Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
 Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
PHÉP TU TỪ
 
(15h: 18-11-2013)
Nội dung này, Lan Hoa tổng hợp chủ yếu từ các tư liệu liệt kê dưới đây:
- “Chơi chữ” – Lãng Nhân
- “Nghệ thuât chơi chữ” – Triều Nguyên
- “Ẩn dụ hoá – một trong những cơ chế cấu tạo các đơn vị định danh bậc hai” của Hoàng Kim Ngọc
- “Tu từ cú pháp trong câu văn Nguyễn Tuân” của TS Đăng Lưu

 

 

PHÉP TU TỪ

Có lẽ sau cùng của cái sự gọi là “Kỹ năng dùng từ” là “Phép tu từ”.

Phép tu từ là phương cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ nhằm đạt tới hiệu quả của sự diễn đạt ý văn bản hay, đẹp, biểu cảm, lôi cuốn. Hay nói cách khác phép tu từ  là nghệ thuật đẩy kỹ năng dùng từ lên đỉnh cao của công việc sáng tác.

Nếu Lê Đạt nói: 

Thời trang là thuật của phái đẹp. 

Tu từ là thuật của nhà thơ, một phái đẹp khác 

Thì Trần Dần lại nói:

         Nắm lấy tu từ vặn ngoẹo cổ

         Viết như khạc nhổ mọi tu từ

Còn  Phan Ngọc lại khái quát kinh nghiệm rằng muốn học hỏi về phép tu từ nên tìm trong: "… câu thơ Nguyễn Du, câu đối Nguyễn Khuyến và câu văn Nguyễn Tuân."

Ta có thể phân chia phép tu từ ra 4 nội dung chính như sau:

1. Phép tu từ ngữ âm:cùng âm,điệp âm, điệp vần, điệp thanh, hài âm... là những phép tu từ ngữ âm.

         Ví dụ:

         Cùng âm:

 Anh hùng đến đó thì vô,

Không vô rồi lại trách vô vô tình.

Chữ “vô” thứ 1,2,3 mang ý nghĩa “vào”, nhưng chữ “vô” thứ tư thì mang ý nghĩa khác đi, “vô” là “không”.

Điệp âm: là dựa vào cách cấu tạo âm của tiếng Việt, điệp âm có thể chia ra 5 loại:

         - Điệp phụ âm đầu:

Thẳng thắn, thật thà, thì thua thiệt

Lọc lừa, lươn lẹo, lại lên lương.

- Điệp vần:  Là hiện tượng một số âm tiết nhất định trong văn bản có cấu tạo giống nhau phần vần, để tạo sự kết dính về âm  thanh, góp phần phân bổ nhip điệu và tăng sức gợi cảm (thường có ở trong thơ).

Ví dụ: trình tự cảm xúc của các chàng đi tán gái:

Năm nhất kiêu

Năm hai xiêu

Năm ba yêu

Năm bốn xìu

Năm năm tiêu!

song thanh điệp vận của Tuy Lý Vương:

Mây xây, núi túi, chim tìm tổ

Khách cách đường trường, nôốc  cột lau

Lỏng khỏng đào cao, nường phậu xấu

Lơ thơ liễu yếu chị đầu đau

         - Điệp phụ âm đầu và vần:

Đỏ choen choét, loẹt loè lo

Xanh lè lè, quắn quặp quặp

(Câu đố dân gian về bắp chuối)

         - Điệp thanh điệu:

Khí trời quanh tôi làm bằng tơ

Khí trời quanh tôi làm bằng thơ…

… sương nương theo trăng ngừng lưng trời 

Tương tư nâng lòng lên chơi vơi… 

(Bài “Nhị hồ” của Xuân Diệu) 

         - Điệp tiếng, điệp từ ngữ:

Là cách tu từ dùng sự lặp lại những từ ngữ, nhưng câu, những kiểu câu, kiểu phô diễn như nhau, nhằm mục đích nhấn mạnh nội dung biểu đạt.

Ví dụ:  Câu chuyện về Lưỡng quốc Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi được cử đi sứ sang Trung Quốc, đến cửa ải thì đã quá giờ, đang loay hoay chưa biết nên thế nào. Vị quan trông coi cửa ải, vốn là người hay chữ, biết tiếng Mạc Đĩnh Chĩ nên thả xuống vế ra thách đối, bày tỏ ý nếu đối được thì sẽ thông quan ải:

Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan.

(Qua cửa khẩu trễ, cửa ải đóng, mong quan khách được qua cửa ải)

Vế ra điệp tới 4 chữ quan và 3 chữ quá. Quả là một câu đối rất khó. Nhưng Mạc Đĩnh Chi cũng không lấy làm khó khăn chi cho lắm, cũng tỏ mặt anh tài nước Nam:

Tiên đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối.

(Ra đối thì dễ, đối lại mới khó, xin mời tiên sinh đối trước)

2. Phép tu từ từ vựng ngữ nghĩa: tương phản, so sánh, ẩn dụ, nói lái, phản ngữ... là những phép tu từ từ vựng ngữ nghĩa:

         Trong bài “Ẩn dụ hoá – một trong những cơ chế cấu tạo các đơn vị định danh bậc hai” của Goàng Kim Ngọc, có đoạn viết:

         “Về bản chất, phép so sánh và phép ẩn dụ là một; chúng đều nằm trong một phạm trù khái niệm rộng hơn mà truyền thống ngữ văn học Việt Nam gọi là thể tỉ. Sự khác nhau giữa phép ẩn dụ và phép so sánh chỉ ở chỗ: Phép so sánh bao giờ cũng hiển ngôn toàn bộ các thành phần trong cấu trúc của mình, nghĩa là có mặt tất cả các yếu tố như từ ngữ biểu thị cái được so sánh (bao gồm cả thuộc tính, hay bình diện được so sánh), từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh và từ ngữ biểu thị cái được dùng làm chuẩn để so sánh (nói gọn lại là cái so sánh), vì thế có người còn gọi là so sánh nổi, ví dụ:

Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

Còn phép ẩn dụ là so sánh ngầm (so sánh chìm), không hiển ngôn, nghĩa là trong cấu trúc so sánh ở đây sẽ ẩn đi cái được so sánh (bao gồm cả thuộc tính hay bình diện được so sánh) và từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh, ví dụ:

                                       Tằm ơi say đắm nơi đâu

                             Mà tằm bỏ nghĩa cành dâu không nhìn? 

Tằm và cành dâu ở đây là những ẩn dụ, là hệ quả của phép ẩn dụ hóa (so sánh ngầm)…”

Lộng ngữ hay chơi chữ  là một phương pháp tu từ tập trung khai thác những tương đồng về ngữ âm, ngữ nghĩa, văn tự, văn cảnh nhằm tạo ra những liên tưởng bất ngờ, thú vị, và đôi khi mang tính trào lộng, hài hước nên được ứng dụng nhiều trong các thể loại như trào phúng, ngụ ngôn, tiếu lâm, ca dao trào phúng, hài kịch vv…

Sử dụng nói lái cũng là phép tu từ vựng ngữ nghĩa. Nói lái để đùa vui, để đánh đố nhau; Nói lái để châm biếm đả kích, để văng tục mà không quá thô thiển; nói lái để làm đẹp lời…

Có một giai thoại về một anh nông dân quê ở vùng Long Tiên, Cai Lậy lên Tây Ninh lập nghiệp và theo học đạo Cao Đài. Sau lại quay về quê cũ. Ông Nghị Sảnh nhân cơ hội này đã viết tặng anh này đôi câu đối:

Tích nhật bá nhàn đặng Thánh thất

Kim tiền vị ngãi phản Tiên hương

Bá nhàn là bán nhà; vị ngãi phát âm theo tiếng Nam Bộ là dị ngãi, là dại nghĩ.

3. Phép tu từ cú pháp: Trong bài: “Tu từ cú pháp trong câu văn Nguyễn Tuân” của TS Đăng Lưu có đoạn viết:

“Sóng đôi cú pháp: Đây là biện pháp tu từ có gốc gác từ văn chương biền ngẫu thời trung đại. Trong phú, văn tế, câu đối, thơ, và cả trong văn xuôi, từng cặp câu, từng ngữ đoạn thường đối nhau chan chát về từ loại, thanh điệu, ý nghĩa. Đối với văn xuôi nghệ thuật hiện đại, biện pháp sóng đôi chẳng khác gì con dao hai lưỡi: dùng nó, hoặc sẽ cho những hiệu quả nghệ thuật nhất định, hoặc sẽ bị quẩn trong kiểu đăng đối biền ngẫu rất cũ kĩ, tạo nên một thứ nhạc điệu du dương mà chính Nguyễn Tuân không ngần ngại gọi là "con hoang của thể phú". Câu văn của Nguyễn Tuân trong những truyện ngắn thời kì đầu vẫn chưa thoát khỏi tình trạng này: “Vả chăng, người giai nhân đã đi, cái hào hoa cũng tận”… “Tơ liễu khóc mưa, tóc tùng reo gió, bóng tre lìa bụi, đều ngậm một cái tình buồn trước cái hương trời lăn lóc khoảng vườn hoang” (Vườn xuân lan tạ chủ). Không chỉ có Nguyễn Tuân, nhiều nhà văn thời đó ít nhiều còn vướng víu kiểu đăng đối của phép sóng đôi trong văn chương cổ …

Tách câu (còn gọi là chiết cú): “là một biện pháp tu từ cú pháp nhằm tách các bộ phận của một câu có cấu trúc ngữ nghĩa - ngữ pháp thống nhất thành những phát ngôn biệt lập bằng một chỗ ngừng, hay một dấu chấm ngắt câu, với một dụng ý đặc biệt, hoặc do nhịp cảm xúc của giọng văn”.

Xét trong nội bộ một câu, biện pháp tách câu “là sự cố ý vi phạm chuẩn mực cú pháp”. Những câu như thế không thể đứng độc lập. Tuy nhiên trong văn bản, nó lại tồn tại một cách hoàn toàn hợp lí. Thành phần thiếu khuyết trong câu tách biệt (chẳng hạn danh từ làm chủ ngữ) dường như đã được giải thích bằng sự có mặt của nó ở câu trước đó mà nó có quan hệ tất yếu về ngữ nghĩa.

Câu tách biệt thường có cấu tạo khá giống nhau. Nó có thể là một từ, một cụm danh từ, cụm tính từ hoặc cụm động từ được tách ra từ một câu. Do vậy, Nguyễn Tuân không cần tìm tòi gì nhiều ở phương diện này. Đây là dạng thức thường thấy của câu tách biệt trong lời văn của ông:

- “Người nữ tì đã đứng trước lều cỏ. Ông cụ Sần chờ một lời quở mắng. Nhưng không” (Trên đỉnh non Tản).

- “Lúc này, cậu Lãnh chỉ biết có sự thẩm âm. Âm trúc, âm tơ” (Chùa Đàn).

- “Người ta càng ngơ ngẩn với non xanh. Mà thêm tần ngần” (Trên đỉnh non Tản).

- …”

4. Phép tu từ văn bản:  hài hoà tương phản, tuân thủ quy định về đoạn trong văn bản là những phép tu từ văn bản.

***

Bàn về phép tu từ nói riêng và các vấn đề về ngôn ngữ nói chung, đặc biệt là ngôn ngữ trào lộng, thì rất thú vị. Nhưng mà cũng “tràng giang” lắm. Chẳng biết dừng ở đâu cho gọi là điểm kết thúc mà mọi người có thể mĩ mãn? Phlanhoa không dám cả gan đề là bài viết của mình, mà chỉ dám nói là “tổng hợp các sưu tầm”. Mượn ý tứ của các bậc tài cao bàn về đề tài “Phép tu từ”, cố gắng chắt lọc ngắn gọn lại, giới thiệu cho người mới tập làm thơ, viết văn có được một khái niệm tổng quát về phép tu từ. Còn thì để hiểu sâu thêm, xin mời quý vị tìm các tác phẩm trên để đọc. Tỉ như cuốn “Nghệ thuật chơi chữ” của Triều Nguyên những 815 trang, mà trang nào cũng chứa chất kinh nghiệm chơi chữ uyên thâm của người xưa. Lan Hoa không dễ gì giới thiệu cho hết được. Dẫu vậy Phlanhoa vẫn hi vọng bài viết này có ích cho mọi người.

========

Đọc thêm: 

Tu từ cú pháp trong câu văn Nguyễn Tuân 

 - TS Đăng Lưu

Ẩn dụ hoá – một trong những cơ chế cấu tạo các đơn vị định danh bậc hai

 - Hoàng Kim Ngọc


Để gửi ý kiến nhấp vào đây

Các tin khác:
 Nguyên lý cấu trúc nhịp thơ (15h: 01-09-2013)
 Nhạc tính trong thơ (21h: 17-08-2013)
 BÀN VỀ TỨ THƠ (17h: 06-07-2013)
 Thơ bốn câu (17h: 09-04-2011)