Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
 Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
Bàn về phép đối thơ
 
(23h: 08-01-2014)
Bài viết của Phan Lan Hoa
***
... Thiết nghĩ cha ông ta đã tạc ra một nền móng thi ca vừa kiên cố truyền thống, vừa mở mang văn đàn như thế. Hà cớ hậu duệ đời nay lại tự gò bó, chặt chém nhau hạn hẹp trong mỗi một phép đối chữ? Tại sao không tiếp nối truyền thống cha ông, triển khai cho hết các phép đối cho nó rộng đường thi ca. Quý vị cho rằng không thi vị, hay là khó quá không tiếp thu đặng kiến thức người xưa...

 

 

BÀN VỀ PHÉP ĐỐI THƠ

Phan Lan Hoa

Tôi thấy văn hóa chơi thơ của các nhóm thơ Đường luật có vấn đề? Mọi người chặt chém thơ nhau cứ gọi là bất cần biết đến lý thuyết thi luật đang sử dụng có xuất xứ từ đâu? Sách nào? Có đúng hay là đương sai?

Trên các diễn đàn, người này chê thơ người kia một cách gay gắt. Mà gay gắt ở đây lại toàn những ngôn từ chẳng thơ tý nào. Có người thì ưa dùng từ mạnh để chửi người khác ngu xuẩn; có người thì dùng thơ để trổ tài chửi. Thật là chán phải không thưa quý vị?

Một trong những điểm nổi cộm mà các “thày” thơ Đường luật thường đắc dụng để “tiệt hạ” nhau là hai cặp Thực, Luận, chỉ vì Thi luật quy định hai cặp này phải đối, và đối thì khó hơn nên thường mắc lỗi. Nhưng mà các “thày” càng đao to búa lớn chặt chém nhau thì càng thể hiện sự học lý thuyết không đến đầu đến đũa của mình. Tôi có một nhận xét là các môn đệ trường phái thơ Đường luật thường quên xem xét về cấu trúc ngữ pháp, quên về cú pháp thơ khác với cú pháp văn xuôi và nữa là không tận tường phép đối có những gì? Cứ hễ thấy thơ ngũ ngôn/thất ngôn bát cú là lao vào băm bổ chê bôi. Điều đó chứng tỏ các "thày chê" đã không biết rằng thể thơ Đường có hai loại thơ cổ thể và thơ thi luật. Chỉ có thơ thi luật mới đòi hỏi đối. Tuy nhiên đối trong Đường thi luật có hai kiểu đối là đối chữđối ý. Còn khi ở Ta thì Thi luật được biến tấu thêm nhiều kiểu chơi chữ, cũng như nhiều kiểu đối thơ khác, khiến cho dòng thơ gọi là Thi luật trở nên phong phú và thi vị vô cùng. Phép đối đa dạng, phóng khoáng chứ không nhất nhất chỉ có dạng đối biền ngẫu. Không chỉ có chỉnh đối, mà có cả khoan đối, tá đối, thậm chí có cả phiến đối, giao cổ đối…  

Nhân việc bị chê không biết đối. Tôi xin chia sẻ một bài tổng hợp các phép đối thơ sưu tầm từ chỗ sách cũ mua của người bán ve chai…

A. Các thể loại câu đối

1. Câu tiểu đối :

Câu tiểu đối trong văn nói: Có từ ba đến bốn chữ, vế xướng chỉ có thanh trắc hoặc thanh bằng và vế đối ngược lại, ví dụ:

Trời xanh thiên thanh (4 chữ đều thanh bằng)

Nước bạc trắng tuyết (4 chữ đều thanh trắc)

- Câu tiểu đối trong thơ: hay còn gọi là Cú trung đối:

+ Câu tiểu đối trong thơ Lục bát: Trong một câu thơ có hai ý nhỏ đối nhau. Ta thường gặp nhiều trong thơ lục bát, ví dụ:

Làn thu thuỷ nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

+ Tiểu đối trong thơ Thi luật:

Cướp của đánh người quân tệ nhỉ

Xương gà da cóc có đau không

(Nguyễn Khuyến)

2.  Câu đối phú: Là một thể văn vần có cấu trúc phức tạp, bao gồm câu, vế ngắn, vế dài, lại có lối diễn đạt lai văn xuôi, nên có thể định nghĩa Phú là một dạng biến văn kết hợp giữa vần lai văn xuôi.

Ví dụ:

Ai nấy dại vô cùng, pháo pháo nêu nêu kinh những quỷ

Ta nay nhàn bất trị, chè chè rượu rượu sướng bằng tiên

(Nguyễn Khuyến)

Câu đối phú nhiều khi dài dằng dặc tới mấy dòng:

Hành niên qua nạo đến cùn xương, nào tiền nhà, nào tiền học, nào tiền thuế, nào tiền ăn, nghĩ đời sống lắm phen chớ phở.

Mùi tết mới tha hồ béo mỡ, này chén rượu, này chén chè, này chén anh, này chén chú, gặp ngày xuân thoả sức đá gà.

3. Câu đối thơ: Thường có hai dạng:

         - Đối trong thơ Đường: Gồm có phép công đối và khoan đối (sẽ chi tiết ở phần sau).

          - Đối trong thơ Lục bát: Hoặc là đối nguyên cả hai câu 6-8 này  với hai câu 6-8 khác; hoặc là dụng câu tiểu đối để xây dựng hai vế đối nhau trong một câu:

Ví dụ đối nguyên hai câu 6-8:

Tướng chàng nho sĩ tốt tươi

Ước chi thầy mạ (mã) xe đôi cho chàng.

(Vế ra của các O phường vải Xứ Nghệ)

Lên voi, xuống ngựa, tốt chiều,

Chàng gan tướng sĩ, thiếp liều pháo xe.

(Vế đối của các Đồ Nghệ)

Tiểu đối:

Một mai ai chớ bỏ ai

Chỉ thêu nên gấm sắt mài nên kim

B. Các phép đối chính của thể loại câu đối  nói chung:

1. Biền ngẫu: là cách kiến trúc câu theo cú thể song song, đặt thế nào cho các lời, các ý tương xứng.

2. Đối chữ: Hán đối với Hán, Nôm đối với Nôm, Việt đối với Việt, Hán Việt đối với Hán Việt;

3. Đối ngữ: danh từ đối danh từ, động từ đối với động từ, tính từ đối với tính từ, đơn thanh đối với đơn thanh, điệp thanh đối với điệp thanh, hiệp thanh đối với hiệp thanh…

4. Đối cú: Cấu tạo của hai vế đối giống nhau, cùng một kiểu loại, vế trên có những thành phần nào, thì vế dưới cũng có thành phần ấy.

5. Đối ý: Đối ý là đối về nội dung:

- Đối tương đồng hay đối bổ sung: Hoặc là hai vế cùng một ý nhằm tăng cường điều cần diễn đạt;

Hiểu tùy thiên trượng nhập

Ộ nhạ ngự hương quy

(Sớm theo xe vua mà đến,

Chiều mang hương ngự trở về)

Sầm Tham – Kỷ ta tỉnh Đỗ thập di

-  Đối tương phản: Hoặc ý trong hai vế trái ngược nhau về mục đích hay phạm trù diễn đạt

Bạch phát bi hoa lạc

Thanh vận tiện điểu phi

(Tóc bạc nên thương hoa rụng

Mây xanh phơi phới cánh chim bay)

Sầm Tham – Kỷ ta tỉnh Đỗ thập di

- Đối thừa tiếp: Hoặc giữa hai vế có mối lý luận nhân quả, so sánh nhượng bộ

Tức phòng viễn khách thùy đa sự

Tiện sáp sơ li khước thậm chân

(Người ta e dè khách xa, tuy lắm chuyện đấy

Nhưng bởi mình cắm rào thưa, họ tưởng cấm thật)

Đỗ Phủ - Hựu trình Ngô Lang

6. Đối nghĩa: Bao gồm nghĩa đen và nghĩa bóng.

         - Nghĩa đen: Nội dung tổng thể phải luận bàn nhất quán về một vấn đề, ví dụ xuôi - ngược, khó -  dễ, yêu – ghét, màu sắc, muông thú vv…

         - Nghĩa bóng: là nghệ thuật sử dụng chữ, hoặc là một chữ có nhiều nghĩa, hoặc là nhiều chữ trong câu có cùng một nghĩa.

7. Âm tiết: Trắc bằng nghịch nhau ở chữ cuối của mỗi tiểu vế, và tiết tấu phải đồng nhất;

8. Số lượng:  Vế ra bao nhiêu chữ, vế đối cũng bấy nhiêu chữ. Phải cân xứng số lượng chữ đến trong từng ý nhỏ;

C. Muôn dạng đối phong phú khác trong nền thơ ca Việt Nam:

1. Phép đối được triển khai trong thơ Đường luật ở Việt Nam:

         Trên các diễn đàn thơ Đường luật Việt Nam hiện nay, chủ quan mà nhận xét thì cơ bản mới chỉ sử dụng tới phép đối biền ngẫu là chính, nhưng biền ngẫu cũng đang bị hiểu có phần sai lệch, máy móc. Từ chỗ bấu víu vào biền ngẫu để xét nét nhau, nên nhiều người đem chặt nhỏ câu thơ thành từng chữ, so đọ trên dưới để phán, mà quên mất yếu tố ngữ pháp? Ví dụ, từ còn có từ đơn, từ kép, từ ghép (*); quên cả xem xét về mặt cấu trúc câu xem vị trí của tự đang cáng đáng là gì, động từ, tính từ, hay chỉ là bổ ngữ? Bởi thế, không thiếu trường hợp chữ trong câu thơ sắp bày ra trước mắt, nhòm vào thì có vẻ sóng đôi (biền ngẫu) đấy, nhưng hồn vía của thơ thì chẳng thấy đâu; Ngược lại, người đưa được hồn vía vào thơ thì bị chê tơi tả rằng không chỉnh đối, cũng vì lối chặt chữ máy móc ?!

         Thật ra, đó là do phần đọc lý thuyết mới đọc một mà chưa đọc hai. Không phải cứ chữ trên song song với chữ dưới cùng một loại tự là biền ngẫu? Cũng như câu đối thơ không chỉ có phép đối biền ngẫu, mà còn có nhiều phép đối khác. Trang 123 - Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm định nghĩa:

“Đối là đặt hai câu đi sóng đôi cho ý và chữ trong hai câu ấy cân xứng với nhau.

1.) Đối ý là tìm hai ý tưởng cân nhau mà đặt thành hai câu sóng nhau

2.) Đối chữ thì vừa phải đối thanh tức là bằng đối với trắc, trắc đối với bằng; vừa phải đối loại của chữ nghĩa và phải đặt hai chữ cùng một tự-loại để đối với nhau (như cùng là hai chữ danh tư, hoặc động từ, vv...)”

Trang 199, mục đối ngẫu, Thi pháp thơ Đường – Nguyễn Thị Bích Hải, viết: “… Về hình thức thì có “công đối” (đối chỉnh) và “khoan đối” (đối không chỉnh)…”

         Xem lại Thi pháp thơ Đường của Quách Tấn, thì tác giả này liệt kê và phân tích hàng loạt các phép đối, nào là lục đối, bát đối, 8 nội dung đối, 8 hình thức đối. Nhưng cuối cùng, Quách Tấn quy tụ lại 5 phép đối cơ bản gồm: chỉnh đối, tá đối, cú trung đối, tựu cú đối, lưu thủy đối.

Sau khi đọc hết các nội dung đối do Quách Tấn giới thiệu, tôi thấy các phép đối sau đây có phong cách riêng, khác với lối đối của văn biền ngẫu (Phần ví dụ chứng minh, sách không đề tác giả nên chưa biết của ai?):

1. Cú trung đối (tiểu đối):

Cô vân độc tiểu xuyên quang mộ

Vạn tỉnh thiên sơn hải khí thâm

(Mây côi chim lẻ ánh sáng xuyên qua dòng sông chiều

Muôn giếng nghìn non biển khí dày đặc)

2.  Phiến đối (cách cú đối): Câu thứ nhất đối với câu thứ ba, câu thứ hai đối với câu thứ tư

Tiền niên gia thuỷ đông

Hồi thủ tịch dương lệ

Khứ niên gia thuỷ tây

Thấp diện xuân võ tuế

(Năm trước nhà ở phía đông sông

Quay đầu bóng chiều đẹp

Năm ngoái nhà ở phía tây sông

Ướt mặt mưa xuân dịu)

3. Lưu thuỷ đối: Ý trong hai vế đi liền một hơi như nước chảy

Lũ lương tâm thượng sự

Tương dữ mộng trung lân

(Hằng đem việc bên lòng

Bàn cùng người trong mộng)

4.  Giao cổ đối (đối tréo cẳng ngỗng)

Địch lư tranh lợi thiệp

Lai vãng tiếp phong trào

(Thuyền bè tranh nhau trước

Qua lại tiếp gió sóng)

Địch lư đối với phong trào; lợi thiệp đối với lai vãng

5. Tá đối (đối tiếng, đối bóng):

Quyển liêm huỳnh diệp lạc

Khai hộ tử qui đề

(Cuốn rèm lá vàng rụng

Mở cửa tiếng cuốc kêu)

Tử (trong tử qui) đồng âm cùng tử là màu tím, nên mượn tiếng để đối với huỳnh là vàng (huỳnh điệp). Trong thơ Lục bát, bạn sẽ gặp tá đối nhiều hơn.

6. Tựu cú đối (đương đối): Đương là vừa cân xứng, chữ đồng loại này nhóm trong câu này đối lại với chữ đồng loại kia trong nhóm kia trong câu được cân xứng một cách vừa phải.

Bạch thủ đơn tâm y tử cấm

Nhất huy ngũ bộ tịnh tam biên

(Đầu bạc lòng son nương cung tía

Một lần hươi bút trong khoảng 5 bước dẹp yên được ba phương)

Lấy nhất, ngũ, tam đối với bạch, đơn, tử

7. Bất đối chi đối (trên mặt chữ thì không đối, nhưng ý vẫn đối nhau)

Bất tác tân phong tuý

Kỳ như quyện thể hà?

(Chẳng làm kẻ say trong cơn gió sớm

Thì làm sao cho ra tấm thân đã mỏi mệt)

Thiết nghĩ, để đánh giá một bài Thi luật, cần căn cứ hết cả 6 tiêu chí đề ra của Thi luật nói riêng và nghệ thuật làm thơ nói chung, chứ không riêng gì đối. Huống hồ chi, như nội dung tôi đã trình bày trên, thể hiện đối thơ cũng có ba bảy đường đối, chứ đâu chỉ có mỗi một dạng đối biền ngẫu?

2. Đối trong thơ lục bát và trong hát ví xứ Nghệ:

         Thơ Lục bát hầu như cũng vận dụng các phép khoan đối tương tự như thơ Đường, chỉ có một đặc điểm khác của đối trong thơ lục bát khác với thơ Đường là không ăn thua về trắc bằng. Bởi trắc bằng giường như tất yếu, nằm trong quy tắc âm giai, tự nhiên phải có, không có không thành thơ lục bát.

         Hoặc trong một câu có hai vế đối nhau (tiểu đối):

Khuyên chàng đọc sách ngâm thơ

Dầu hao thiếp rót đèn mờ thiếp khêu

         Hoặc phải đối nguyên cả hai câu 6-8. Tôi xin được trích sao một vài nội dung của môn Hát ví phường vải trong Kho tàng văn hóa Xứ Nghệ để làm ví dụ:

         Tá đối: (đối tiếng, đối bóng)

         Là khi nói tới cái gì, người ta gò gập những tiếng cùng loại vào một câu. Ví dụ: Muốn nói về thú uống rượu:

Ấm thân hồ hởi chai lơ

Bàn hoàn chung chén nhắm chờ ai đây?

         Cái nghĩa chính của câu là: Thân phận của thầy nho đã đầy đủ, hả hê, say say, tỉnh tỉnh rồi, bây giờ còn rắp ranh nhòm ngó ai đây? Nhưng chỗ dụng công của câu ví lại là ấm, chai, bàn, chung, chén và còn thêm cả nhắm thì thật là đầy đủ về tửu soạn lẫn tửu hứng.

         Vừa tá đối vừa đương đối:  Nói về thú chơi cờ, cũng như thú uống rượu, phường ví đưa ra vế đố:

Tướng chàng nho sĩ tốt tươi

Ước chi thầy mạ xe đôi cho cùng.

         Mạ trong tiếng Nghệ là mẹ, nhưng mã trong tiếng Nghệ cũng được phát âm là mạ. Ta thử xem: Tướng, sĩ, tốt, mã, xe, toàn là những quân cờ trọng dụng trong cái thú “cháy đến nhà giữa vẫn chưa nôn”. Và các thầy Đồ Nghệ cũng không kém cạnh đã đưa ra về đối: 

Lên voi, xuống ngựa, tốt chiều,

Chàng gan tướng sĩ, thiếp liều pháo xe.

         Đối chữ và đối ngữ:

Muốn cho nhật nguyệt đồng minh

Ngày Nghiêu, tháng Thuấn thái bình câu ca.

         Mới nghe ta hiểu đơn giản là phường ví tỏ ý muốn mặt trăng, mặt trời được tỏ rạng như nhau và ngày tháng nào cũng được thái bình, vui vẻ như đời Nghiêu, Thuấn. Nhưng các thầy nho đi nhởi thì phải hiểu rằng nếu dễ thế thì phường ví chẳng có gì hấp dẫn. Dụng công của câu ví ẩn trong từng chữ, nên thầy nho phải dò xét kỹ càng từng chữ để đoán biết trò chơi mà phường ví đưa ra: chữ nhật ghép với chữ  nguyệt thành chữ minh, lại còn có nghĩa chữ  nhật là ngày, nguyệt là tháng (đều có trong câu ví).

Câu ví đố dưới đây của phường ví còn thể hiện mứ độ chơi chữ cao siêu hơn:

Muốn cho một tháng đôi trăng

Muốn cho lưỡng nguyệt tác bằng cho vui.

         Cứ hiểu đơn giản theo nghĩa đen thì các o phường Ví có lẽ mong mỏi lương duyên được tác bằng hòa hợp nên mới hát vậy. Chỉ thầy nho thông chữ mới hiểu: nguyệt là tháng, nguyệt là trăng, lưỡng nguyệt nghĩa đen là đôi trăng, nhưng ở đây thông điệp mà các o phường Ví gửi cho thầy nho là hai chữ nguyệt ghép lại thì thành chữ bằng. Cho nên vế đáp của các thầy đồ Nghệ cũng phải tương đồng về phép chơi chữ:

Muốn cho tử tế nhất môn

Nhị văn khẩu vấn rể con một nhà.

         Chữ môn mà thêm chữ nhị vào sẽ thành chữ văn. Mà nếu thêm chữ khẩu sẽ thành chữ vấn. Lại còn “tử tế nhất môn” và “rể con một nhà” như ta đã thấy trong câu ví.

          Đối Nôm mà lại Hán, Hán mà lại Nghệ

          Câu ví chỉ bằng tiếng Nôm như ta thường dùng như nó lại có thể vặn sang âm chữ Hán: 

Dần dà một tý can chi,

Quý ra khỏi ngọ(ngõ) vị chi đến nhà.

         Chỉ một câu giản dị, bình thường như thế, ta thử lượm xem: dần, tý, can, chi, ngọ, vị. đó là những tiếng thuộc về bộ can – chi. Hoặc một lối khác mà phường vải có thể vặn ra vừa chữ, vừa nghĩa cùng nằm trong câu ví: 

Ra về thiếp dặn thiệt nha

Mai răng cũng lại đàng nhà thiếp chơi.

         Lưỡi: tiếng Hán là thiệt, tiếng Nghệ  nói thành lại; Răng: tiếng Hán là nha. Chữ nha trong tiếng Nghệ là nhé (ra về thiếp dặn thiệt nhé). Vế trên dùng tiếng Hán đối vế dưới dùng tiếng Việt Nghệ

Có khi đối còn phải vặn một âm ra đôi ba chữ, một chữ ra đôi ba nghĩa như xoay một ván bài tổ tôm vậy:

Mấy phen tri kỷ biết mình

Trăng nhâm gác ngõ, gà canh gáy dần.

         Chữ kỷ ở trong câu này biến thành ba chữ và ba nghĩa khác nhau. Kỷ là mấy, kỷ là mình, lại còn chữ kỷ thuộc về bộ can chi, để cùng đi luôn một chuỗi với nửa dưới câu ví: nhâm, ngọ, canh, dần. Để đối đáp cho lọt cả từ lẫn ý câu trên của phường vải, thầy nho phải ghép một câu như:

Chưa khi hương vị ngát nồng

Bóng dần trước dậu sao đông láy đoài.

         Chữ vị trong câu này cũng gánh đủ ba nghĩa như chữ kỷ của câu ví trên. Vị là chưa, vị là đắng cay mặn ngọt, lại còn chữ vị trong bộ can chi để cùng một chuỗi với dần dậu, đoài. Mà ý nghĩa của câu ví cũng đã họa lại cùng nhau rất chỉnh.

         Cặp câu đối đáp sau đây tương truyền một thầy cai đội bị phường vải thách đố, đã phải cậy nhờ thầy gà tiếp sức mới có thể đáp lại được:

Dở dang, dang dở vì sông

Ngày làm công nhật, đêm mong dạ chàng.

         Vế đáp:

Hởi hồ, hồ hởi làm sao

Trưa ra đứng ngọ, tối vào mộ phu.

         Hởi hồ, hồ hởi ở câu dưới đối với dở dang, dang dở ở câu trên. Giang (chơi tiếng) đối với hồ. Và nếu giang có nghĩa là sông trong cùng một câu lục của vế ra, thì hồ có nghĩa là sao ở câu lục dưới.. Bốn tiếng: trưa = ngọ, tối = mộ, đều đối trúng vào vị trí của bốn tiếng : ngày = nhật, đêm = dạ.

         Đi chơi phường ví mà gặp phải lời hát như thế thì ngang với gặp tai nạn “lỡ một bước chân khó quay đầu” cho nên phải dấn thân đi tới. Bởi nếu không đối được mà thác cớ ra về, tức thời bị chị em đưa chân một câu nghe rồi về cay mắt khó mà ngủ được:

Nghe chàng học thuộc ngũ kinh

Đến đây chàng lại làm thinh ra về?

         Hát phường vải được gọi là cuộc hát, bởi phải chờ khi thầy đồ nho đối đặng, thì mới ngã ngũ, mà chờ đối đặng được nhiều khi mất cả tháng trời, thậm chí có những vế ra của phường vải đến nay chưa có vế đáp:

Thơ đông tuyết, cờ thu phong

Đờn vui hạ nguyệt, rượu nồng xuân hoa

         Khó không đối đặng là vì câu này được phường ví gộp cả ba khoản trong thú ăn chơi của đồ nho vào một là: “cầm kỳ thi tửu”, “tuyết nguyệt phong hoa”, “xuân hạ thu đông”.

Lời kết:

Sử chép rằng: Mùa thu tháng 8 năm 1282, thời vua Trần Thái Tôn, ở sông Nhị Hà (Phú Lương) có con cá sấu từ đâu đến. Có người họ Nguyễn quê ở phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương, làm tới chức hình bộ thượng thư trong triều bấy giờ được vua sai làm bài văn tế thả xuống sông, cá sấu tự bỏ đi. Vua cho việc ấy giống Hàn Dũ bên Tàu, nên đổi là họ Hàn. Từ đó người đời gọi ông là Hàn Thuyên. Sử cũng chép rằng, Hàn Thuyên có tài làm thơ phú Quốc ngữ. Nhiều người thấy hay bắt chước làm theo. Cho nên thơ Quốc âm thời bấy giờ cũng được gọi là thơ Hàn luật. Dương Quảng Hàm cho rằng Thi luật đúng là có nguồn gốc từ dòng thơ Đường Luật bên Tàu do Hàn Thuyên áp dụng vào nước ta. Nhưng đồng thời ông cũng thừa nhận dòng thơ Quốc âm của ta có nhiều sáng tạo nghệ thuật khiến cho đa dạng và phong phú về hình thức hơn nhiều so với Thi luật của Tàu.

Từ số sách cũ mua được ở hàng ve chai, tôi đã cố gắng tổng hợp lại các phép đối thơ như ở trên. Có thể còn nhiều thiếu sót, hoặc do trình độ hạn chế, tôi chưa nhận thức được hết mọi điều vi diệu trong nền sử thi Việt Nam. Cho dù thế nào, do dù còn nhiều thiếu sót, tôi cũng xin mạnh dạn chia sẻ bài viết này. Thiết nghĩ cha ông ta đã tạc ra một nền móng thi ca vừa kiên cố truyền thống, vừa mở mang văn đàn như thế. Hà cớ hậu duệ đời nay lại tự gò bó, chặt chém nhau hạn hẹp trong mỗi một phép đối chữ? Tại sao không tiếp nối truyền thống cha ông, triển khai cho hết các phép đối cho nó rộng đường thi ca. Quý vị cho rằng không thi vị, hay là khó quá không tiếp thu đặng kiến thức người xưa?

 

=============

Tư liệu tham khảo và sử dụng:

-  Việt Nam văn học sử yếu – Dương Quảng Hàm  

- Thi pháp thơ Đường – Quách Tấn

- Nghệ thuật chơi chữ - Triều Nguyên

- Thi pháp thơ Đường – Nguyễn Thị Bích Hải

- Đường thi tuyển tập – Lê Nguyễn Lưu

- Đố Kiều đối Kiều – Phạm Đan Quế

- Hát phường vải – Ninh Viết Giao


Để gửi ý kiến nhấp vào đây

Các tin khác:
 Bát bệnh là bát bệnh ơi... (13h: 30-11-2013)
 Như thế nào được gọi là một bài thơ? (15h: 25-11-2013)
 PHÉP TU TỪ (15h: 18-11-2013)
 Nguyên lý cấu trúc nhịp thơ (15h: 01-09-2013)
 Nhạc tính trong thơ (21h: 17-08-2013)
 BÀN VỀ TỨ THƠ (17h: 06-07-2013)
 Thơ bốn câu (17h: 09-04-2011)