Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
Dấu tích nhà nước Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
 
(08h: 24-12-2014)
Dấu tích nhà nước Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
Các giả thiết khảo luận của Phan Lan Hoa về vùng đất Việt Thường Thị trong thời kỳ Sơ sử
***
Chương I: Đi tìm dấu tích xưa - một nhà nước sơ khai Việt Thường Thị
***

Ghi chú: 

- Nội dung này chỉ mang tính khảo luận cá nhân, nhằm mục đích nêu ra những vấn đề mâu thuẫn trong lịch sử Việt Nam ở thời kỳ Sơ sử, với hy vọng các nhà nghiên cứu để tâm và có sự xem xét lại... 

 - Một phần nội dung đã được đăng tải trên Tạp chí văn hóa Nghệ An số ra tháng 11.2014  

 

DẤU TÍCH NHÀ NƯỚC VIỆT THƯỜNG THỊ

VÀ VAI TRÒ NGHỆ AN TRONG DÒNG LỊCH SỬ VIỆT NAM

Chương I

Đi tìm dấu tích xưa – Một nhà nước sơ khai Việt Thường Thị

Để làm nổi bật ý nghĩa cái tên Việt Thường mà tôi cho là quan trọng bậc nhất trong lịch sử hình thành dân tộc Việt, tôi sẽ phải liên kết các mối thông tin tư liệu hiện có ở Việt Nam, từ cũ nhất đến mới nhất, bao gồm cả Truyền thuyết -  Lịch sử - Khảo cổ - Nhân chủng học để làm rõ vấn đề. Đồng thời qua đây tôi cũng mạnh dạn đưa ra những điểm mà tôi cho là người biên sử nước ta, từ chỗ nhầm lẫn địa danh, dẫn đến nhầm lẫn các tình tiết lịch sử giữa nước Việt Thường và các nước lân bang, khiến cho diễn biến lịch sử bị mâu thuẫn, thiếu mạch lạc. Thậm chí tai hại hơn, cái tên Việt Thường gần như đã bị đánh mất hoàn toàn vai vế trong dòng lịch sử chính thống của Việt Nam?

Tôi sẽ đi vào thảo luận vấn đề bắt đầu từ  khái niệm “Người Việt”

Vì sao cuộc tranh luận về nguồn gốc người Việt trên diễn đàn vanhoanghean.com.vn lại không thể tìm tới hồi kết?

Bởi vì các nhà tranh luận bị nhầm lẫn khái niệm Người tiền sử với Người Việt, nên từ cái sai ban đầu ấy, khiến cho hướng đi của các bài viết trở lên lan man. Nội dung xem qua thì  có vẻ toàn điều lớn lao, vĩ đại, nhưng đọc tới hồi kết thì có cảm giác tựa hồ như người đi rừng lại quên mang theo la bàn nên cứ loanh quanh trong rừng rậm không tìm được  lối ra, dù đã đẫy tay nải trầm hương tìm được.

Tôi đã từng đọc các bài viết mà ông Hà Văn Thùy đem ra làm dẫn chứng trên các diễn đàn khoa học khác. Nhưng xin thưa, đó là những công trình nghiên cứu về nguồn gốc loài người, chứ không phải nghiên cứu về nguồn gốc người Việt. Cần phải xác định rằng sự kiện tổ tiên loài người xuất hiện đầu tiên ở Đông Phi rồi di cư vào Việt Nam, hay sự xuất hiện chủng người AustraloidMongoloid trên đất Việt Nam là một khái niệm hoàn toàn khác với khái niệm hình thành dân tộc Việt? Lớp Người tiền sử thuộc nền văn hóa Hòa Bình không chỉ là tổ tiên của riêng người Việt, mà là tổ tiên chung của người châu Á. Và chỉ có một vị trong lớp Người tiền sử ấy là tổ tiên thực sự của Người Việt mà thôi. Do nhận thức sai lầm ngay từ khái niệm tên gọi Người Việt với Người tiền sử, nên ông Hà Văn Thùy đã nhận vơ già nửa thế giới là người Việt?

Vậy nên xác định khái niệm người Việt như thế nào?

Theo lẽ thường, khi một người đến một vùng đất mới, khai cơ nên một dòng họ, một dân tộc, thì người đó được tôn vinh là thủy tổ của dòng họ, của dân tộc đó. Đồng thời vùng đất khai cơ ấy được coi là đất tổ của dòng họ, dân tộc ấy.

Vậy ai là người khai cơ nên tộc người Việt? Và vùng đất khai cơ ấy ở đâu?

Cương mục tiền biên chép rằng:  Sử cũ phần Ngoại kỷ chép Hồng Bàng Thị bắt đầu từ Kinh Dương Vương thụ phong năm Nhâm Tuất (2879 TCN) cùng thời với Đế Nghi, truyền đến Hùng Vương đời cuối cùng là năm Quý Mão (258 TCN) tức năm thứ năm mươi bảy đời Noãn Vương nhà Chu thì mất nước, tất cả là hai nghìn sáu trăm hai mươi hai năm.”…

Sử cũ đồng thời cũng chép: Kinh Dương Vương, tên húy là Lộc Tục, khi lập quốc lấy tên nước là Xích Quỷ, đóng đô tại núi Hồng Lĩnh. Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động Đình, phía nam giáp nước Hồ Tôn, phía tây giáp nước Thục, phía đông giáp bể Nam Hải.

Xét về độ tin cậy của tài liệu, cho đến nay chỉ duy nhất cổ sử Việt Nam đề cập đến Kinh Dương Vương, và không có bất cứ tài liệu nào khác của Trung Hoa nói rằng Kinh Dương Vương lập quốc ở bờ nam sông Dương Tử. Do đó, kết luận của ông Hà Văn Thùy và ông Tạ Đức là sự bịa đặt lịch sử thiếu căn cứ ?!

Bấy lâu nay, các nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam cứ đổ vấy cho rằng cổ sử ghi chép theo truyền thuyết, nên không có cơ sở tin cậy. Bản thân tôi lại nghĩ là ghi chép của tân sử có nhiều nhầm lẫn. Riêng trường hợp của Kinh Dương Vương thì có thể lấy kết quả khảo cổ để chứng minh ghi chép của sử cũ là có cơ sở:

Trong bài viết về hang Đồng Trương (Anh Sơn – Nghệ An), nhà khảo cổ học  Bùi Vinh chép: “Hiện vật và di tích thu được trong hố khai quật gồm có đồ đá, đồ gốm, đất nung, đồ đồng, đồ sắt, đồ thuỷ tinh, thổ hoàng… xương răng động vật, dấu tích than tro bếp lửa và các mộ táng. Dựa vào đặc điểm loại hình và sự phân bổ của các di vật – di tích trong địa tầng có thể biết được chúng thuộc văn hoá của hai thời đại khác nhau…”

Và Bùi Vinh kết luận:

“ Đồng Trương là một địa điểm khảo cổ học chứa di tồn văn hoá thuộc nhiều giai đoạn khác nhau, chủ yếu là hai nền văn hoá nổi tiếng nhất ở Việt Nam: Văn hoá Hoà Bình thời tiền sử và văn hoá Đông Sơn thời sơ sử. Vì vậy mà việc phát hiện ra địa điểm này có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Đây là lần đầu tiên phát hiện được “một Hoà Bình sơ khởi” đi kèm với các mộ táng của nó có thể thuộc giai đoạn hậu kỳ đá cũ với niên đại rất cổ xưa từ 1 đến 1,2 vạn BP (năm TCN). Những tài liệu thu được từ giai đoạn văn hoá này thuộc về lịch sử văn hoá – con người lâu dài của mảnh đất Nghệ An.

Việc phát hiện các di vật tiền Đông Sơn và Đông Sơn tại hang Đồng Trương mà niên đại ước đoán năm trong khoảng 2.300 – 3.000 BP, rõ ràng đã bổ sung cho nhận định: Lưu vực sông Lam là một trong ba trung tâm phát sinh và phát triển văn hoá của người Việt cổ thời các vua Hùng dựng nước.”

Cách hang Đồng Trương 3km, bài viết về kết quả khảo cổ ở hang Rú Bò của hai tác giả Phan Văn Hùng, Hồ Mạnh Hà, cũng có những tình tiết quan trọng không kém:

“…Hang Bò là một địa điểm thời tiền sử, thuộc thời đại đá mới (văn hóa Hòa Bình). Những di vật đá ở đây có nhiều nét gần gũi với nhóm di vật lớp dưới hang Đồng Trương cách Hang Bò 3 km về phía Đông đã khai quật vào năm 2004. Rất có khả năng Hang Bò còn là một địa điểm khảo cổ học phản ánh quá trình phát triển lâu dài của người tiền sử, từ đá mới đến kim khí, có thể có mộ táng. Cùng với Hang Bò ở đây còn có cả một hệ thống hang động với nhiều mái đá rất thuận lợi cho người tiền sử cư trú, sinh sống... Tại đây đã có những phát hiện về rìu đá hình tứ giác mài toàn thân, cùng với đồ gốm thời đại Kim khí.

Những hình khắc trên đá ở Hang Bò là do người tiền sử tạo ra với kỹ thuật sơ khai, thể hiện trình độ tư duy về thẩm mỹ của người tạo ra chúng. Việc xác định niên đại và nội dung của những hình khắc này đòi hỏi một quá trình nghiên cứu có tính hệ thống với sự tham gia của các nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau.

Việc phát hiện tảng đá có ký tự cổ ở Hang Bò xã Hoa Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An là một phát hiện mới, lạ về khảo cổ học, vì từ xưa đến nay chưa có một phát hiện khảo cổ nào ở Nghệ An nói riêng, cả miền Trung nói chung có loại ký tự, hình khắc trên đá của người tiền sử như ở Hang Bò. Phát hiện mới, lạ ở Hang Bò góp thêm tư liệu về nghệ thuật cổ trên đá ở Việt Nam…”

Ở đây tôi xin chỉ ra cái sự nhầm của ông Hà Văn Thuỳ rằng chủng người Australoid trên đất Việt Nam bị biến mất khoảng 4500 TCN? Nhưng trên thực tế, những hố khai quật tại Nghệ Tĩnh, cho đến thế kỷ thứ ba TCN, di cốt người sơ sử (không phải tiền sử) tìm thấy dù con số lên tới hàng ngàn, thì hầu như đa số vẫn là chủng người Australoid, rất ít chủng người Mongoloid. Tại bài ” Đa Bút, Quỳnh Văn, Cái Bèo trong bối cảnh phát triển văn hóa từ Hòa Bình sang hậu Hòa Bình ở Việt Nam”. Nhà KCH Bùi Vinh viết: “…Cư dân Quỳnh Văn chôn người trong huyệt gần tròn tại nơi cư trú, theo tư thế bó gối hay nằm co, thường di cốt không đầy đủ. Về chủng tộc là người Australoid và có nét Mongoloid…”.

Tại một số bài viết về kết quả khảo cổ ở Phái Nam (Hà Tĩnh), nơi giao thoa văn hóa Đông Sơn và Sa Huỳnh cũng cho kết luận di cốt người sơ sử là chủng người Australoid. Điều đó có thể đặt giả thiết kết luận tổ tiên chính thống của người Việt và người Chăm đều thuộc chủng người Australoid ?

Tôi cho rằng, sở dĩ người Việt Nam ngày nay nghĩ rằng tổ tiên của mình ở bờ sông Dương Tử là do các nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam đã bị nhầm lẫn núi Động Đình, Hồ Động Đình của nước Đại Việt với Động Đình Hồ của Trung Quốc? Sách “Đại Nam nhất thống chí”chép: “Núi Động Đình ở sách Quy Lai, huyện Yên Thành là núi lớn ở xứ Diễn Châu, phía tây núi có thành, trong thành có những viên đá chồng chất, hình như viên đạn…”.

Như vậy, lãnh thổ ban đầu thuở khai cơ của nước Xích Quỷ có giới hạn: Phía nam từ núi Quỳnh Viên (Nam Giới) thuộc đất Đường Lâm, châu Phúc Lộc, nay là huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh;  Biên giới phía Bắc đến núi Động Đình, thuộc đất Diễn Châu (Nghệ An).

Tôi sẽ vận dụng hết khả năng suy luận của mình để cố gắng kết nối một cách logic nhất các yếu tố lịch sử, sẽ làm sáng tỏ nơi đây là nôi sinh ra tộc người Việt!

Trước hết, căn cứ theo ghi chép của các thư tịch sử liệu cũ Việt Nam và Trung Hoa về các nhóm người Việt, cần khẳng định ngay, Việt Thường là cái tên “Việt” xuất hiện sớm nhất trong lịch sử Bách Việt. Đặc biệt hơn, Việt Thường còn được thể hiện là một địa danh có vai trò lịch sử quan trọng tầm cỡ một quốc gia, có nền văn hiến độc lập, được ghi nhận rõ ràng trong sử sách Hán – Việt; là một cái tên cổ chính thống,  chứ không phải một thứ tên tuổi mờ ảo thiếu rõ ràng, mà cần phải suy luận theo kiểu bính âm như  ông Tạ Đức sử dụng trong “Nguồn gốc người Việt – người Mường”!?

Khâm Định Việt sử thông giám cương mục - Tiền Biên, Quyển I, chép: “Theo "Thông chí" (通志) của Trịnh Tiều (Trung Quốc), về đời Đào Đường (2357-2258 TCN), phương Nam có Việt Thường thị qua hai lần sứ dịch sang chầu, dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là Quy lịch (龜歴 lịch Rùa).

Đồng thời sách này cũng chép: “Sử ký (Trung Quốc) chép: Năm Tân Mão thứ sáu (1110-TCN) đời Thành Vương nhà Chu, phía Nam bộ Giao Chỉ có Việt Thường Thị qua ba lần sứ dịch, sang dâng chim trĩ trắng. Chu công nói: "Đức trạch chưa thấm khắp đến phương xa, người quân tử không nhận đồ lễ ra mắt; chính lệnh chưa ban ra tới, người quân tử không bắt người ta thần phục". Theo lời thông dịch, sứ giả muốn nói: "Ông già trong nước chúng tôi có nói: "Trời mưa không dầm gió dữ và biển không nổi sóng đã ba năm nay, ý chừng Trung Quốc có thánh nhân chăng?". Vì thế, chúng tôi sang chầu". Chu Công đem dâng lễ vật lên nhà tôn miếu. Sứ giả không thuộc đường về, Chu Công cho năm cỗ xe biền đều làm theo lối chỉ nam. Sứ giả đi xe ấy theo ven biển nước Phù Nam và nước Lâm Ấp, vừa một năm mới về đến nước.” Sự kiện này, "Hậu Hán thư" chép là: “ 越裳以三象重譯而獻白雉 (Việt Thường dĩ tam tượng trùng dịch nhi hiến bạch trĩ) và không có chi tiết cấp xe chỉ nam về nước, không biết sách ta lấy tư liệu ở đâu?

“Đại Nam Quốc sử diễn ca” của Nguyễn Trãi cũng có nội dung tương tự:

Vừa đời ngang với Châu Thành (Chu Thành)

Bốn phương biển lặng, trời thanh một màu

Thử thăm Trung Quốc thế nào

Lại đem bạch trĩ dâng vào Châu Vương

Ba trùng dịch hộ chưa tường

Ban xe Tý – Ngọ chỉ đường Nam quy

Cách nhau ± 1148 năm giữa 2 lần đi sứ, lại không phải chỉ tên suông Việt Thường theo kiểu một địa danh nào đó, mà là Việt Thường Thị, chữ “thị” cho đến thời Xuân Thu vẫn là từ chỉ định giới hạn một vùng lãnh địa tương đương một quốc gia. Vậy Việt Thường rõ ràng không còn là một bộ lạc bán khai, mà phải là một nhà nước sơ khai, có văn hóa bản sắc riêng, biết quan sát thiên văn, địa lý, có kinh luân hẳn hòi và chế độ chính trị khá ổn định. Việc Chu Vương trả lời rằng Việt Thường Thị với nhà Chu không phải là quan hệ chư hầu nên không nhận lễ, càng chứng tỏ Việt Thường Thị là một nhà nước độc lập, hòa bình với phương Bắc chứ không hề phụ thuộc phương Bắc. Như vậy, địa danh Việt Thường chí ít cũng có thể xác định được trong sử sách là từ trước năm 2258 TCN và được duy trì kéo dài hơn ±3238 năm, đến đời tiền Lê (980 - 1009) mới đổi là Hoan Châu.

Việc xác định biên giới đất Việt Thường hiện có nhiều tranh cãi. Cái sai gây tranh cãi này xuất phát từ trong sử sách Việt Nam của các đời sau, mà Hoàng Xuân Hãn từng đặt nghi vấn có người cố ý sửa đổi lịch sử? Bởi việc xác định vị trí đất đai Việt Thường Thị rõ ràng như ban ngày, nên tranh cãi chẳng qua là sự bảo thủ, cố tình không chịu thừa nhận mà thôi. Tôi có thể đưa ngay ra các điểm phân tích sau:

- Thứ nhất, sử sách chép rằng Việt Thường là một trong hai bộ quan trọng nhất trong 14 (15?) bộ của nước Văn Lang, trong khi phạm vi nước Văn Lang, theo “Dư địa chí – Nguyễn Trãi”, bộ thuộc miền biên cương phía bắc thời bấy giờ là Chu Diên và Vũ Ninh, thì Chu Diên nay thuộc đất đai tỉnh Sơn Tây và Vũ Ninh thuộc đất đai tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Vậy nên có thể khẳng định, Việt Thường không thể ở bờ nam sông Dương Tử được?

- Thứ hai, sử liệu nhà Chu đã chép rõ “Việt Thường Thị ở phía nam Giao Chỉ ”, còn sách “Dư địa chí – Nguyễn Trãi” lại chép, “Giao Chỉ sau này là Sơn Nam”, tương ứng với các vùng Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định ngày nay. Suy ra Việt Thường chỉ nằm ở vùng đất từ Ninh Bình đổ vào.

- Thứ ba, biên giới phía nam của nước Văn Lang giáp nước Hồ Tôn. Điều này có thể lấy sử mới để chứng minh. Mãi cho đến thời Tiền Lý (503 – 548), biên giới phía nam nước Vạn Xuân  cũng chỉ mới tới núi Quỳnh Viên Nam Giới. Chính Lý Nam Đế là người đã đem quân chinh phục, đánh đuổi người Lâm Ấp đến tận đèo Ngang, cứ chiếm vùng nam Hà Tĩnh vốn là đất đai của người Chăm, nhập vào đất đai Vạn Xuân. Đến năm 1306, đời Trần Anh Tông, nhờ vào việc kết duyên của công chúa Huyền Trân (con gái vua Trần Nhân Tông) với Chế Mân là vua của nước Chiêm Thành. Chế Mân đã cắt đất hai châu Ô, Rí  (thuộc tỉnh Quảng Bình ngày nay) làm của hồi môn cho việc cưới hỏi, từ đó xứ Hoan Châu (thế kỷ XIV) được mở rộng tới sông Gianh. Như vậy, việc xác định địa danh Việt Thường ở Quảng Bình, Quảng Trị là do người chép sử bị nhầm lẫn sử cũ với sử mới.

- Thứ tư, vùng bắc Hà Tĩnh, cụ thể là vùng dưới chân núi Hồng Lĩnh, mãi đến trước đời Tiền Lê (980 - 1009) vẫn có tên là huyện Việt Thường, thuộc quận Cửu Đức (tức xứ Nghệ An về sau).

Bốn yếu tố trên, đặc biệt là yếu tố thứ tư đủ để khoanh vùng đất đai Việt Thường xưa thuộc vùng lưu vực sông Lam – sông Mã. Tương đương với vùng đất thuở khai cơ của Kinh Dương Vương và Động Đình Quân hợp lại.

Xứ Động Đình lần theo ghi chép của sử cũ, có thể xác định tên sau là Cửu Chân (thời Hùng Vương). Lãnh thổ gồm Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu của tỉnh Nghệ An, đổ ra Thanh Hoá, đến Ninh Bình, xứ này được các nhà khảo cổ học xác định là gốc gác cội nguồn quê hương của người Mường. Người Quảng Xương (Thanh Hóa) cho rằng, nguồn gốc cây lúa Việt Nam sinh ra trên vùng đất của họ. Còn tại vùng Động Đình (Yên Thành) thì vẫn lưu truyền câu ca từ ngàn xưa:

Đông Thành là mẹ là cha

Đói cơm rách áo tìm ra Đông Thành

Cổ sử Trung Hoa cũng có những ghi nhận bổ túc cho điều đó: “người Việt ở Cửu Chân đã biết trồng lúa hai mùa…”. Rồi lại chép:  “năm 123, đời Hán Anh Đế, lúa ở Cửu Chân rất tốt, 150 gốc lúa được những 768 bông”.  Có thể thấy rằng ở vào thế kỷ thứ XI - TCN mà tổ tiên chúng ta đã biết chuyên canh lúa hai mùa, thì chứng tỏ cây lúa đã được thuần hóa từ trước đó rất lâu tại vùng đất này. Ở đây tôi cũng làm rõ thêm rằng, theo Kinh Lễ của Khổng Tử thì ngũ cốc của Trung Hoa là ma (hạt gai dầu), thử (kê), tắc (ngô), mạch (lúa mì), thục (đậu tương)”, nghĩa là trong ngũ cốc mà người Trung Quốc thờ phụng không có hạt lúa. Trên thực tế, văn hóa ẩm thực Việt Nam với trên dưới cả ngàn món ăn được chế biến từ bột gạo cũng thể hiện rõ nét là quê hương của nền nông nghiệp lúa nước.

          Sau khi lập quốc tại núi Hồng Lĩnh, Kinh Dương Vương kết duyên cùng công chúa con vua xứ Động Đình (Động Đình Quân). Nghĩa là con trai xứ Nghệ An, làm rể xứ Thanh Hóa; con gái Thanh Hóa làm dâu Nghệ An. Lạc Long Quân Sùng Lãm - vị Tiên tổ của người Việt ngày nay được sinh ra bởi sự hòa huyết hai dòng máu Việt – Mường. 100 người con trai của Lạc Long Quân có lẽ cũng đều sinh ra ở vùng đất Xích Quỷ (hoặc là Xích Quỷ đến thời Sùng Lãm đã có cả thảy 100 bộ tộc quy phục?). 

Tôi đặt giả thiết cho nguồn gốc ra đời cái tên Việt Thường:

Có thể sau khi kết giao thông gia, hai tộc Việt – Mường đã thống nhất giang sơn làm một thành nước Việt – Thường (Mường). Đến đời Lạc Long Quân Sùng Lãm, lấy vợ là Âu Cơ , sử chép “gặp nhau ở Tương…” thì có lẽ là con gái của xứ Giao Chỉ? Chứ không phải con gái Đế Lai ở bên Tàu; hoặc Đế Lai chính là thủ lĩnh của Giao Chỉ, chứ không phải người Tàu? Bởi Tương là sông Tương và Tiên nữ có lẽ là nói con gái miền núi Tiên Du. Hai địa danh này đều thuộc tỉnh Bắc Ninh.

Hai bộ tộc Việt Thường và Giao Chỉ trước là mối quan hệ thông hiếu, sau thì từ mối nhân duyên này hợp thành quốc gia là Hồng Bàng Thị? Sự kiện chia tay của Lạc Long Quân và Âu Cơ, có thể lại là sự chia tách trở lại thành hai. Lý do chia tay là bởi Lạc Long Quân vốn người miền biển, quanh năm quen tung hoành lặn ngụp trong nắng gió. Nay Giao Chỉ là miền đất nhiều núi rừng và không có biển, phong tục tập quán cũng khác khiến cho Lạc Long Quân cảm thấy gò bó. Sau khi chia tay, Giao Chỉ thành nước Âu Việt, nhà Tần gọi là Tây Âu (chữ Âu trong Âu Việt cũng là chữ Âu trong Âu Cơ). Dư địa chí của Cổ Hi Phùng chép: “ Giao Chỉ về đời Chu gọi là Lạc Việt, về đời Tần gọi là Tây Âu”. Như vậy, có thể xác định việc chia tách Hồng Bàng Thị  thành hai nước Tây Âu và Việt Thường được xảy ra tương đương với đời Chu Thành Vương. Lạc Việt, phát âm theo tiếng Thanh – Nghệ có lẽ là nác Việt (do bị đọc trại từ cách phát âm "n" lẫn với "l" của xứ Bắc), tức nước Việt, tức gọi tắt từ tên nước Việt Thường.  Cho nên việc xác định mộ phần của Kinh Dương Vương ở Bắc Ninh là hoàn toàn có cơ sở. Có thể khi hợp thành Hồng Bàng Thị, kinh đô đặt tại Châu Phong, tức chính nơi đang thờ phụng Kinh Dương Vương, xã Châu Phong, huyện Quế Võ, Bắc Ninh ngày nay. Việc sử sách ghi chép ngược thành Phong Châu chắc là do nhầm lẫn cách đọc chữ Nôm với chữ Hán. Có thể Kinh Dương Vương mất trước khi Hồng Bàng Thị chia đôi thành Tây Âu và Việt Thường, nên mộ phần mới an toạ tại Châu Phong?

Như vậy tên Việt Thường xuất hiện hai lần trong lịch sử nước ta, nhưng thuộc hai triều đại khác nhau. Ở lần đi sứ thứ nhất đến nước Giao Đường Thị (2357-2258 TCN), khi ấy Việt Thường Thị là nhà nước hợp quốc của Kinh Dương Vương (Việt) và Động Đình Quân (Mường); Ở lần đi sứ thứ hai vào năm 1110 TCN sang nhà Chu là nước Việt (Lạc Việt, nác Việt Thường) của Hùng Vương. Cách quãng giữa hai giai đoạn lịch sử này là nhà nước Hồng Bàng Thị của Lạc Long Quân Sùng Lãm và Âu Cơ, bao gồm Việt Thường và Giao Chỉ hợp lại. Suy ra, 18 đời vua Hùng trị vì khoảng ±1000 năm, chí ít là từ năm 1110 TCN. Đây là một sự hợp lý về thời gian, bình quân mỗi đời vua trị vì khoảng 40 – 50 năm.

Việt Thường với lưu vực sông Lam, Động Đình với lưu vực sông Mã và Giao Chỉ với lưu vực sông Hồng, ngày nay đã được các nhà khảo cổ học chứng minh là ba vùng lõi của nền Văn hóa Đông Sơn, là tổ tiên sinh ra người Lạc Việt.

***

Tôi tiếp tục đặt câu hỏi nghi ngờ về sự nhầm lẫn lịch sử giữa dân tộc Việt Thường với các nhóm người Việt khác trong cộng đồng Bách Việt. Mà điều đầu tiên tôi muốn nói tới đó là, Bách Việt chưa bao giờ là một quốc gia trong lịch sử!  Bách Việt gồm nhiều quốc gia, hầu như toàn bộ Nam Á đều được người Hán gọi là Bách Việt.

Cụm từ “Bách Việt” xuất hiện khi nào?

Theo sử liệu Hán, thì ở thời đầu nhà Chu, người Hoa Hạ gọi các nhóm người ở bờ nam sông Dương Tử là Man (Ư, Mân, Đông, Cô, Sơn, Dương vv… ), bấy giờ cụm từ Bách Việt chưa xuất hiện ở lưu vực sông này. Chỉ khi Triệu Đà lập nên nước Nam Việt, những nhóm người Man đều thuộc vùng đất đai Nam Việt dựng quốc. Sau khi nhà Triệu bại vong, Nam Việt phân tản thành nhiều quận lệ thuộc Hán. Cụm từ Bách Việt xuất hiện trong Hán sử từ đó. Như vậy các nhóm người Man từ Cối Kê đến Quảng Tây, bao gồm hậu duệ người Việt và cả các chủng người khác sống ở bờ nam sông Dương Tử,  chính thức bị Việt hóa kể từ thế kỷ thứ III – TCN (tên các tộc người Man được gán thêm chữ Việt có lẽ là do các nhà nghiên cứu). Cho dù vậy, gia phả một số nhóm người Man ghi nhận tổ tiên của họ là người Việt. Ví dụ: người Mân cho rằng tổ tiên của họ thuộc một dòng dõi hoàng tộc người Việt. Trong khi người Ư được lịch sử gọi là Ư Việt, nhưng lại cho rằng họ có tổ tiên là nhà Hạ… Việc này tôi đánh giá là sự mở mang bờ cõi theo hướng bắc tiến của người Việt. Rồi trong công cuộc mở mang ấy, hình thành nên các thị tộc có nguồn gốc Việt,  sống lẫn lộn với các thị tộc có xuất xứ từ phương Bắc di cư đến bờ nam sông Dương Tử. Cho dù như thế, thì phàm những ai tự nhận mình là hậu duệ dân tộc Việt cần ghi nhớ, Lạc Việt là nôi sinh! Và cần được hiểu cho đúng, Bách Việt khi xưa, hay Việt Nam ngày nay, luôn luôn là đa sắc tộc, có nhiều chủng người sinh sống chứ không chỉ có mỗi một “chủng người Mongoloid phương Nam”? Chẳng cần đem khoa học chứng minh làm gì cho to tát vấn đề, chỉ cần nhìn màu da thôi cũng thấy rất rõ điều này!

***

Sự nhầm tiếp theo là nhầm lẫn về vị trí địa lý và lịch sử của nước Dạ Lang với nước Lạc Việt. Tôi cho rằng không có nước Văn Lang, mà chỉ có nước Lạc Việt, nước Tây Âu và nước Dạ Lang. Văn Lang có thể là kinh đô của nước Dạ Lang; hoặc là tên thuỵ của vua Hùng Vương Lang Liêu?

Trước khi chứng minh không có nước Văn Lang, tôi cần nói qua về nước Dạ Lang:

- Dạ Lang (Miêu): trong sử liệu Hán (206 TCN – 23 Sau CN) là một một bộ tộc hùng mạnh nhất trong các bộ tộc ở vùng Tây Nam Trung Hoa. Theo mô tả thì quân đội Dạ Lang có tới 100 nghìn lính tinh nhuệ, tàu bè đi lại tấp nập trên sông, cảnh quan phồn thịnh. Trong bài: “Chính thể Dạ Lang và Nguồn gốc của cái tên Trung Quốc” của tác giả  Geoff Wade (người dịch: Hà Hữu Nga), có đoạn : “ Nếu chúng ta tổng kết các nhận định trong các sử liệu Hán về Dạ Lang thì có thể thấy rằng trong khuôn khổ các giới hạn tạm thời của nó, chính thể Dạ Lang và tiền thân Tang Ca của nó đã mở rộng, với tư cách là một chính thể chủ yếu, ở vào thế kỷ III TCN, hoặc có lẽ thậm chí còn sớm hơn.  Cho đến khi các giới hạn địa lý được quan tâm, thì “Hậu Hán thư” đã lưu ý rằng Dạ Lang đã mở rộng về phía đông đến tận Giao Chỉ (bắc Việt Nam ngày nay), về phía tây đến Điền quốc (tập trung xung quanh hồ Điền Trì ở Vân Nam), và về phía bắc đến Cung Đô (ngày nay là Tứ Xuyên)”. Nước này vua được gọi là lang, kinh đô gọi là Văn Lang. Và theo mô tả trên thì trung tâm nước Dạ Lang ở nằm trên cao nguyên Quý Châu thuộc miền Tây tỉnh Vân Nam ngày nay. Ví trí địa lý một mặt giáp với Ba Thục, mặt kia giáp với hồ Động Đình, tây giáp với nước Điền (Lô Lô), đông giáp với Giao Chỉ. Vùng giáp biên với Giao Chỉ của Dạ Lang sau bị nhà Tần đánh chiếm lập thành Lâm Quất, Tượng Quận và đem tù binh bắt được của các nước lân bang đày đến đấy (đây có lẽ là lý do mà vùng biên cương phía Bắc nước ta có nhiều dân tộc thiểu số. Có thể tổ tiên của họ là tù binh của nhà Tần?). Trong cuộc chiến tranh giữa Nam Việt Triệu Đà với nhà Hán, do trước đó Triệu Đà từng có tham vọng quy phục Dạ Lang. Cho nên sau này nhà Hán lấy đó làm lợi dụng, cấu kết với nước Dạ Lang để tiêu diệt nhà Triệu. Nhưng khi nhà Triệu bại vong, thì Dạ Lang lại quy phục nhà Hán (năm 23 Sau CN).

Văn Lang là hiệu thụy của Lang Liêu sau khi mất?

Theo tập tục của cộng đồng Bách Việt từ thời Sơ sử đã có, thường một người sau khi mất, người ta căn cứ vào tài đức khi sống của người đó để đặt hiệu thụy, nếu vua giỏi về văn thì gọi Văn Vương, giỏi về võ thì gọi Vũ Vương. Tục này kéo dài đến đời hậu Lê ở nước ta vẫn còn duy trì. Ví dụ như Trần Quốc Tuấn sau khi mất được nhà Trần phong là Hưng Đạo Đại Vương; Đinh Liệt sau khi mất, được nhà Lê phong là Linh Cảm Đại Vương (Đại Vương là chức danh của các thần đất, còn Linh Cảm là địa danh dấy nghiệp thành công của Đinh Liệt). Theo mô tả trong sử liệu, Lang Liêu Hùng Vương là vị vua có phép ảo thuật “phong tục thuần lương chân chất, chính sự dùng lối thắt gút…” nên quy phục được nhiều bộ lạc. Có lẽ do chủ trương dùng văn để trị nước nên sau khi mất được đặt thụy là Văn Lang?

Nhầm lẫn có thể là ở chỗ nước ta thì có vua Văn Lang, còn Dạ Lang thì có kinh đô là Văn Lang, dẫn đến các nhà nghiên cứu sử cứ đi tìm kinh đô văn lang trên đất Việt Nam mà chẳng thấy đâu? Đó là chưa nói đến nước Sở cũng được gọi là Kinh Sở, lại cũng có vua Hùng, nên cũng dễ nhầm lẫn?

Tại sao tôi cho rằng không có nước Văn Lang?

Chứng cứ là sử liệu chép rằng sau khi thủ lĩnh Tây Âu bị diệt bởi nhà Tần, thì Thục Phán nổi lên, ép Hùng Vương nhường ngôi, hợp hai nước Tây Âu và Lạc Việt thành một, lấy tên là Âu Lạc. Vậy thì khi đó tên nước rõ ràng là Lạc Việt và Tây Âu chứ không phải là Văn Lang? Còn trước đó là Việt Thường Thị? Vậy thì vị trí nước Văn Lang nằm ở đâu? Giai đoạn lịch sử nào?

Tôi cần sử dụng một số ghi chép của sử cũ để làm rõ hơn về biên giới nước Âu Lạc:

- Cổ sử chép rằng: “Sau có quân Triệu Đà gây chiến ở núi Tiên Du (Bắc Ninh), đánh không lại An Dương Vương nên phải giảng hoà…”. Biên giới nước Âu Lạc và vùng đất thuộc quyền cai quản của Triệu Đà lúc bấy giờ lấy sông Tiểu Giang (tức sông Tương ở Bắc Ninh) làm giới tuyến.  Điều này chứng tỏ, trước đó nước Âu Lạc của An Dương Vương, dù đã bao gồm cả Tây Âu và Lạc Việt, thì biên giới phía bắc cũng mới chỉ tới bờ nam sông Tương ở Bắc Ninh mà thôi.

- Tôi có thể lấy thêm một chứng cứ khác: Sách “Đại Việt sử lược” chép: “Cuối đời nhà Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi rồi lên thay. Phán đắp thành ở Việt Thường, lấy hiệu là An Dương Vương, rồi không cùng với họ Chu thông hiếu nữa. Cuối đời nhà Tần, Triệu Đà chiếm cứ Uất Lâm, Nam Hải, Tượng Quận rồi xưng vương đóng đô ở Phiên Ngung, đặt quốc hiệu là Việt, tự xưng là Võ Vương.” Trong bài “Nam Việt Uý Đà liệt truyện”, Tư Mã Thiên cũng mô tả về sự hình thành nước Nam Việt, mầm mống âm mưu bắt đầu từ Nhâm Ngao đã mở nước cờ cho Triệu Đà. Lợi dụng khi nhà Tần bị tiêu diệt, “Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận”. Rồi dùng của cải mua chuộc các bộ tộc người Mân lệ thuộc vào mình. Sau thì dùng mưu đánh chiếm đất đai Âu Việt, lập nên nước Nam Việt và tự xưng là Triệu Đà Vũ Đế.

Như vậy căn cứ vào yếu tố giới tuyến là sông Tiểu Giang, thì có thể xác định, thời Hùng Vương, ba địa danh: Việt Thường, Giao Chỉ và Tượng Quận là ba vùng đất đai thuộc ba quốc gia khác nhau. Việt Thường, tức nác Việt (Lạc Việt) là  nước của vua Hùng; Giao Chỉ tức nước Tây Âu, chữ Âu trong Tây Âu và chữ Âu trong tên mẹ Âu Cơ là một chữ, tức Tây Âu là nước của mẹ Âu Cơ. Một thực tiễn  cho thấy vùng địa phương thuộc Tây Âu cho đến ngày nay vẫn gọi mẹ là U (chữ Âu còn phát âm là U) rất phổ biến; Còn Tượng Quận, trước thuộc đất đai của nước Dạ Lang, sau bị nhà Tần chiếm dụng làm nơi giam giữ tù binh. Việc này có thể căn cứ theo ghi chép của sử liệu đời Tống “Phong Châu xưa là đất Dạ Lang” mà khẳng định thêm. Ranh giới giữa Giao Chỉ và Tượng Quận là sông Tiểu Giang, ở huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Và Người Việt hẵng nhớ, quê cha là Việt Thường, quê mẹ là Giao Chỉ.

Tôi xin được làm rõ hơn nữa về miền đất Tây Âu Giao Chỉ. Đồng thời tôi sẽ phải tìm hiểu một chút về nguồn gốc của An Dương Vương Thục Phán. Cần tổng hợp một vài thông tin về An Dương Vương để phân tích:

- Cương mục tiền biên chép: “Nước Thục, từ năm thứ 5 đời Thận Tĩnh Vương nhà Chu (316 TCN) đã bị nhà Tần diệt rồi, làm gì còn có vua nữa? Huống chi từ Thục đến Văn Lang, còn có đất Kiện Vi (nay thuộc Vân Nam), đất Dạ Lang, đất Cùng, đất Tác và đất Nhiễm Mang (những đất này xưa là đất rợ mọi ở về phía tây và nam, nay thuộc Vân Nam), cách nhau hàng hai ba ngàn dặm, có lẽ nào Thục vượt qua được các nước ấy mà sang đánh lấy nước Văn Lang?”.

- Còn theo “Giao Quảng ký” của Hoàng Sâm: “Sau này con Thục Vương đem quân đánh Lạc Hầu, tự xưng là An Dương Vương, lỵ sở ở đất Phong Khê… Năm Bính Ngọ (255 TCN - tức Thục An Dương Vương năm thứ 3; Chu Đông - chu quân năm thứ 1). Tháng ba, mùa xuân, đắp xong Loa thành.”

- Theo sách “Thái bình hoàn vũ ký”, phần “Nam Việt chí”, của Nhạc Sử nhà Tống chép “An Dương Vương cai trị Giao Châu, Úy Đà đem quân sang đánh. An Dương Vương có thần nhân là Cao Thông giúp đỡ, chế ra cái nỏ, bắn một phát giết chết quân Triệu hàng vạn người, bắn ba phát giết đến ba vạn. Triệu Đà biết rõ duyên cớ, liền lui về đóng ở Vũ Ninh, rồi cho con là Trọng Thủy sang làm tin, xin hòa hảo với nhau. Nhà Thục, từ An Dương Vương khởi lên năm Giáp Thìn (257 TCN) đến năm Quý Tị (208 TCN) mất nước, cộng 50 năm…Năm Quý Mão (198 TCN - Triệu Dũ Vương năm thứ 10; Hán Cao hoàng đế năm thứ 9). Nam Việt vương Triệu Đà đã đánh và diệt được An Dương Vương rồi, sai hai sứ thần coi giữ quận Giao Chỉ và quận Cửu Chân.”

- Theo sử sách Trung Hoa, Ba - Thục là hai thị tộc cổ thuộc miền Tứ Xuyên, bị Tần Thủy Hoàng tiêu diệt vào năm 316 TCN. Hoàng tộc nhà Thục lánh nạn sang Tây Âu, nhưng đi giữa đường tiếp tục bị Tần Thủy Hoàng truy diệt. Sử ký của Tư Mã Thiên lại chép: “Năm thứ 33, Tần Thuỷ hoàng đưa những người trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm và Tượng Quận, Nam Hải; cho những người đi đày đến đó canh giữ…”

Như vậy, tôi đã có thể bao quát lại các nội dung trên để phân tích và đi đến nhận định như sau:

1. Giao Chỉ chính là nước Tây Âu, lãnh thổ từ Ninh Bình đến Bắc Ninh;

2. Việc “biên giới phía tây giáp Ba Thục” là sử ta chép nhầm sử của nước Dạ Lang;

3. Thục Phán đúng là hậu duệ nước Thục ở miền Tứ Xuyên. Có thể hoàng tộc nhà Thục nằm trong số bị đi đày đến Tượng Quận? Và ở đây thêm một minh chứng, đến thời nhà Tần, Tượng Quận và Giao Chỉ chưa hề là một nước. Chỉ khi thủ lĩnh Tây Âu bị nhà Tần diệt, Tây Âu mới bị lệ vào Tượng Quận. Ngay lúc này, họ Thục thừa cơ nổi lên lãnh đạo người Tây Âu chống lại nhà Tần. Như vậy, có hai điều cần làm rõ:

- Cho đến thời nhà Tần, nước Việt Thường (Lạc Việt) vẫn là quốc gia hoà bình độc lập, không có chiến tranh gây hấn với phương Bắc, cũng như không hề là nước chư hầu của phương Bắc trước đó. Cho nên có thể khẳng định Thục Phán An Dương vương là giặc đến từ phương Bắc.

- Ngay khi Thục Phán nổi lên ở Tây Âu, năm 257 TCN cũng chưa hẳn là năm đã cướp được nước của vua Hùng ngay. Bằng chứng là lúc bấy giờ Thục đóng dinh ở Cổ Loa trên đất Giao Chỉ (theo Sử ký, “Long Biên là thủ phủ của Giao Châu”, thì có thể phán đoán trước đó, Cổ Loa vốn là kinh đô của nước Tây Âu?). Sau việc thay thế thủ lĩnh Tây Âu, ổn định việc lãnh đạo người Giao Chỉ, thì Thục mới sinh giã tâm cướp nước của Hùng Vương. Với lý do cha của Thục trăng trối lại rằng phải trả thù việc Hùng Vương khi xưa dám từ chối gả con gái. Giữa Hùng – Thục  đã có những cuộc chiến tranh xảy ra liên miên ở cửa biển Đan Nhai. Vua Hùng Vương XVIII lúc bấy giờ do chủ quan mình có vũ khí mạnh nên mãi vui thú, đã bị Thục Vương cướp mất nước phải nhảy xuống giếng tự vẫn. Và như đã trích dẫn ở trên, “Đại Việt sử lược” chép “… Phán đắp thành ở Việt Thường…” . Như vậy thì có thể suy ra. sau khi thống nhất Âu Lạc, Thục Vương đã cho di dời kinh đô từ Cổ Loa đến đất Việt Thường. Có lẽ chính là di chỉ làng Vạc mà ngành khảo cổ học Nghệ An đã khai quật được gần đây. (Trên một diện tích khai quật rộng lớn 1.438m2, với dấu tích thành lũy hình tròn xoáy trôn ốc đắp bằng đất, 347 ngôi mộ cổ và 1.228 hiện vật gồm lẫy nỏ, mũi tên đồng, dao găm đồng, lục lạc đồng vv… Đặc biệt, bộ trống đồng với nhiều kỷ lục ghi nhận: nhiều nhất (8 cái); lớn nhất (đường kính 90cm) và hoa văn tinh xảo nhất. Các nhà khảo cổ học đã đi đến kết luận: “Di chỉ làng Vạc thể hiện một Trung tâm Văn hóa Đông Sơn ở thời kỳ đồ đồng phát triển rực rỡ nhất”). Theo lẽ thường, nơi văn minh văn hoá phát triển rực rỡ nhất của một quốc gia thì chỉ có là thủ đô mà thôi.

Và như thế có thể hiểu rằng, kể từ thời An Dương Vương, không chỉ có Tây Âu gia nhập vào Lạc Việt, mà còn có một nhóm tiểu thị tộc tên Thục từ phương Bắc đã bị Việt hóa, gia nhập vào cộng đồng cư dân Âu Lạc. Có thể sự hòa huyết hai chủng người AustraloidMongoloid bắt đầu từ đây?

Có một chi tiết về vùng đất Giao chỉ mà theo Đại Việt sử lược, thì cho đến thời kỳ này vùng đất Hà Nội vẫn còn chìm dưới nước, chủ yếu là  sông ngòi và sình lầy, cư dân thưa thớt, giao thông chủ yếu bằng đường thủy. Vùng đất như vậy rõ ràng là không phù hợp để chọn làm kinh đô, nên có thể là lý do của việc An Dương Vương dời kinh đô đến đất Việt Thường .

Nguồn gốc và ý nghĩa của những cái tên địa danh trên đất Nghệ An bị nhầm lẫn trong lịch sử:

Thiết nghĩ, nếu xem xét cho kỹ càng ý nghĩa của từ ngữ, để suy luận ra được nguồn gốc xuất xứ những cái tên, thì có thể lần ra được những mắt xích văn hóa, lịch sử bị đứt rời, tiến đến có thể hàn gắn lại được hình hài một nền tảng văn hiến không chừng. Nhưng tôi vẫn muốn nhấn mạnh rằng, nội dung này chỉ là một giả thuyết khảo luận mang tính cá nhân mà thôi…

Xích Quỷ: (赤鬼): Quỷ Kim Dương là một trong 7 ngôi sao mọc ở phương nam, trong hệ đồ Nhị thập bát tú. Theo hệ đồ này, bốn phương đông tây nam bắc mỗi phương đều có có 7 ngôi sao chiếu rọi. 7 ngôi sao chiếu ở phương Nam là sao Tỉnh (mộc), sao Quỷ (kim), sao Liễu (thổ), sao Tinh (mặt trời), sao Trương (mặt trăng), sao Dực (hỏa), sao chẩn (thủy). Có lẽ trong ngũ hành (kim, thủy, mộc, hỏa, thổ), thì sao Quỷ thuộc hành Kim, theo thuyết tương sinh thì Kim ứng với Càn, Kim sinh Thủy, nghĩa là mệnh trời sinh vận nước, cho nên Kinh Dương Vương đã chọn để đặt tên nước?

Và với ý nghĩa tên gọi như vậy, đem so với vùng có sông Dương Tử chảy trên địa đồ Trung Hoa, bắt nguồn từ Tây Tạng, qua Trùng Khánh đến Vũ Hán rồi đổ ra biển ở Thượng Hải, thì dòng chảy của sông này hoàn toàn trên đất Trung Nguyên, không có cớ chi để gọi là “Ngôi sao đỏ phương Nam” cho được?

Việt Thường (越常) :

Mồng năm ngày tết Đoan Dương

Là ngày giỗ mẹ (tổ?) Việt Thường Văn Lang

Câu ca này trong dân gian ẩn chứa điều gì chăng?

Mà không chỉ có câu ca. Người xứ Nghệ xưa kia rất coi trọng ngày tết mùng 5 tháng 5. Các ghi chép trong kho tàng sách tư liệu về văn hoá Nghệ Tĩnh cho thấy khi xưa tết Đoan Dương được tổ chức long trọng ngang ngửa với ngày tết Nguyên Đán. Vậy thử tìm hiểu xem ngày Đoan Dương mang ý nghĩa gì, cớ chi mà phải tổ chức long trọng?

Tính theo lịch ta, mùng 5 tháng 5 là ngày phát dương, đặc biệt giờ ngọ ngày này được cho là giờ phát năng lực dương mạnh mẽ nhất trong cả năm, vạn vật dường như đều thu liễm tinh chất vào trong. Cây lá thu hoạch vào giờ ngày này có dưỡng chất cao hơn bình thường.

Tôi đặt dấu hỏi: Liệu có phải Tổ tiên xưa đã khai quốc vào ngày phát dương nên gọi là Việt? Chữ Việt () nghĩa là phát Dương; còn chữ Thường () là lâu mãi, thường hằng. Như “nhân nghĩa lễ trí tín” (仁義禮智信 ) thì gọi là ngũ thường (五常). Việt Thường nghĩa là ánh dương thường hằng sáng soi. Có người giải thích, chữ Việt xuất phát từ loại vũ khí bằng đá (rìu đá) gọi là việt. Nói vậy có lẽ là đã nói ngược chăng? Cần suy luận ngược lại mới đúng: sở dĩ rìu đá có tên Việt, vì là loại vũ khí của người Việt?

Tết Đoan Dương ở Nghệ Tĩnh mang ý nghĩa khác hoàn toàn với tết Đoan Dương Trung Quốc. Nếu như bên Tàu, ngày mùng 5 tháng 5 được coi là ngày giỗ Khuất Nguyên; Thì ở Nghệ Tĩnh lại thể hiện rất rõ nét là một ngày tết truyền thống về báo đáp ân nghĩa tới những người đàn ông, đồng thời là ngày thuốc đông y. Ngày này, các thức được bày trong mâm lễ cúng gia tiên và thần linh ngoài con gà là loài vật có khả năng gọi được ánh dương, thì còn có các món làm từ lúa gạo như  xôi, bánh ngào, các loại bánh lá và các loại trái cây có giá trị chữa bệnh như mận, đào. Tôi nghi ngờ, cỗ cúng có lẽ là để tưởng nhớ Thần Nông – Vị Tổ nền nông nghiệp lúa nước và nền y học dân tộc Việt (Đông y), nên thành phần cỗ cúng mới chỉ có gạo và thuốc. Theo truyền thuyết còn lưu đọng trong dân gian Nghệ Tĩnh, thì vị tổ của ngành y học Việt mất vào giờ ngọ, ngày 5 tháng 5 trong một lần đi hái thuốc, khi lội qua suối thì bị một cơn lũ bất ngờ ập đến cuốn trôi. Còn dựa vào Lĩnh Nam trích quái và thuyết Lịch Rùa để suy luận, Thần Nông của người Việt là bố đẻ của Kinh Dương Vương; hoặc chính Kinh Dương Vương là Thần Nông? Khác với Thần Nông Trung Hoa có truyền thuyết về “Ngũ cốc tiên đế”, theo truyền thuyết này, người Trung Quốc có tới ngũ vị thần nông, chính là ngũ đế trong lịch sử của họ (Viêm Đế, Hiên Viên Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn). Ngũ cốc, theo Kinh Lễ thì gồm có: ma (hạt gai dầu), thử (kê), tắc (ngô), mạch (lúa mì), thục (đậu tương). Nghĩa là trong 5 thứ gọi là ngũ cốc mà người Trung Quốc thờ phụng không có hạt lúa. Từ đó suy ra nguồn gốc cây lúa là của tổ tiên người Việt trên đất Việt. Hiện sự tích “Ngũ cốc tiên đế” của người Trung Hoa có đền thờ trên núi Ngũ Lĩnh ở TP Quảng Châu.

 Tết Đoan Ngọ ở Nghệ Tĩnh thường xảy ra các tập tục sau:

+ Tục biếu quà của phái nam: Con rể biếu quà nhạc gia, bệnh nhân biếu quà thầy lang, tá điền biếu quà địa chủ, nho sinh biếu quà thầy đồ… các thành phần được xã hội biếu quà đều là nam giới mà không thấy có nữ giới? Có lẽ do là ngày dương thịnh, nên chỉ có hành lễ với đàn ông chăng? Tôi chợt nghĩ, đã có ngày rằm tháng bảy là ngày báo hiếu mẹ, vậy nên biến ngày Đoan Dương thành ngày báo hiếu cha sẽ vừa duy trì được tập tục truyền thống, vừa có sự ứng xử công bằng trong hành động báo hiếu.

+ Tục giết sâu bọ:

Tháng năm ngày tết Đoan Dương

Ngày ấy mưa xuống lo lường có sâu

Câu ca dao trên là kinh nghiệm dân gian Nghệ Tĩnh nói về tiết khí, tính từ ngày tết Đoan Ngọ đến trong vòng một tuần sau đó mà trời đổ mưa thì mùa màng có thể gặp họa sâu nở. Nên ngoài việc cúng cầu thần linh phù hộ diệt trừ côn trùng sâu bọ, bảo vệ hoa màu, thì nhân dân thường có hành động gọi là “giết sâu bọ” như ăn quả chua lúc đói để trừ giun sán, dùng lá móng tay nhuộm móng cho trẻ con để trừ mé trùng, bôi hồng hoàng vào rốn và thóp trẻ em để tránh tà ma ác khí, kiếm thạch sùng cho lội vào thau nước để tắm cho trẻ khỏi rôm sảy.

+ Tục hái thuốc: Đúng vào giờ ngọ ngày mùng 5 tháng 5, thì đi tìm những cây thuốc có khả năng chữa bệnh, như ích mẫu, kim ngân hoa, sài đất, ngải cứu, chè vằng… thu lượm về phơi khô, sao chế và cất trữ để sử dụng làm dược trà trong cả năm. “Đến đây anh dặn em rằng: đau mắt nuốt nụ hoa vừng thì thôi”. Hoa vừng là một trong những vị thuốc trường thọ, sáng mắt. Hễ đến giờ ngọ ngày tết Đoan Dương thì dân làng kéo nhau ra ruộng vừng, hái hoa vừng để ăn, con trai thì nuốt 7 hoa, con gái thì nuốt 9 hoa. Còn cây vừng thì đàn bà con gái thường hái về nấu chung với bồ kết để gội đầu cho tóc mượt và mau dài; hạt vừng đen thu hoạch được đem sao vàng hạ thổ dùng làm thuốc trường sinh, ngâm với nước mắm cốt để dùng cho người đi biển ngừa gió chướng. Dầu vừng dùng trị bệnh táo bón, da dẻ thô ráp, tóc chẻ ngọn. Tục đi mót lúa chét, là những hạt lúa muộn sau khi đã gặt rồi mới trổ, đem về phơi khô giã lấy gạo gọi là trần mễ. Có câu “Gạo trần mễ ai dễ được ăn” là bởi trần mễ rất quý, không dùng để nấu cơm mà dành để làm thuốc.

Xâu kết các thông tin lại, tôi cho rằng tập tục Tết Đoan Dương ở Xứ Nghệ và cái tên Việt Thường có sự gắn kết với nhau về mặt ý nghĩa cội nguồn. Mong được các nhà nghiên cứu bàn thảo để tôn vinh.

***

Và để có cơ sở suy luận về vị trí đóng đô của nước Xích Quỷ, tôi cần luận giải một chút về những cái tên mà tôi cho là của Nghệ An đã bị nhầm lẫn trong lịch sử như: Nhật Nam, Lĩnh Nam, Ngũ Lĩnh, Ngũ Mã, Sùng Lãm, Lạc Thư…

Địa danh Nhật Nam thực chất ở đâu?

Lịch sử Thanh Hóa thì ghi “Nhật Nam, thuộc châu Ái”; Lịch sử Diễn Châu thì chép: “Thời Hùng Vương, châu Diễn nằm trong Bộ Hoài Hoan. Sau đó, thuộc quận Cửu Chân rồi quận Cửu Đức, quận Nhật Nam”; Lịch sử và dư địa chí triều Nguyễn hai quyển chép mâu thuẫn với nhau. Đại Nam nhất thống chí thì chép: “Huyện Thạch Hà… đời Trần là châu Nhật Nam…”. Khâm Định Việt sử thông giám cương mục - chính biên thì ghi chép và giải thích xem ra lủng củng: “Quận Nhật Nam thống trị 5 huyện: Chu Ngô, Tị Ảnh, Lư Dung, Tây Quyển, Tượng Lâm”. Tức tương đương với Quảng Bình và Quảng Trị. Nhưng rồi chính Cương mục chính biên lại mâu thuẫn ở phần lý giải: “Nhật Nam: Xưa kia là bộ Việt Thường. Đời Tần, là đất Tượng quận. Đời Triệu, thuộc quận Cửu Chân. Đầu đời Hán, tách ra đặt làm Nhật Nam. Các đời Ngô, Tấn, Tống vẫn để nguyên thế. Sau đó bị Lâm Ấp chiếm mất. Đời Tùy bình Lâm Ấp, lấy đất ấy đặt làm Đãng Châu, rồi đổi làm quận Tị Ảnh. Sau nữa mất vào đất Chiêm Thành, bây giờ là đất Quảng Bình và Quảng Trị. Theo Nhan Sư Cổ, Nhật Nam nghĩa là ở về phía Nam mặt trời, tức gọi là mở cửa về phương Bắc để hướng về chiều mặt trời. Như Thuần nói: Đương lúc giữa trưa, mặt trời tròn bóng, đúng giữa đầu mình, nên gọi là Tỵ Ảnh”.

Thật ra, các ghi chép đều đúng cả. Nhưng xem ra địa danh Nhật Nam sở dĩ gây nên sự khó hiểu là vì Nhật Nam không phải là một địa danh cố định, mà là châu trại thuộc loại di động. Chữ “nhật” trong Nhật Nam, có lẽ không phải là chữ nhật chỉ mặt trời, mà chữ nhật này , theo từ điển Hán - Việt thì nghĩa của nó: “dùng ngựa để truyền tin tức gọi là nhật (nếu dùng xe thì gọi là truyến )”. Nhật Nam là trại tiền trạm ở biên giới phía Nam, là vùng cứ điểm nhận tin và truyền tin của quân đội.

Cụ thể, khi Chăm Pa đánh chiếm được đất Việt Thường của An Nam, thì đất bộ Hoài Hoan của  Giao châu gọi là Nhật Nam (Diễn Châu); Khi Cao Biền lấy lại Việt Thường, thì Nhật Nam ở châu Thạch Hà Nam Giới; đời Nhà Trần, ban đầu huyện Thạch Hà được gọi là châu Nhật Nam, sau thì chia đất Châu Hoan thành hai, gọi là Châu Hoan và Châu Hoan Nam Giới, khi ấy Nhật Nam trại thuộc vào khoảng từ Kỳ Anh (Hà Tĩnh) đến sông Gianh (Quảng Bình). Những thời điểm vua Việt, hoặc tướng nhà Hán đánh chiếm được đất Chăm Pa, thì Nhật Nam dời sang đất Chăm Pa, lúc thì Quảng Trị, lúc lại Quảng Nam. Đó đủ thấy Nhật Nam là tiền trạm di động của quân đội.

Nhật Nam là vậy, còn Lĩnh Nam là vùng đất nào?

Năm 112-TCN, nhà Hán cướp đất Nam Việt, từ đó thường gọi đất Nam Việt  là Lĩnh Nam. Tháng 5, mùa hạ năm Hàm Thông thứ 7 (866), Nhà Đường chia đất Lĩnh Nam làm hai đạo gọi là: Đông đạoTây đạo.  Đông Đạo tương ứng với Quảng Châu, Tây Đạo ứng với từ Ung Châu đến hết đất An Nam. Tây Đạo còn được gọi là Lĩnh Nam Tây Đạo, hoặc đôi chỗ người chép sử bỏ chữ Tây Đạo, chép tắt thành Lĩnh Nam.

Ví dụ:

Sách “Khâm Định Việt sử thông giám cương mục” chép: “Năm Quý Mùi (803). (Đường, năm Trinh Nguyên thứ 19). Tháng 12, nhà Đường lại cử Triệu Xương sang làm đô hộ. Theo Đường thư, bấy giờ Triệu Xương về triều làm tế tửu chưa được bao lâu, bộ tướng Giao Châu đánh đuổi Bùi Thái. Đức Tông vời Triệu Xương tới để hỏi tình hình. Triệu Xương bấy giờ đã ngoài 70 tuổi, tâu bày rõ ràng không lẫn; Đức Tông lấy làm lạ, lại cử sang làm đô hộ. Khi tờ chiếu đến nơi, người Giao Châu cùng nhau mừng rỡ; quân làm phản liền yên ngay. Triệu Xương sau thăng làm tiết độ sứ đất Lĩnh Nam, dẹp yên và hàng phục được những nơi biên viễn. Vì có công, Xương được thăng thượng thư bộ Công, tước thái tử thiếu bảo, năm chết đã tám mươi nhăm tuổi, vua Đường truy tặng cho Xương chức Dương Châu đại đô đốc.”

Theo sách “An Nam kỷ yếu” chép: “Bấy giờ Nam Chiếu (chăm Pa) đánh phá phủ thành, nhà Đường gọi quân các đạo về giữ Lĩnh Nam Tây Đạo, bãi bỏ phủ đô hộ, đặt Hành Giao Châu ở trấn Hải Môn, dùng hữu giám môn vệ tướng quân Tống Nhung làm chức Hành Giao Châu thứ sử, Vũ Nghĩa tiết độ sứ Khang Thừa Huấn kiêm tiết độ sứ Lĩnh Nam và chư quân hành doanh…”. Hải Môn, nay thuộc biên giới Việt Trung.

Như vậy Lĩnh Nam cũng là một địa danh di động, có khi từng là toàn bộ lãnh thổ nước Nam Việt, nhưng có khi chỉ là đất An Nam. Bởi vậy, một số bài nghiên cứu căn cứ vào hai chữ Lĩnh Nam, rồi gán hết tổ tiên người Việt sang hết bên bờ sông Dương Tử, có lẽ nên xem lại kẻo mà sự nhầm lẫn làm mất giá trị bài viết?

Đó là chưa kể đến, núi Nam Giới ở huyện Thạch Hà cũng có tên gọi khác là Nam Lĩnh.

Còn Ngũ Lĩnh thì ở đâu?

Khâm Định Việt sử thông giám cương mục – Chính biên, chép: “ Ngũ Lĩnh: theo sách Nam Khang ký của Đặng Đức Minh, Ngũ Lĩnh có năm quả núi: Đài Lĩnh là quả núi thứ nhất, ở đất Đại Dũ; Kỵ Điền là quả núi thứ hai, ở đất Quế Dương; Đô Bàng là quả núi thứ ba, ở đất Cửu Chân (nay là tỉnh Thanh Hóa); Manh Chử là quả núi thứ tư, ở đất Lâm Hạ; Việt Thành là quả núi thứ năm, ở đất Thủy An. Theo sách Quảng châu ký của Bùi Uyên, Ngũ lĩnh là Đại Dũ, Thủy An, Lâm Hạ, Quế Dương và Yết Dương, bây giờ trong địa phận tỉnh Quảng Đông và tỉnh Quảng Tây. Phương Dĩ Trí có nói: "Kể đến Cửu Chân thì xa quá, nên cho thuyết sau là phải hơn". Sách Lĩnh Ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi chép rằng: "Từ nhà Tần, có vấn đề Ngũ Lĩnh, mọi thuyết đều cho là chỉ vào núi mà gọi tên cả. Bây giờ xét ra, đó là năm đường đi vào Ngũ Lĩnh, chứ không cứ phải là núi đâu: Con đường từ tỉnh Phúc Kiến qua sông Thinh, vào tỉnh Quảng Đông, sang núi Tuần Mai, là một; con đường từ tỉnh Giang Tây đi Nam An, qua núi Đại Dũ, vào Nam Hùng, là hai; con đường từ tỉnh Hồ Nam đi sang đất Thâm rồi vào đất Liên, là ba; con đường từ Đạo Châu vào Quảng Tây rồi đi huyện Lâm Hạ, là bốn; con đường từ Toàn Châu vào Tỉnh Giang, là năm.”.

Như vậy, Ngũ Lĩnh trong sử sách Trung Quốc không dùng để chỉ núi Ngũ Lĩnh ở Quảng Châu, mà là 5 ngọn núi hoa tiêu đánh dấu năm ngả đường đi vào vương quốc này?

Nghệ An cũng có núi Ngũ Lĩnh, có lẽ là kinh đô của nước Xích Quỷ?

Một chi tiết quan trọng, nhưng tôi thấy ít nhà nghiên cứu để ý đến. Sự bỏ qua này, dẫn đến sự nhầm lẫn các địa danh trùng tên trong lịch sử, khiến cho các sự kiện lịch sử bị gãy khúc, mâu thuẫn không thể liên kết. Đó là trên đất Việt Thường từng có những cái tên địa danh cổ trùng với địa danh của lịch sử như: Ngũ Lĩnh là nhánh của Hồng Lĩnh, Nam Lĩnh là tên khác của núi Quỳnh Viên Nam Giới, Phong Châu nay là thị trấn Đức Thọ, Đường Lâm, Phúc Lộc  thuộc đất Thạch Hà, Vũ Ninh thuộc Hương Khê, Lai sơn và Lâm Thao là một địa danh ở dãy núi Trà Sơn, Động Đình ở Yên Thành, Vũ Môn ở Hương Khê, Hà Hoàng nay còn đoạn cuối là sông Hộ Độ ở TP Hà Tĩnh, Hương Tích, vv… Có lẽ trong cuộc mưu sinh mở mang bờ cõi, hậu duệ người Việt khi khai phá tới đâu, những lấy tên cố hương của mình để ghi dấu tới đó. Ví dụ: Đường Lâm, Phúc Lộc ở châu Thạch Hà xuất hiện sớm hơn địa danh Đường Lâm Hà Nội, cùng đều liên quan đến Bố Cái đại vương Phùng Hưng và Ngô Quyền, hay chùa Hương Tích Hà Tĩnh có sớm hơn Hương Tích Hà Nội vài thế kỷ,  vv…

Hiện ghi chép của lịch sử Việt Nam chính biên thì các vua Hùng truyền ngôi được 18 đời. Nhưng cả 14 bộ của Văn Lang đều không thể hiện có dấu tích hoạt động của các vua Hùng trừ vùng đất Việt Thường. Lịch sử Nghệ Tĩnh thể hiện có dấu tích hoạt động của các vị vua Hùng thứ ba, thứ tư, và thứ mười tám. Nhưng điểm quan trọng là dấu tích tuy hiếm hoi, song lại khá là có đầu có cuối, vẫn đủ để thể hiện một quá trình trị vì đến đời thứ mười tám của triều đại các vua Hùng hoàn toàn xảy ra trên đất Việt Thường.

Trong đó, cuộc chiến giữa Hùng Vương XVIII với Thục Phán cho thấy xảy ra liên miên ở cửa Đan Nhai. Địa danh này theo mô tả trong lịch sử chính là cửa sông Lam đổ ra biển. Ở đây tôi cũng xin nói rằng ở thời Hùng Vương, Nghệ Tĩnh chưa có cửa biển Hội Thống như “Ngọc phả Hùng Vương” ghi chép. Đồng thời tên cổ của núi Hồng Lĩnh là Hồng Lĩnh chứ không phải Ngàn Hống. Biển lúc này ăn sâu vào tận chân núi Quyết. Phía bờ nam sông Lam chính là nhánh núi tách ra của dãy Hồng Lĩnh bởi một cái truông (nay là đường vào thị trấn Xuân An). Đoạn nhánh núi tách khỏi dãy Hồng Lĩnh này được gọi là Ngũ Mã, hay còn gọi là Ngũ Lĩnh, tức núi có năm đỉnh (chữ lĩnh (岭)là đỉnh núi). Chưa hết, núi này còn được gọi là Hùng Lĩnh, Nghi Lĩnh, Nghĩa Lĩnh (chữ “nghi” cũng được đọc là “nghĩa”). Vấn đề nhầm lẫn biên giới phía Bắc nước ta, tôi đã có đề cập đến ở phần nói về nước Dạ Lang, nay nói thêm về Ngũ Lĩnh ở Nghệ An để bổ sung.

Lời bình đưa ra rằng: Ngũ Lĩnh của Trung Quốc vào thời Hùng Vương thuộc đất Dạ Lang; Còn Ngũ Lĩnh của Việt Thường thì ở ngay tại vùng đất Kinh Dương Vương khai cơ như trong lịch sử ghi chép. Không chỉ thế, với cái tên Hùng Lĩnh, tức núi Hùng, thì nơi đây cũng có thể là kinh đô của nước Lạc Việt? Dưới chân Ngũ Mã ẩn chứa nhiều dấu tích lịch sử quan trọng, thể hiện rõ nét một cuộc sống của con người nối tiếp liên tục từ thời kỳ Tiền sử đến thời kỳ Sơ sử của hai dòng văn hóa Hòa Bình và văn hóa Đông Sơn. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy ở đây những ngôi mộ chum, di chỉ đá mới, mặt trống đồng Đông Sơn, xưởng đúc đồng, lò luyện sắt, chõ đồ xôi….

Một chi tiết khác khá thú vị, đó là dãy Hồng Lĩnh không chỉ mang dấu ấn của các vua Hùng, mà đỉnh Hương Tích còn thể hiện dấu tích lưu trú về cuối đời của vua Chu Trang Vương, vua Dạ Lang. Có vẻ như họ cũng là con đẻ của Việt Thường, nên khi thất thế về quyền lực, những lại lần tìm về cố hương để nương mình. Dãy núi Hồng Lĩnh có lẽ còn ẩn dấu nhiều điều chưa biết ?! Hương Tích hoàn toàn không phải là ngôi chùa thờ Phật, mà là nơi thờ phụng các đấng Việt Tiên Linh !?

Hồng Lam hay là Sùng Lãm?

Giải thích về ý nghĩa tên chữ của núi Hồng Lĩnh, trong sách “An Tĩnh cổ lục” chép rằng: “hồng” là con chim hồng; “lĩnh” là lấy đà. Tôi cho rằng sự lý giải này chưa đúng? Nhìn vào tên chữ “Hồng Bàng” (鴻龐) và “Hồng Lĩnh” (鴻嶺), sẽ thấy có chung một chữ “hồng” là “chim trời”. Hai chữ còn lại, “bàng” có hai nghĩa đáng quan tâm, “bàng” là “to lớn” và cũng là “cái nhà thật lớn”; “lĩnh” là đỉnh núi. “Hồng Bàng” là ngôi nhà lớn của chim trời, còn Hồng Lĩnh là đảo chim. Có lẽ đây mới là giải thích đúng, bởi mé ngoài giáp biển Đông của dãy Hồng Lĩnh có hình vòng cung như mái võng ngôi đình. Chốn này có thể ví như ngôi nhà của muôn loài chim. Hàng năm cứ vào tiết Bạch Lộ, Sương Giáng, hàng đàn chim trời, trong đó có nhiều loài chim quý hiếm như Trĩ, gà gô, cò trắng, thiên nga, chim sả, quạ, hải yến, hoàng anh và vô vàn chim én tìm về cư ngụ. Hồng Lĩnh xưa kia là ngôi nhà của muôn loài chim. Đây có lẽ là lý do vì sao trên mặt trống đồng có hình hài những cánh chim trời?

Đó là lý giải theo thực tế tên chữ trong sử sách ghi chép. Còn như căn cứ vào tên gọi khác của Hồng Lĩnh là Hùng Lĩnh, hay Hùng Sơn, thì có thể chữ Hùng có nguồn gốc xuất xứ từ Hùng Vương?

Hồng Lĩnh ý nghĩa là vậy, còn tên của sông Lam thì mang ý nghĩa gì?

Trong tiếng Hán không có từ sông mà chỉ có “giang” (), phiên âm Hán cổ là “Kroong”, điều đáng chú ý là từ “giang” trong tiếng Hán có cội nguồn từ ngôn ngữ Nam Á như "Kraong" trong tiếng Chăm pa hay "krung" trong tiếng Mông cổ. Vậy chỉ có tiếng Nôm mới có chữ  “sông” (). Thú vị ở chỗ chữ “sông” trong tiếng Nôm lại được cấu thành từ hai chữ thuỷ () tức là nước và long () tức là rồng, phiên âm Việt cổ chữ này đọc lên nghe như là “Sùng”, hay “lùng”, “lung”, “Krung”, “Klông”. Sông Lam còn có tên gọi khác là sông Lung, sông Rung, những đoạn sông cụt được gọi là lùng; Chữ “Lam” () tên của sông Lam không phải là từ chỉ màu xanh, mà ý nghĩa của nó là “thổ thần”. Ý nghĩa tên chữ của Sông Lam là “Long Mạch Thổ Thần”. 

          Huyền thoại kể lại rằng, “…ngày xưa có một trận đại hồng thuỷ, nước ngập mênh mang khắp miền đất Việt Thường, nước lũ cuốn trôi hết nhà cửa, hoa màu, làng mạc, xóm thôn, con người cũng bị cơn hồng thuỷ điên cuồng nhận chìm trong nước lũ. Đúng lúc đó, có một con rồng hiện lên, lấy đầu húc một dòng từ miền ngược xuống miền xuôi, nhờ đó, nước không chảy tràn lan nữa mà chảy theo một dòng ra biển cả. Cũng từ đó những mùa mưa lũ sau, nước không còn hung dữ như trận hồng thuỷ năm đó, mà ngược lại dòng sông đem về phù sa khiến cho làng mạc xóm thôn của đất Việt Thường ngày thêm trù phú và người Việt Thường theo huyền thoại con rồng đã đặt tên cho nguồn nước là Thanh Long, tức Sông (), ngày nay gọi là Sông Lam…”. 

Tôi đặt câu hỏi: Liệu câu chuyện truyền thuyết về Sông Lam có phải bắt nguồn từ dấu tích Sùng Lãm? Có lẽ dòng  Sông Lam xưa kia đã từng có một sự can thiệp trực tiếp nào đó từ đôi bàn tay thần lực của Đức Việt Tổ Lạc Long Quân Sùng Lãm trong việc khơi dòng, khai thông các sông ngòi, đầm hồ, để thoát nước về biển, cứu dân thoát khỏi nạn hồng thuỷ hoành hành hàng năm? Và từ đó con sông này mang tên của chính Đức Việt Tổ Lạc Long Quân Sùng Lãm? Liệu có phải tên của sông là “Sùng Lãm” mà người Việt đời sau đọc trại thành “Sông Lam”? Rồi từ Sùng Lãm (Sông Lam), con cháu người Việt Thường đã đi đến những miền khai phá mới, tới đâu chữ “Sùng” được đặt tên cho các dòng chảy tới đó, như là một sự đánh đấu về biên ải, lãnh thổ của họ Sùng, cho đến một ngày tất cả các dòng chảy trên lãnh thổ của người Việt Thường thống trị đều có chữ “Sùng” nghĩa là “Nước Long” làm đầu, mà ngày nay hậu duệ cháu con người Việt gọi là “Sông”?  Nếu đọc “Lạc Long Quân” là “Nác Long Quân” thì sẽ dễ dàng thấy ngay được ý nghĩa là “Vua Nước Rồng”, chứ không phải xuất thân của Lạc Long Quân là con cháu của Long Vương Thủy Tề nào cả? Suy luận đến đây, tôi tạm thời kết luận: “Sông Lam” chính là từ đọc trại của từ “Sùng Lãm”! Mà cũng có thể cả tên chữ “Hồng Lam” cũng là do đọc trại từ Sùng Lãm mà ra.

Xuất xứ hình tượng con rồng trong văn hoá phương Đông

          Sách “An Tĩnh cổ lục –  Hippolyte Le Breton”, bài nói về Hồ Nộn Liễu ở Nam Đàn – Nghệ An, có đoạn phỏng đoán con rồng như sau: 

 “…Ở đây có một điều rất thú vị cần nhắc lại một vài nét về phong tục đã mất từ nhiều thế kỷ. Dưới thời Hồng Bàng (2879-258 TCN), theo như các nhà bình luận về biên niên sử An Nam kể lại thì nhân dân ở chân núi thấy ở cửa Giang Hà có rất nhiều tôm cá, bèn kéo nhau đến đánh, nhưng bị rắn và cá sấu cắn. Người dân bèn tâu với vua sự việc như vậy. Vua trả lời: "Loại trùng của núi rừng và giống ở dưới nước là thù địch với nhau, cái gì giống với chúng thì chúng ưa, cái gì mà chúng thấy là kỳ lạ thì chúng căm ghét: nhà vua có lệnh cho xăm mình". Từ đó trở đi, rồng không còn làm hại cho ai nữa và tục xăm hình của người Bách Việt cũng bắt nguồn từ đó (trăm họ Việt: người An Nam).

 Cũng cần phải biết rằng ngôn từ dùng để chỉ những con cá sấu được dịch ra là “con rồng"(giao long). Đến thể kỷ XIII, các Hoàng đế An Nam bèn theo tục lệ vẽ hình một con rồng ở nhà bếp. Tục lệ này liên quan mật thiết với tập tục của những người Việt sơ khai, họ đã vẽ trên thân mình hình tượng của những con cá sấu. Những điều đó đã dẫn một số tác giả đi tìm con cá sấu có nguồn gốc từ con vật tưởng tượng mà người Tàu và người An Nam gọi là "Long…".

Đã có thể phỏng đoán câu chuyện một cách có nguồn cơn hơn: Chính vị Thuỷ tổ Kinh Dương Vương là người đã dạy con dân vẽ hình xăm để tìm cách thuần phục, hoà mình sống chung được với loài giao long hung dữ, để rồi từ đó Lạc Long Quân tự nhận mình là “Con Rồng”; một giả thuyết khác, hoặc là do bộ tộc người Việt Thường mang hình xăm con rồng trên mình, nên được các bộ tộc khác gọi là “Con Rồng”. Và nếu đúng như vậy thì có thể khẳng định Rồng có nguồn gốc từ bộ tộc người Việt Thường ở núi Hồng Lĩnh. Tục xăm mình nói lên quang cảnh mưu sinh gian khổ thủa sơ khai của Tổ tiên chúng ta.

          Như vậy người Việt là con của Rồng đã rõ rồi, còn Tiên là ai? vì sao người Việt lại là “cháu Tiên”?

Tôi vẫn sẽ bắt đầu từ ý nghĩa của tên chữ mà suy: Chữ “tiên” trong “Gia Tiên”() tiếng Nôm không phải là tiên cảnh, hay cô tiên gì cả, mà chữ tiên chỉ người đã khuất. Còn chữ “Gia” trong “Gia Tiên” vừa chỉ người nhà, vừa mang ý nghĩa tổ ấm. Vậy “gia” đi với “tiên” đơn thuần nghĩa là “người nhà đã khuất”. 

Một thực tế rất đơn giản và dễ hiểu, chứ không hề có sự huyễn hoặc nào cả. Người Việt có quyền tự hào là “Con Rồng Cháu Tiên”. Ngay từ khi khởi dựng cơ đồ từ gần 5000 năm trước, những người con của Rồng đã sớm có trong tay một giang sơn hùng mạnh, với một nền văn minh văn hiến thuộc hàng cổ đại của loài người. Và để chứng minh điều này, tôi sẽ nhắc tới một thành tựu khoa học vĩ đại của người Việt Thường bị đánh cắp, đó là:

Hà Đồ - Lạc Thư!

Lạc Thư thì thông qua câu chuyện đi sứ ở đời Đào Đường thứ năm, với lễ vật là con rùa “nghìn năm, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau…”. đã rõ là thành tựu khoa học của người Việt Thường truyền sang Trung Quốc. Vậy còn Hà Đồ là thứ gì, của ta hay của Tàu?

Tương truyền khi sắp mất, Khổng Tử than rằng: “Nếu cho ta thêm vài năm nữa thì ta sẽ hiểu Kinh Dịch một cách toàn vẹn”. Khổng Tử than rằng mình đã không may mắn để nhìn được “Hà Đồ ở sông Hoàng Hà”? Chứng tỏ thứ sách mà Khổng Tử để lại được cho đời chỉ có mấy điều gọi là “tam cương, ngũ thường” và kinh “Xuân thu” mà thôi. Với lời than vãn đó cũng chứng tỏ mấy nội dung: tự, thoán, hệ, tượng, thuyết, quái, văn ngôn, của Kinh Dịch không phải do Khổng Tử biên soạn? Đến đời cháu nội của Khổng Tử là Tử Thư viết được quyển “Trung Dung” là một cuốn sách có giá trị to lớn về phép “bình thiên hạ”, nhưng cũng không dính dáng gì đến dịch số? Kinh Dịch không phải là thành tựu của Nho Giáo.

Quay lại vấn đề Hà Đồ. Kinh sách xưa chép rằng Hà Đồ nổi trên lưng một con long mã ở sông Hà Hoàng. Nhưng các nhà dịch học do cứ nghĩ Hà Đồ - Lạc Thư là thành tựu của Nho Giáo Trung Hoa, nên khi tìm không thấy sông Hà Hoàng ở đâu trên đất Trung Hoa, thì bèn cho đó là sông Hoàng Hà?

Vậy trên thế gian có sông Hà Hoàng không? Và có thì ở đâu?

Lần theo sử liệu Hà Tĩnh, sông Hà Hoàng vốn dĩ là khúc hạ nguồn sông Lam, chạy vòng vèo dưới chân núi Hồng Lĩnh một đầu chảy sát  dưới chân Hồng Lĩnh như ngày nay. Đầu kia đổ ra cửa biển nơi núi Quỳnh Viên Nam Giới, đường chảy này cho ta thấy Hồng Lĩnh khi xưa vốn là một quần đảo với bốn bề sông nước. Theo thời gian, dòng chảy thay đổi, lòng sông Hà Hoàng cạn dần, chỉ còn lại dấu vết những ao hồ và một vài đoạn còn lại. Nay là các sông Mênh, sông Nghèn và sông Hộ Độ.

Các nhà chiêm tinh học có thể làm một trắc nghiệm để thấy Hà Đồ hiện lên ở chính nơi “sông Lam rọi núi Hồng”. Những đêm trăng rằm, ít mây, trời cao thanh trong, nước đứng, lòng sông in rõ bóng trăng sao và bóng núi, lúc bấy giờ sẽ nhìn thấy rõ hình đồ thất tinh, cũng như giải Ngân Hà trên lưng núi Mã. Cho nên gọi “Long Mã phụ đồ” có lẽ là vậy? (sông Lam còn có tên là Thanh Long như đã nói trên). Còn hà là sông, hà cũng là Ngân Hà, hoàng là màu vàng, có lẽ do đêm trăng làm cho mặt nước lấp lánh ánh vàng nên gọi là Hà Hoàng? Tùy theo trăng rằm từng tháng, quý, mỗi dịp chòm sao thất tinh xuất hiện ở mỗi góc độ khác nhau, tổng hợp bốn phương nam bắc đông tây lại, tổ tiên ta xưa tổng đếm được cả thảy là 28 ngôi sao phương vị. Thực chất thì chỉ có 7 ngôi xoay vần tứ hướng mà thôi. Các ngôi sao này ngày nay được khoa học chứng minh chính là bảy hành tinh trong hệ mặt trời: Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ, Nhật, Nguyệt.

Sông Hà Hoàng thì nay đã thay đổi hình hài, nhưng núi Ngũ Mã thì vẫn còn lưu luyến dáng xưa. Nhân dân Hà Tĩnh thường có thói quen nhìn mây bay và sao mọc ở phía Ngũ Mã để dự đoán thời tiết: “Mống mọc Cương Gián, trời giáng mưa to / Mống mọc Tả Ao trở sào không kịp; Cầu rú Hống, mống Tả Ao, gió bên Lào thổi sang không mưa thì bão; vv…”.

Hà Đồ - Lạc Thư là một cặp đôi Kinh lịch song hành, nên Lạc Thư có nguồn gốc ở đâu thì Hà Đồ cũng sẽ có nguồn gốc ở đó, là lịch tính Vận - Khí của người Việt Thường. Nếu Lạc Thư là biểu thị quy luật vận hành của Khí (Địa), thì Hà Đồ biểu thị đường đi của Vận (Thiên). Đất Nghệ An khi xưa trong các đền chùa đều có thờ phụng hai hình tượng: “Long Mã phụ đồ”, là hình tượng con long mã cõng trên lưng một tờ bản đồ cuộn bằng giải mây; và “Thần Quy phụ thư”, chính là hình ảnh con rùa trên mai có hình Lạc Thư, đầu đội 9, đuôi đội 1, hai vai đội 4 và 2, hai mông đội 8 và 6, hai bên lườn đội 3 và 7, giữa lưng đội 5, tính ngang dọc đều có tổng là 15.

Như vậy cần hiểu cho đúng ý nghĩa của Hà Đồ - Lạc Thư là công trình khoa học đầu tiên của người Việt Thường, nghiên cứu về quy luật vận hành của trời đất, sự ảnh hưởng của Vận – Khí đến vạn vật trên thế gian. Tuy là cơ sở xuất xứ của hệ đồ bát quái, nhưng hoàn toàn không phải là thứ dùng để gieo quẻ xem bói của người Trung Hoa như các nhà dịch học vẫn sử dụng hiện nay. Theo đó, Kinh lịch tính ra được vòng quay của các hành tinh, gọi là Nguyên – Hội – Vận – Thế:

- Nguyên là thời gian của Nhật (chu trình của mặt trời) - Một Đại Nguyên là 129.600 niên cục (năm của Trần thế), gồm 12 Hội;

- Hội là thời gian của Nguyệt (chu trình của mặt trăng) – Một Đại Hội bằng 129.600 : 12 = 10.800 niên cục, gồm 30 Vận;

- Vận là thời gian của Tinh (chu trình của các tinh tú) – Một Đại Vận bằng 10.800 : 30 = 360 niên cục, gồm 12 Thế;

- Thế là thời gian của Thần (chu trình của tinh thần) -  Một Đại Thế bằng 360 : 12 = 72 niên cục, gồm 6 Giáp;

- Giáp là thời gian của Nhân (chu trình của con người) – Một Giáp bằng 72: 6 = 12 niên cục.

Như vậy chu kỳ vận hành giữa Trời – Đất không chỉ có 64 quẻ biến dịch, mỗi quẻ 6 hào như các sách dịch số hiện nay ghi chép. Mà có cả thảy 129.600 lần tương tác, hay nói cách khác là có 129.600 hiện tượng biến dịch xảy ra trong vũ trụ có thể gây ảnh hưởng đến vạn vật, mỗi biến theo tôi là có 12 hào cả thảy. Chu kỳ biến dịch là 129.600 năm trần thế, thì lặp lại như ban đầu. Do đó để tính chính xác mỗi một hiện tượng xảy ra ảnh hưởng như thế nào trong mối quan hệ tam tài Thiên – Địa - Nhân không phải dễ. Và để xử lý mỗi hiện tượng, nên chào đón, hay nên tránh lui? Thì Lạc Thư với 9 con số khắc trên lưng rùa chính là kinh nghiệm để ứng xử với bốn phương tám hướng mà tổ tiên truyền lại.

Hiện trên thế giới, lịch cổ Hy Lạp một đại niên là 25.900 platon (năm Dương lịch); Lịch của người Maica và lịch nhà Phật đều là 10.800 năm  (thời gian của Hội theo chu kỳ mặt trăng); Còn theo thuyết “Tam nguyên” của khoa lịch toán cổ Trung Quốc, đang là lý thuyết nền tảng cho các nhà soạn lịch bây giờ thì chỉ có NguyênVận: Một nguyên là một vòng giáp tý, có nghĩa là chỉ có 60 năm (tương đương với số năm của một Ngươn Platon). Tam Nguyên là ba vòng giáp tý bằng  180 năm. Tam Nguyên lại được chia thành ba chu kỳ: Thượng nguyên – Trung Nguyên – Hạ Nguyên. Rồi thì mỗi Nguyên lại được chia thành ba Vận, vị chi mỗi Vận là 20 năm. Tôi thấy sự chia chác này có vẻ không hợp lý, bởi platon là năm dương lịch, nên ứng vào chu kỳ âm lịch của phương Đông thì khập khiễng? Một chu kỳ của Thần là 72 năm, gồm 6 Giáp, mỗi giáp là 12 năm, Giáp là chu kỳ của Nhân, nếu chỉ tính có 60 năm thì chưa hết một chu kỳ của Thần. Chu kỳ thời gian mà chia không đúng, thì dự đoán thời vận cũng sẽ thiếu chính xác. Khi phát hiện ra điều này, tôi đã thử nghiệm bằng cách bỏ Tam nguyên, quay về với bản chất gốc của Hà Đồ - Lạc Thư để tính toán, thì có vẻ như bước đầu đã có hiệu quả. Tuy nhiên, để giải quyết xong phép toán của người xưa, cần tới 72 năm thí nghiệm, mà tôi thì giỏi lắm chỉ sống thọ được nửa thời gian đó thôi…

***

Cái tên cuối cùng của miền đất được xem là Long mạch Thổ thần, mà tôi muốn đề cập tới, đó là Nghệ An.

Nghệ An (乂安), nghĩa là yên định thái bình. Cai trị được dân yên gọi là nghệ (); làm được cho thiên hạ yên định thái bình thì gọi là nghệ an (乂安).

Miền đất này qua bao lần đổi tên, từ Xích Quỷ, Việt Thường, Cửu Đức, Hoan Châu, cuối cùng là Nghệ An, tên nào cũng mang ý nghĩa thái bình yên định. Trải hơn một vạn năm khởi hình dân tộc Việt; và gần 5000 năm hình thành quốc gia, dựng nước và giữ nước, Nghệ An luôn luôn đóng vai trò tiên quyết trước vận mệnh dân tộc. Cụ thể diễn biến như thế nào, tôi xin được luận bàn về vị thế của Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam thời kỳ sau Công Nguyên ở chương III. Còn chương II, để cho liền mạch lịch sử, tôi xin được thảo luận về dấu tích vua Hùng trên đất Hà Tĩnh.

Kỳ sau: Phụ lục 1 - Dấu tích 5 vị vua Hùng trên đất Hà Tĩnh

***

Tài liệu tham khảo:

- An Tĩnh cổ lục - Hippolyte Breton 

- Việt Nam Sử lược - Trần Trọng Kim

- Khâm định Việt sử thông giám cương mục triều Nguyễn

- La Sơn Yên Hồ - Hoàng Xuân Hãn

- Đại Nam nhất thống chí - Lê Quý Đôn

-  Đại Việt sử ký toàn thư

- Các ghi chép về Văn hóa Hồng Lam của  nhà văn hóa Thái Kim Đỉnh và Ninh Viết Giao.

- Làng cổ Hà Tĩnh

-  Một số chi tiết từ các bài tham luận trên baohatinh.vn và vanhoanghean.com.vn

-  Các dư địa chí của Nguyễn Trãi, Phan Đình Phùng, Bùi Dương Lịch và các tư liệu khác trong kho tàng văn hóa lịch sử Nghệ An  - Hà Tĩnh

- Tư Mã Thiên sử ký và một số sử liệu cổ Trung Hoa

 

===============================================

Ý kiến bạn đọc:
Nguyễn Trọng Phi

Em đã đọc hết bài của chị va mở rộng tầm mắt cũng như biết thêm được lịch sử quê hương xứ nghệ.Bài viết thật sự rất logic và em còn một số thắc mắc xin được chỉ phân tích. Quê hương của Ngô quyền và phùng hưng thực sự nằm ở đâu khi có rất nhiều về tồn nghi,Thanh hóa, Hà nội hay Hà tĩnh mới là quê hương của họ. Theo chị thì quê hương của các vị vua trên có nằm trên đất hà tĩnh, khi mà các địa danh Đường Lâm ở Hà tĩnh nhầm lẫn với Đường Lâm ở Hà Nội

Phlanhoa phản hồi:

Cám ơn đã đọc cái bài dài loằng ngoằng ấy của tôi nhé.

Bạn đọc bài này của Lê Thanh Tùng để biết tường tận hơn về Ngô Quyền và Phùng Hưng.

Nguyen Huong Giang

     Cảm ơn chị nhiều lắm, hầu như ngày nào em cũng vào để đọc những bài viết của chị... Nhờ chị mà em càng thấy yêu quê hương Hà Tĩnh của chị hơn đó, quê em ở Hưng Yên nhưng em sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, năm nào em cũng vô Hà Tĩnh đến 3 4 lần chị ạ. Em thấy ở quê chị gần gũi với em lắm, em cũng đã về cả xã Đức La quê chị rồi... Là nhà báo, nhiều lúc em muốn lấy các bài viết của chi về văn hóa nghệ thuật để đăng lại trên báo em nhưng khoojg liên lạc được với chị. Chi cho em số Đt nhé. Em đang theo dõi loạt bài về Nguồn gốc Người Việt và đất nước Việt Thường của chị - em chúc chị đi đến cùng chị nhé! Em chào và cảm ơn chị. HUONG GIANG

Phlanhoa phản hồi

     Chào bạn. Chúc buổi sáng đầu tuần tốt lành.

     Cám ơn bạn đã quan tâm tới bài viết của tôi. Trên con đường đi tìm món ngon Nghệ An - Hà Tĩnh bị đánh mất trong lịch sử. Tôi chợt nhận ra, người Nghệ Tĩnh không chỉ đánh mất mon ngon, mà đánh mất rất nhiều thứ quý báu khác. Chỉ tiếc là con thuyền tôi đang chèo ngược dòng, độc đạo và bài viết của tôi thường dài gấp năm bảy lần so với một bài báo, nên có lẽ không phù hợp để đăng báo. Tôi sẽ cố gắng hết sức trong khả năng của mình, cho dù đó chỉ là giả thiết khảo luận mang tính cá nhân.

Một lần nữa xin cám ơn.

 

Oa Na

Em sang chị đọc bài. Thật ngưỡng mộ tài năng hiểu biết,dày công sưu tầm để khẳng định có tính lịch sử... nếu khi nào chị cần về hang Đồng Trương, Anh Sơn, thì chị gọi cho em, em sẽ cùng đi để giúp đỡ chỉ đường cho chị gái yêu nhé...mong chị thật luôn khỏe mạnh..mãi mãi xinh đẹp.

Phlanhoa phản hồi

Củm ơn Dì mi trước. Thế nào cũng phải về đó thắp nén hương bái tạ Việt Tiên Linh!

Nguyễn Đình Hòa

       Tôi xem bài viết của planhoa và cảm thấy bài viết rất hay, phân tích rất logic.Trong thực tế đây cũng là những vấn đề nhiều bạn đọc suy nghĩ và đang"chưa tin lắm với các tài liệu lịch sử " liên quan đến lịch sử dựng nước và giữ nước.Rất tiếc là sử sách cũng chưa có"quyển" nào khẳng định 100%.Bài này nếu tác giả gửi lên "hội nghiên cứu lịch sử VN" thì rất hay.Hoặc bài viết này nếu tác giả cộng tác với một nhà "sử học hay giáo sư tiến sỹ về lĩnh vực này" thì e bài viết sẽ được các nhà khoa học chú tâm đến...Tuy nhiên,thông qua trang báo này,bạn đọc chắc ai cũng muốn đọc liên tục một hơi để muốn biết nhanh khúc kết của nó cho thoả mãn tính "tò mò" và nhất là những gì họ đang cần biết chính xác về địa lí;lịch sử nước nhà Chúc tác giả sức khoẻ và thường xuyên quan tâm đến mảnh đất quê hương"xứ Nghệ" của chúng ta.

Phlanhoa phản hồi 

Chào anh Hòa kính quý.

Cám ơn anh đã chịu khó đọc hết bài viết dài tới 28 trang. 

Trên con đường đi tìm công bằng cho miền đất An Tĩnh, Phlanhoa luôn là kẻ cô đơn, chỉ có thể bàn chuyện lịch sử Nghệ An được với các linh hồn Tiên tổ trong cõi âm ti mà thôi. Gần đây, nhờ có vụ tranh luận trên vanhoanghean.com.vn về "Nguồn gốc người Việt, người Mường", nên một phần nội dung đã được đăng tải trên trang này, cũng như đã in trên Tạp chí văn hóa Nghệ An", đó cũng là một cách Phlanhoa nhắn gửi thông tin, để các nhà nghiên cứu văn hóa Nghệ An - Hà Tĩnh cùng vào cuộc, đòi lại công bằng cho quê hương mình.

Nhưng mà, Phlanhoa tự nhận mình là cư dân mạng, nên việc truyền tin qua báo giấy thực sự là rất chậm chạp, nội dung lại bị hạn chế, phạm vi phổ biến hẹp, cho nên trang web cá nhân này cộng với blog cá nhân là nơi đưa tin mau nhất, phổ biến được rộng rãi nhất tới cộng đồng người Nghệ trong và ngoài nước. Mục tiêu chính của Phlanhoa là thông qua lịch sử, giúp người Nghệ mau chóng thoát khỏi tính cách tự ti hiện nay, mau chóng vực lại tinh thần, bởi muốn thoát Trung, người Nghệ phải đi đầu trong cả nước...


Để gửi ý kiến nhấp vào đây

Các tin khác:
 Phụ lục 8: Những di chỉ, di cốt trong các hố khai quật ở Nghệ Tĩnh nói lên điều gì? (18h: 12-04-2015)
 Cuộc chiến Việt – Chăm trong lịch sử và nghi vấn về sự tích Đế Minh Thần Nông (11h: 02-04-2015)
 Những người con yêu nước, nhưng đối lập về tư tưởng đường lối cứu nước của đất Hồng Lam trong thời kỳ chống Pháp (1884 – 1954). (22h: 09-03-2015)
 Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ - Hai con chim đầu đàn, có công lớn trong việc phát triển và bảo tồn hai di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại: Ca trù và Ví dặm. (12h: 13-02-2015)
 Thực hư của “Cột đồng Mã Viện” và “Tấu thư Cao Biền” (15h: 17-01-2015)
 Các nàng hằng nga tái thế ở La Giang làm thống lĩnh công tác hậu cần trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh của vua Lê Lợi (11h: 15-01-2015)
 Sự tích “Cá gáy hóa rồng” ở thác Vũ Môn liên quan đến lịch sử hai lần khởi đánh quân Nguyên Mông của nhà Trần. (00h: 11-01-2015)