du Thiên Mụ ngâm lưu biệt – Lý Bạch)

Sự thiếu trong thơ ca Việt Nam hiện nay, nhìn chung không chỉ thiếu hụt về giai điệu âm nhạc,  mà còn rất thiếu về cấu trúc nội dung. Có thi hữu khi đọc thơ của bạn bè tặng rồi ngán ngẩm ca thán: “ - Người đời nay không thể nào làm thơ hay như người đời xưa được!”. Lan Hoa hỏi lại: “- Bạn nghĩ lý do vì sao?”. Thi hữu ấy lắc đầu: “- Không biết! có lẽ là do cuộc sống bây giờ thực dụng quá làm cạn kiệt thi hứng…”. Lan Hoa nghĩ không phải thế. Thực dụng cuộc sống thì đời nào chẳng có, người xưa còn đói kém cơ hàn hơn ta đời nay, cớ sao không bị cạn kiệt thi hứng? Một nguyên nhân căn bản cần đề cập tới chỉ có thể là do giáo dục!

So với cổ nhân, Cầm – Kỳ - Thi - Họa là bốn trong một môn học mà chơi của các nho sĩ. Người giỏi Thi có biết căn bản về Cầm – Kỳ - Họa ; người giỏi họa có biết ít nhiều về Cầm – Kỳ - Thi… Do đó khi vẽ tranh, trong tranh có thơ; khi làm thơ, trong thơ có giai điệu, có hoạ…

Còn chúng ta ngày nay, đại đa phần là học văn lại không được học nhạc, họa, nên sự hiểu biết về nghệ thuật bị hạn chế, Nhiều người khi nghe nói đến “tính nhạc  trong thơ”, cũng gật gù ừ phải có tính nhạc! Nhưng chẳng mấy ai tận tường phải làm thế nào để thơ của mình có tính nhạc? Nói như vậy không có nghĩa là Lan Hoa giỏi giang gì mấy thứ này, cũng lơ mơ như các bạn thôi, bởi nào có được trường phổ thông đào tạo gì đâu. Và cũng bởi lơ mơ, nên Lan Hoa mới phải tự lục tìm tư liệu để nghiên cứu xem “nhạc tính trong thơ” là gì. Những thứ viết lên đây với Lan Hoa cũng chỉ là mới đọc, mới học. Rồi mai này cũng còn cần phải kiểm thảo lại mình, cần soát xét lại những bài thơ cũ của mình coi đã có chút gì gọi là "tính nhạc" hay chưa?

Vài lời đàm đạo với bạn thơ. Tâm sự này chỉ như là ngọn gió thu động rèm lay cửa. Bạn tâm giao biết tìm về đâu, chỉ thấy ngoài song...

Thu đã về kia lác đác vàng

Tuổi theo mùa điểm nếp dung nhan

Ngày đêm thơ phú ào ào vận

Năm tháng văn chương viết viết tràn

Tóc rối gió mùa rơi ánh bạc

Dạ bời heo hút vuột thời gian

Hai tay mười ngón còn nguyên cả

Hoài chẳng nên chi giữa khôn càn

BUỒN THU – Lan Hoa

====

Tài liệu tham khảo:

·        Đường thi tuyển dịch – Lê Nguyễn Lưu

·        Thi pháp thơ Đường – Quách Tấn

·        Dịch lý – Kinh thi


Để gửi ý kiến nhấp vào đây

Các tin khác:
 BÀN VỀ TỨ THƠ (17h: 06-07-2013)
 Thơ bốn câu (17h: 09-04-2011)