Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
 Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
Bát bệnh là bát bệnh ơi...
 
(13h: 30-11-2013)
Bài viết của Phan Lan Hoa chia sẻ với anh Trần Khẩu và các bạn học làm thơ có cùng thắc mắc của anh Trần Khẩu.
Tuy nhiên cho đến thời điểm viết bài, tôi chưa hề là nhà thơ, hay nhà văn gì cả. Mọi kiến thức đều tự tìm tòi, tự học hỏi và có bạn hỏi thì chia sẻ, vậy thôi, không dám rao giảng cho ai đã thành tài, đã có danh xưng...

Anh Trần Khẩu (Quảng Ninh) đã viết:

O Ví trót dấn thân, đề nghị O Ví viết tiếp về cái gọi là "Bát bệnh Đường thi"! Trong đó có cái cần nghe, có cái bỏ ngoài tai (Ví dụ bệnh nữu...)? Ai phịa ra thứ quái quỉ này? Từ bao giờ? Hay giở của cái lí toét này theo quan điểm của O Ví ?!

 

 

CÓ HAY KHÔNG BÁT BỆNH THƠ ĐƯỜNG LUẬT ?

                                                     Phan Lan Hoa

***

             A. Phân biệt một số khái niệm   

        Gọi là thơ Đường, nhưng thực chất dòng thơ này có từ rất lâu trước thời Đường, thịnh ở thời Đường. Người Việt Nam có quyền tự hào vì một trong bốn vị được tôn vinh là “Sơ Đường tứ kiệt”, có Vương Bột (650-676), quê ở tỉnh Thái Nguyên, là con trai của Vương Phúc Cơ – làm quan huyện lệnh Hoan Châu (Nghệ An). Và chúng ta cần phải phân minh rõ ràng vài khái niệm thì mới bàn được về Bát bệnh: 

          - Thơ Đường và Thơ Đường Luật là hai khái niệm khác nhau. Thơ Đường luật chỉ là một khái niệm nhỏ trong khái niệm tổng thể Thơ Đường.

          Để đảm báo tính chính xác, tôi xin phép gọi là Thơ Đường theo ngôn ngữ thuần Việt, bởi chữ “thi” trong Đường thi theo nghĩa tiếng Hán bao hàm toàn thể các thể loại văn, văn vận, phú (văn học nói chung). Thơ Đường thuộc thể loại Văn vận của Đường thi.

          Trong thể loại được gọi là Thơ, lại được phân chia thành nhiều thể loại nhỏ hơn: Thơ tam ngôn, tứ ngôn, ngũ ngôn, lục ngôn, thất ngôn, bát ngôn và tự do ngôn… Ban đầu của thủa sơ khai, thơ ở thể tự do ngôn. Như vậy, bạn học làm thơ cần phải hiểu, thể thơ tự do bây giờ nhiều người cứ tưởng là thơ mới, trên thực tế nó là thể thơ cổ nhất của thể loại văn vận (thơ).          

          Ở đây, tôi cũng xin bàn thêm một ý nhỏ. Nhiều người do xuất phát từ tấm lòng yêu nước, những muốn bảo thủ cho văn hóa dân tộc, nên lớn tiếng tuyên bố từ chối diễn đàn thơ Đường Luật, vì họ cho rằng làm thơ Đường luật là tôn vinh văn hóa Trung Hoa? Xin quý vị suy xét lại cho cạn cùng kẻo mà oan cho thơ và người làm thơ? Chỉ có thơ Lục bát là thuần Việt thôi, còn các thể loại thơ khác đang thịnh hành tại Việt Nam, đều có nguồn gốc xuất phát chung từ Cổ Thi. Cổ Thi không hẳn chỉ có ở nước Hán, mà có ở khắp hàng trăm nước lớn nhỏ trong lịch sử xa xưa, mà địa giới bây giờ gộp chung lại, thì cơ bản thuộc địa phận hai quốc gia Trung quốc và Việt Nam. Và chẳng qua vì đến thời nhà Đường, nền thi ca phát triển rực rỡ, được định hình rõ nét nhất từ trước về các thể loại, nên được nôm na gọi là thơ Đường. Bạn nên nhớ, thời kỳ này Việt Nam ta bị lệ vào nước Hán, là quận Giao Châu của nước Hán, nên Đường thi không hề là riêng của người Tàu. Ví dụ như thánh thi Vương Bột (Vương Tử An) là người Việt Nam như đã nhắc đến ở trên.

          - Thơ Ngũ ngôn và thơ Ngũ ngôn bát cú cũng là hai khái niệm khác nhau; theo đó thơ Thất ngôn và Thất ngôn bát cú cũng vậy.

          Thơ Ngũ ngôn (5 chữ) và Thất ngôn (7 chữ), đặt yếu tố mặc định số lượng chữ trong mỗi câu, nhưng không hạn chế số lượng câu.

          Thơ Ngũ ngôn bát cú và Thất ngôn bát cú là thể thơ ngũ ngôn và thất ngôn bị hạn chế số lượng câu. Nội dung chỉ gói gọn trong 8 câu. Vậy mà trong thể loại Ngũ ngôn bát cúThất ngôn bát cú lại được chia làm hai loại: Thơ Cổ phong (hay Cổ thể) và Thi luật. Thể loại gọi là Thi luật là loại thơ bát cú được áp luật, dùng để thi cử ở thời Đường, nên gọi là Đường Luật. Như vậy ta cần nhớ, Thi luật chỉ áp dụng cho hai thể thơ Ngũ ngôn bát cú và Thất ngôn bát cú.  Nhưng như đã nói Thất ngôn bát cú và Ngũ ngôn bát cú có hai loại Cổ thể và Thi luật, cho nên khi đọc một bài thơ dạng này, nếu thấy không đối thì xin mọi người đừng vội lên giọng phê phán rằng sai, mà phải nghĩ đến thể thơ Cổ phong.       

Bây giờ thì tôi xin được phép bàn vào câu hỏi của anh Trần Khẩu:

B. “Bát bệnh” là gì? Có từ khi nào? Ai là người đặt ra?

Từ thời Lục Triều, sang đến đời Tùy (221-621), rộ lên phong trào nghiên cứu thanh, vận của các thi nhân. Lúc bấy giờ Thẩm Ước (có sách đề là Trầm Ước) đã soạn ra hai bộ lý thuyết Tứ thanh và Bát bệnh, rất được hưởng ứng trên thi trường, sau thì được đem áp dụng cho thơ Ngũ ngôn. Xin nhấn mạnh, Ngũ ngôn đây là Ngũ ngôn cổ thể, không phải Ngũ ngôn bát cú thi luật. Khoảng hơn nửa thế kỷ sau, đến thời Đường, khi luật thơ dùng cho thi cử được ban bố, cơ bản những lỗi trong Bát bệnh mà Thẩm Ước phát hiện đã được luật hoá để không còn lỗi. Bát bệnh sau đó không còn được sử dụng.

          Bẵng đi hàng ngàn năm, gần đây bỗng nhiên rộ lên một bộ bát bệnh mới dùng cho thể Thất ngôn bát cú không rõ tác giả là ai? Nội dung “thi bệnh” mới không hoàn toàn giống với Bát bệnh của Thẩm Ước và có nhiều điểm mâu thuẫn với phép dụng từ, dụng thanh điệu và phép đối của Thể chính cách luật. Đó là chưa nói đến việc bắt bệnh của các “bác sĩ” trên các diễn đàn thơ Đường luật còn dùng luật của Thể chính cách để bắt lỗi cả cho Thể thiên cách. Điều này đã gây khó dễ không ít cho người làm thơ?

           Tôi sẽ lần lượt giới thiệu hai nội dung Bát bệnh cũ và mới để moi người tiện bề so sánh. Về phần cá nhân, tôi sẽ có nhận xét riêng của mình khi thấy cần thiết trong quá trình giới thiệu nội dung… 

Tám lỗi thường phạm trong thơ Ngũ ngôn cổ thể do Thẩm Ước bắt bệnh (theo sách “Thi pháp thơ đường – Quách Tấn”):

1. Bình đầu: Bình là ngang bằng, là hai chữ đầu câu của hai câu liền kề bị trùng thanh. Nếu hai chữ đầu của câu trên trùng thanh độ (trùng dấu) với hai chữ đầu câu dưới thì phạm lỗi. Ví dụ:

Rường mây thẫm màu xa

Đào phai  khoe sắc hoa

        Khi sang Thi luật, quy định trắc bằng đã giải quyết vấn đề này.

2. Thượng vĩ: Vĩ là đuôi, thượng vĩ là vếch đuôi cao lên. Nếu Bình đầu tính lỗi ở hai chữ đầu, thì thượng vĩ tính lỗi ở hai chữ cuối của câu gần kề không được trùng thanh độ. Đặc biệt là chữ thứ 5 cuối cùng của câu thơ ngũ ngôn. Ví dụ:

Cửa ải bóng cờ bay

Gió đưa lẫn cùng mây

3. Phong yêu: là hai đầu phình ra, ở giữa thắt lại như con ong nên gọi là phong yêu. Là chữ thứ 2 và chữ thứ 5 trong một câu không được trùng thanh độ. Ví dụ:

Chiều thu lá vàng bay

Mặt biển màu xanh thẳm

4. Hạc tất: hay gối hạc. Là chữ thứ 5 của 2 trong 3 câu liền kề không được trùng thanh độ. Ví dụ:

Hoa gạo rơi lã chã

Mưa xuân lất phất bay

Hai đứa mình đôi ngã

Biệt ly kể từ đây

5. Bàng nữu: Nữu là âm căn, chữ ở câu trên trùng căn âm với chữ câu dưới liền kề thì gọi là bàng. Trong giới hạn 10 chữ của 2 câu liền kề không được dùng những chữ cái có cùng một nữu. Ví dụ:

Nhành hoa xoan la đà

Thơm đã vương đầu ngõ

6. Chánh nữu: Nếu bàng nữu tính lỗi cùng nữu ở hai câu liền kề, thì chánh nữu là lỗi cùng nữu ở trong cùng một câu. Ví dụ:

Tiếng rao trong mưa rào

7. Đại vận: Thơ Ngũ ngôn cổ thể thường được gieo vần ở câu chẵn, cho nên chữ thứ 10 của hai câu lẻ chẵn liền kề được gọi là vận. Đại vận là 9 chữ đứng trước vận không được trùng với khuôn âm với vận (bao gồm cả vận chính và vận thông). Ví dụ:

Miếng trầu têm mời bạn

Đọi nước đón khách chơi

Chữ chơi là vận, chữ mời bị trùng khuôn vần với vận

8. Tiểu vận: dù không trùng khuôn vần với vận, thì 9 chữ đứng trước vận, cũng không được dùng hai hoặc nhiều chữ cùng một khuôn vần. ví dụ:

Nhành hoa xoan la đà

Thơm đã vương đầu ngõ

Bát bệnh mới của thơ Thất ngôn bát cú (không rõ tác giả):

1. Bình đầu: Hai hoặc ba chữ đầu của 4 câu liền kề nhau không được dùng một loại tự (tính từ, danh từ, …)

Ví dụ:

Hay cợt người chi một chữ tình

Thôi đừng dở rối lại buôn tênh

Giọng rầu rĩ dế càng đưa tiếng

Mặt ủ ê hoa khéo đạm hình

Gió phưởng phất chiều kề trước giại

Nguyệt mờ mệt vẻ hé bên mành

Đến Dương bao nả hơi xuân bén

Đành để riêng ai chịu bất bình

                                         Khuyết Danh

2. Thượng vĩ: Ngược lại với bình đầu, lỗi thượng vĩ bắt ở 3 chữ cuối câu của 4 câu liền kề cùng một loại tự.

3. Phong yêu: chữ thứ 2 và chữ thứ 7 không được trùng thanh độ

4. Hạc tất: chữ thứ 4 và chữ thứ 7 không được trùng thanh độ

5. Bàng nữu: trong hai câu liền kề không được dùng nhiều chữ cùng một gốc âm căn

6. Chánh nữu: Không được cùng nữu trong một câu

Cảm nhận của tôi: Dụng từ láy là một lối chơi chữ nghệ thuật của người Việt Nam. Nhưng với quy định này, vị nào mà hay dụng từ láy coi như chào thua. Ví dụ như mấy từ đom đóm, biêng biếc, thoang thoảng, vv… đều là cùng nữu cộng vời cùng khuôn vận? Thậm chí, trong các lối chơi thơ Đường luật phá cách ở Việt Nam, có một lối chơi gọi là Song thanh điệp vận, nếu đem chiểu với Bát bệnh thì coi như “ cảm bệnh” hết cả 8 câu. Ví dụ như bài dưới đây:

Tai nghe gà gáy tẻ tè te

Bóng ác vừa lên hẻ hé he

Non một chồng cao von vót vót

Hoa năm sắc nở loẻ loè loe

Chim, tình bầu bạn kia kìa kỉa

Ông, nghĩa vua tôi nhẹ nhẻ nhè

Danh lợi mặc người ti tí tỉ

Ngủ trưa chưa dậy khoẻ khoè khoe

Khuyết danh

7. Đại vận: Là chữ thứ 4 bị trùng khuôn vần với chữ thứ 7

8. Tiểu vận: Là chữ thứ 2 bị trùng khuôn vận với chữ thứ 7

Cảm nhận của tôi: Kết quả bắt lỗi thơ Ngũ ngôn bát cú theo Bát bệnh cho ta thấy cũng bi hài không kém chi bên Lục bát, các gốc đa gốc đề của dòng thơ Đường luật Việt Nam bị dính lỗi te tua:

Siếu mai chi dám tình trăng gió

Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh

Hồ Xuân Hương

Một ngày hai bữa cơm kể cửa

Nửa bước ra đi lính phải hầu

Trần Tế xương

Chính bệ dân lời dù khép nép

Bốn phương trông ngóng cũng nương nhờ

Phan Huy Ích

Nước non nào phải của ai đâu

Nhiều ít công hầu cũng mặc dầu

Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nguyễn Bỉnh Khiêm được người Việt Nam và cả người Trung Quốc cùng gọi là Trạng Trình, uyên thâm bác học đến thế mà lại chỉ với hai câu thơ đã phạm tới 6/8 lỗi của các “bác sĩ Đường luật” thời nay, bao gồm lỗi: phong yêu, hạc tất, bàng nữu, chánh nữu, đại vận và tiểu vận. Thế thì hỏi có còn hay ho nỗi gì ?!        

Vậy mà tôi nghe mọi người nói rằng bảng liệt kê “bệnh” mới nhất cho dòng thơ Đường luật trên các thi đàn, không còn là Bát bệnh, mà là Tam thập tứ bệnh (34 lỗi) cả thảy? Tôi có lẽ không nên tìm hiểu thêm là những bệnh gì, bởi tôi chợt  thấy một căn bệnh thứ 35 đang xuất hiện: Đó là hàng loạt người làm thơ Đường luật đang nổi khùng và văng bậy vì sự giăng mắc rối rắm của “bệnh”, trong khi các bậc “thầy” chuyên bắt lỗi thơ thì tỏ vẻ đắc ý, kiêu ngạo đến tận trời !?

Gói gọn trong khuôn phép của mối quan hệ bạn thơ với nhau, tôi chỉ xin đưa ra ý kiến cá nhân sau đây để các bạn suy nghĩ:

       Thẩm Ước khi xưa soạn ra bộ Bát bệnh để làm kim chỉ nam cho các thi nhân biết cách gò chữ vào khuôn phép của nhạc vận. Nhưng chúng ta phải hiểu rằng, thời của Thẩm Ước, thanh nhạc còn sơ khai, còn đang ở bước đầu nghiên cứu. Khoảng hơn nửa thế kỷ sau đó, ở thời đầu Đường, thi bệnh do Thẩm Ước liệt kê đã được đem ra xem xét, cơ bản lỗi nặng đã được luật hóa bằng Thể chính cách thơ Đường luật.

Tuy vậy, trong quá trình thực hành, các thi nhân vẫn cảm thấy bức xúc bởi sự gò bó của Thể chính cách, từ đó mà Thể thiên cách ra đời. Ở Thể thiên cách, chữ thứ 1, 3, 5 của câu được thả nổi (bất luật). Nghĩa là người làm thơ có thể gieo trắc bằng tùy thích tại những chữ này trong câu mà không sợ phạm luật, miễn là đọc lên thấy hay.    

      Thiên cách, đừng hiểu là phá luật, mà phải hiểu ở góc độ tiến bộ hơn, đó là sự là đột phá, cải tổ luật cho phù hợp. Lúc này nốt nhạc không còn là Ngũ thanh mà đã thêm biến cung, biến chủy để thành Thất thanh. Ở Thể chính cách, sự biến thiên của 7 nốt nhạc trong 8 câu được mặc định cho bài Đường luật là 4 tổ hợp âm giai; Nhưng với Thể thiên cách, sự biến thiên này có khả năng cao hơn, với 7 câu, người làm thơ có thể hợp thành 7 tổ hợp âm giai khác nhau. Câu thứ 8 được xem như chuyển trường đoạn, mà người làm thơ Đường luật nên hiểu nôm na rằng, nếu bài xướng ở luật bằng, thì bài họa tiếp theo phải ở luật trắc, và ngược lại. Có như thế, xướng họa mới đi vào sự nhịp nhàng của giai điệu, trường đoạn của âm nhạc. Xướng - Hoạ trong thơ Đường luật cũng giống như bạn hát song ca vậy, sự nối tiếp phải trên cùng một bản nhạc, cùng một tông giọng, cùng nối tiếp và hoà quyện giai điệu.   

          Trên thực tế, cũng chứng minh cho thấy: những bài thơ hay lưu truyền cho tới ngày nay đều ở thể thiên cách! Nghĩa là bạn phải hiểu rằng, sau khi ra đời, thể thiên cách đã làm thoả mãn yếu tố sáng tạo của người làm thơ, giúp cho dòng thơ Đường luật bước lên đỉnh vinh quang của văn học nghệ thuật. Và vì vậy, thể chính cách tất yếu trở thành “bản luật lỗi thời”, ít người theo, chỉ còn lưu lại ở dạng giáo dục căn bản trên thi đàn mà thôi.

          Lịch sử thi đàn Việt Nam, vô số những bài Đường luật để đời ở dạng Lộng ngữ (chơi chữ) trong dân gian đều nhờ vào sự thả nổi  không gò luật ba chữ 1,3,5 trong câu thất ngôn. Tôi xin được lấy một vài ví dụ:

BÁN THAN

Một gánh kiền khôn quẩy tếch ngàn

Hỏi chi bán đó? – Dạ rằng: than!

Ít nhiều miễn được đồng tiền tốt

Hơn thiệt nài bao gốc củi tàn

Ở với lửa hương cho vẹn kiếp

Thử xem vàng đá có bền gan

Những e nhem nhuốc toan nghề khác

Song lệ trời kia lắm kẻ hàn

(Bài thơ này tương truyền của một vị quan triều Lê, khi nhà Lê mất ngôi, ông lui vào núi ở ẩn, làm nghề bán than. Một hôm có ông quan đương nhiệm thấy phong thái khác thường của người bán than bèn sai lính bắt lại, yêu cầu làm một bài thơ vịnh nghề bán than mới thả.) 

 

VÔ ĐỀ - Hồng Bảo

Vân đạm. phong khinh, nhất diệp châu

Hoa cù ẩn ước nhị tầng lâu

Tuyết ngưng địa thượng tam đông lãnh

Nguyệt đáo thiên trung tứ bích sầu

Cầm vận ngũ huyền ca nhã hứng

Kì vi lục cuộc thức doanh thâu

Thi hành thất bộ chung hoài cổ

Họa nhập tiêu tương bát cảnh đồ

(Hồng Bảo là anh ruột vua Tự Đức)       

Đồng ý là ở mọi thời đại, đều luôn luôn cần sự sáng tạo, để duy trì và  phát triển. Nhưng thiết nghĩ, còn bàn xem sự thể có thực chất là sáng tạo hay không? Đơn cử như việc người xưa do đã bị gò bó bởi thể chính cách, nên mới khai thông sự tù túng bằng thể thiên cách. Sao bây giờ các hậu duệ lại còn đem cái “bản luật lỗi thời” để “dội bom” người làm thơ? Đã bảo "nhất tam ngũ bất luận" cơ mà sao lại còn cứ luận làm gì? Như thế đâu có gọi là sáng tạo được?

      Có lẽ cần có một giới hạn cần thiết, ví dụ như định nghĩa về thơ nói chung; Quy định luật phải bằng văn bản của ngành văn hóa cho các thể loại thơ có luật như Lục bát, Đường luật… Từ đó mới có cơ sở đánh giá một bài thơ như thế nào là hoàn hảo? Phải có con đường sắc thái riêng của thơ, để người làm thơ không mất phương hướng, tránh trường hợp không biết chắc chắn là mình đang làm thơ hay viết văn? Vì nếu không có giới hạn, không có luật, các vị giám khảo chấm các cuộc thi thơ, lấy gì làm cơ sở để chấm giải? Hay cứ đa số BGK khen hay thì hay? Nhỡ BGK bảo hay mà công chúng bảo dở thì làm thế nào?

          Liệu các nhà văn hóa đã có ai nghĩ đến việc phải có một cái hội nghị bàn tròn cho vấn đề này? Đó còn là nguyện vọng và sự chờ đợi của của người yêu thơ trong tương lai.

====

“Cao kiến” của Phan Lan Hoa gửi Trần Khẩu:

Nếu thực hành mãi mà không thể điều trị được hết “bệnh” cho thơ, thì thôi đừng dại phô ra là mình làm thơ Đường luật hay thơ Lục bát nữa, mà nên tìm về với cái “căn”, có thể “lách luật” bằng cách sau:

- Nếu là thơ Lục Bát ghi dưới tên bài thơ: (Thơ làm theo phong cách thơ Nguyễn Du, Tản Đà…)

- Nếu là Thất ngôn bát cú ghi: (Thơ làm theo phong cách thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến, Hồ Xuân Hương…)

====

Tư liệu sử dụng cho bài viết:

Thi pháp thơ đường – Quách Tấn

Nghệ thuật chơi chữ - Triều Nguyên

Lãng Nhân chơi chữ

Đường thi tuyển tập – Lê Nguyễn Lưu

 

 


Để gửi ý kiến nhấp vào đây

Các tin khác:
 Như thế nào được gọi là một bài thơ? (15h: 25-11-2013)
 PHÉP TU TỪ (15h: 18-11-2013)
 Nguyên lý cấu trúc nhịp thơ (15h: 01-09-2013)
 Nhạc tính trong thơ (21h: 17-08-2013)
 BÀN VỀ TỨ THƠ (17h: 06-07-2013)
 Thơ bốn câu (17h: 09-04-2011)