Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
Dấu tích 5 vị vua Hùng trên đất Hà Tĩnh
 
(12h: 02-01-2015)
Dấu tích 5 vị vua Hùng trên đất Hà Tĩnh
Các giả thiết khảo luận của Phan Lan Hoa về " DẤU TÍCH NHÀ NƯỚC VIỆT THƯỜNG THỊ VÀ VAI TRÒ NGHỆ AN TRONG DÒNG LỊCH SỬ VIỆT NAM"
***
Trong chương này sẽ có những nội dung đáng chú ý như: nguồn gốc Đạo giáo, tục đem muối đi hỏi vợ, tục ăn trầu, tục phong tước hiệu cho người đã mất. vv…
***

 DẤU TÍCH NHÀ NƯỚC VIỆT THƯỜNG THỊ  

VÀ VAI TRÒ NGHỆ AN TRONG DÒNG LỊCH SỬ VIỆT NAM

***

Chương II: Vết tích các vị vua Hùng trên đất Nghệ An (1)

***

Khi tôi viết phụ lục I, bàn về Đạo giáo ở Việt Nam, có người phê bình tôi là  đang giọng văn nghiên cứu nghiêm túc, lại chuyển sang “buôn dưa lê”? Nhưng rồi người ấy lại thú nhận nội dung “buôn dưa lê” của tôi có lẽ là đúng. Tôi cười hì hì  bảo rằng: tùy theo cung bậc cảm xúc trước mỗi sự kiện mà viết thôi, cung, thương, chủy, giốc, vũ có đủ mới hòng đạt được những gì mình muốn diễn tả. Huống hồ chi tôi là một kẻ chưa được xã hội công nhận là tay bút nghiệp dư chứ đừng nói nghiên cứu. Nội dung tôi muốn đề đạt thì đúng là giống kẻ tám chuyện, dây cà ra dây muống, không chuyên về môn nào. Tại tôi thấy, truyền thuyết, lịch sử, khảo cổ, văn hóa, lễ tục, tâm linh… mỗi môn đều là những đốt xương sống tạo nên hình hài vóc dáng Việt Thường, nên không thể bỏ qua.

Chương II này, tuy nội dung chính là tìm tòi dấu tích các vị vua Hùng trên đất Nghệ An. Nhưng hiềm nỗi nguồn gốc một số lễ tục thờ cúng ở Việt Nam, xem ra đều do bàn tay các vua Hùng gầy dựng, nên tiện khi nhắc đến sự kiện, tôi muốn nói luôn về cái hậu phát triển của sự kiện, ý nghĩa tâm linh của nó ra làm sao, nhân dân Nghệ An đã duy trì truyền thống thế nào… do đó có thể lại tiếp tục bị chê là “buôn dưa lê”. Nhưng tôi vẫn muốn bảo thủ viết theo ý mình, bởi tôi muốn Nghệ An không chỉ có Ví Dặm mới “tận đáy”, mà tất tần tật mọi thứ của nền văn hiến Hồng Lam, cả  lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, đều phải “tận đáy”, phải để nhân dân hiểu được cho tới “ngọn nguồn khúc nhôi cay gừng mặn muối” mới thôi!

Trong chương này sẽ có những nội dung đáng chú ý như: nguồn gốc Đạo giáo, tục đem muối đi hỏi vợ, tục ăn trầu, tục phong tước hiệu cho người đã mất. vv…

Hai vị tổ nghề muối và nghề ngư ở đất Kỳ La – Nhượng Bạn là vua Hùng Vương thứ nhất và thứ hai chăng?

Dưới chân núi Thiên Cầm, từ thủa khai cơ, đã có miếu thờ hai vị tổ nghề muối và tổ nghề ngư của ngư dân và diêm dân vùng Kỳ La – Nhượng Bạn, hai vị đó tên là Dang Hùng và Đông Đạo.

Trong đó, Đông Đạo được cho là người đã sáng chế ra chiếc bánh lái thuyền, một trong những thành tựu về cơ khí của người Việt ở thời kỳ văn hóa Đông Sơn.

Còn Dang Hùng, theo truyền thuyết dân gian địa phương, thì vị này sống ẩn trong hang trên núi Thiên Cầm, có phép ảo thuật, thường rất nghịch ngợm, hay chòng ghẹo các bà cô đi chợ. Có lần, có một chị đàn bà đội một cái thủ heo trên đầu, nhưng Dang Hùng bảo chị ta đội đầu lâu, thế rồi ai nhìn cũng thấy chị ta đội đầu lâu người, chị ta hạ xuống và cũng nhìn thấy đầu lâu, bèn quẳng cả mọi thứ ù té chạy vì sợ hãi. Dang Hùng tủm tỉm lượm nướng ăn giữa chợ. Nhân vật Dang Hùng được nhân dân mô tả rất thú vị, vừa có yếu tố của một thầy phù thuỷ, lại vừa mang dáng dấp một tướng cướp, nhưng Dang Hùng đồng thời cũng là người bày cho dân cách nấu nước biển thành muối. Sau có giặc xâm lấn, Dang Hùng tụ hợp dân chúng đánh giặc và bị giặc bắt ở một con đèo bên núi, con đường đèo này từ đó được gọi là “đường Bắt”.

Điều đáng chú ý là hình ảnh vị tổ nghề muối của đất Kỳ La rất gần gũi với hình ảnh vua Hùng Vương thứ nhất trong mô tả của cổ sử Việt Nam: “là người có phép ảo thuật, tính tình chân chất thuần lương, quy phục được nhiều bộ tộc…”. Hơn thế nữa, là vị tổ nghề muối, tức Dang Hùng có dính dáng đến tập tục đem muối đi hỏi vợ của người Việt thời sơ sử. Lĩnh Nam trích quái chép: “Ban đầu quốc dân ăn mặc chưa đủ, phải lấy vỏ cây làm áo mặc, dệt cỏ ống làm chiếu nằm; lấy cốt gạo làm rượu, lấy cây quang lang, cây soa đồng làm bánh; lấy cầm thú, cá tôm làm nước mắm, lấy rễ gừng làm muối; lấy dao cày, lấy nước cấy; đất trồng nhiều gạo nếp, lấy ống tre thổi cơm, gác cây làm nhà để tránh nạn hổ lang; cắt ngắn đầu tóc để tiện vào rừng núi, con đẻ ra lót lá chuối cho nằm; nhà có người chết thì giã cối gạo để cho hàng xóm nghe mà chạy đến cứu giúp; trai gái cưới nhau trước hết lấy muối làm lễ hỏi, rồi sau mới giết trâu để làm lễ thành hôn, đem cơm nếp vào trong phòng cùng ăn với nhau cho hết, rồi sau mới tương thông…”.

Sực nghĩ, người Nghệ An vì sao mấy ngàn đời nay, luôn sẵn câu nằm lòng “gừng cay muối mặn” không bao giờ nguôi? Có lẽ do vua Hùng Vương thứ nhất là vị tổ của nghề muối, cho nên con trai khi đi hỏi vợ mới đem muối làm lễ vật chăng?

Không chỉ thế, nếp sống ẩn trong hang núi, lại có phép ảo thuật của Dang Hùng và cái tên của vị tổ nghề ngư Đông Đạo đều thể hiện hai vị này là các đạo sĩ của phái Đạo giáo Vô Ngôn Thông. Một kiểu tu hành không để lại lý thuyết sách vở, mà chỉ truyền đạo cho một đệ tử duy nhất kế tục bằng dạy dỗ trực tiếp. Các phép ảo thuật phù thủy, khí công, thôi miên đều có nguồn gốc từ phái đạo Vô Ngôn Thông. Hùng Vương thứ nhất không chỉ là một vị vua, mà còn là Tổ sư của dòng đạo Vô Ngôn Thông? Đông Đạo (Đạo giáo phương Đông?), có lẽ là đạo hiệu của vua Hùng Vương thứ hai chăng?

Vua Hùng thứ III và câu chuyện Tiên Dung – Chử Đồng Tử

Nếu không có sự xuất hiện của vua Hùng Vương thứ III tại núi Thiên Cầm như lịch sử ghi chép, thì tôi đã không có lý do gì để đặt dấu hỏi nghi ngờ hai vị tổ nghề muối và nghề ngư là hai vị vua Hùng. Và với sự xuất hiện của ba vị vua Hùng, lại ba vị đạo sĩ (Thiền Quang, Dang Hùng, Đông Đạo) trên cùng một địa danh, điều đó có thể đi đến kết luận, Kỳ La – Nhượng Bạn (nay là khu du lịch Thiên Cầm, Hà Tĩnh) chính là quê hương của các vị vua Hùng, đồng thời là nơi xuất xứ của Đạo giáo? Các vị vua Hùng là các tổ sư của Đạo giáo.

Chuyện kể rằng: Ngày xưa ở làng Chử Xá. Có cậu bé mồ cô cha mẹ từ nhỏ, không biết tên họ là gì, nên dân làng quen gọi là Chử Đồng Tử (đứa bé mục đồng ở làng Chử). Chử thường làm thuê cho các thuyền buôn ở chợ Hà. Một hôm Chử đi cùng môt thuyền buôn đến cửa biển, rồi bơi sang chơi ở núi Quỳnh Viên, gặp một ông lão râu tóc bạc phơ xưng là Bụt Quang, sống ẩn dật trên núi. Ông lão trao cho Chử một cây gậy và chiếc nón, rồi bảo với Chử đó là chìa khóa vạn năng của mọi phép nhiệm màu. Thế là từ đó Chử ở lại trên núi Quỳnh Viên để tu tiên.

Đời Hùng Vương thứ III, có con gái là Tiên Dung. Vị công chúa này tính tình sôi nổi, thích ngao du sơn hà đó đây hơn là thích lấy chồng. Một hôm, nghe Quỳnh Viên có thắng cảnh thần tiên, bèn dong thuyền ra đó vãn cảnh. Rồi nàng gặp Chử Đồng Tử và đã ở lại cùng Chử Đồng Tử tu tiên từ đó. Vua Hùng hay tin vô cùng giận giữ, liền cấm Tiên Dung không được quay về triều. Chử Đồng Tử và Tiên Dung bèn cắm cây gậy của Bụt Quang trao cho xuống đất, úp cái nón lên và ngồi thiền cùng nhau. Một đêm nọ, đất ở dưới chân hai người sụt xuống thành môt cái đầm sâu, rồi cũng từ đó không ai còn nhìn thấy Chử Đồng Tử và Tiên Dung đâu nữa, nên ai ai cũng cho rằng hai người đã hóa tiên bay về trời.

Tiên Dung – Chử Đồng Tử có nhiều dị bản. Trong đó dị bản phổ biến nhất hiện nay đều coi đầm Dạ Trạch và làng Chử Gia ở Hưng Yên là nơi xuất phát sự tích? Tuy nhiên xét trên thực tế, Hưng Yên là tỉnh lỵ không có biển, không có núi Quỳnh Viên, tên đầm Dạ Trạch xuất hiện ở thời Triệu Quang Phục, còn tên làng cũng không khẳng định được rằng có từ thời Hùng Vương? Trong khi đó ở Hà Tĩnh có đủ tên núi, tên làng, tên chợ. Núi Quỳnh Viên và làng Chử Xá, chợ Hà đều thể hiện là rất cổ xưa và đảm bảo được hầu hết các yếu tố lịch sử.

Sách “Nghệ An chí” của tiến sỹ Bùi Dương Lịch; “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú; “Đại Nam nhất thống chí” của Lê Quý Đôn đều chép như nhau, Nam Giới xưa là núi Quỳnh Viên, ngọn núi có sự tích Chử Đồng Tử tu tiên đắc đạo. Vua Lê Thánh Tông khi tiến quân qua Nam Giới, cũng đã đề như sau: “Danh sơn thuyết cổ tự Quỳnh Viên” (ngọn núi nổi tiếng này xưa còn gọi là núi Quỳnh Viên).

Quỳnh Viên là tên gọi cổ xưa nhất của núi Nam Giới, tên gọi này xuất hiện cùng với tên núi Hồng Lĩnh ở thời sơ sử. Quỳnh Viên nằm bên phải cửa Sót, xưa thuộc đất Hà Hoàng của nước Việt Thường, nay thuộc đất Thạch Hà của tỉnh Hà Tĩnh. Hiện trên núi Quỳnh Viên còn dấu tích của hai cái nền, tương truyền là dấu vết Chử Đồng Tử và Tiên Dung tu tiên để lại. Đỉnh núi cuối cùng của dãy Quỳnh Viên gọi là Long Ngâm. Ở phía dưới chân núi này có một cái đầm, có lẽ là đầm trong sự tích? hiểm trở, kỳ bí chưa ai dám đến. Đáy hồ thông với biển, xung quanh bờ nhiều bùn lầy, hoa cỏ mọc xanh um thành hàng rào bao quanh, lại có hai ngọn núi nhỏ mọc thành vòng cung hai bên tựa hồ như hai cái râu rồng. Ngày thường, mặt đầm trong xanh, cảnh sắc hùng vĩ, nhưng khi thủy triều lên, nhất là ngày biển động, nước sôi lên, lại ngọn núi phía trên trông giống như cái trán rồng, đầm như cái miệng rồng phun nước, nên núi này mới có tên là Long Ngâm. Trên núi có khe Hau Hau, từ xưa đã nổi tiếng là dòng nước mát lành nhất xứ Hoan Châu. Về mùa đại hạn, nhân dân ở vùng cửa Sót thường lên đây lấy nước ngọt về bán cho các vùng lân cận. Người ta thường mua nước của khe Hau Hau với giá cao hơn nước lấy từ các nguồn khác.

Làng Chử Xá (nay là xã Đậu Chử, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh), chợ Hà (nay thuộc xã Kỳ Lợi, Kỳ Anh, Hà Tĩnh). Trong truyền thuyết mô tả, chợ Hà gần  một thương cảng, nơi thương nhân ngoại quốc qua lại buôn bán tấp nập bằng thuyền bè, cũng không phù hợp với địa danh ở Hưng Yên? Ngược lại chợ Hà ở Kỳ Anh vị trí vừa gần cảng biển (nay là Vụng Áng) như trong mô tả. Từ cảng này lại có thể bơi thuyền ra núi Quỳnh Viên rất gần. Nơi đây khi xưa là thương cảng trao đổi giao lưu hàng hóa giữa Việt Thường và Lâm Ấp.

Bàn về Đạo sĩ thiền Quang hay Phật Quang? Sách nhà Phật ở Huế chép rằng: “Phật (?) Quang người Chăm hay người Ấn Độ, đến tu hành ở núi Quỳnh Viên và truyền đạo cho Chử Đồng Tử, sau đó Chử Đồng Tử truyền đạo cho Tiên Dung. Hai vị này trở thành Phật và Quan âm đầu tiên của Việt Nam…”? Nếu mà chép như vậy thì thật là mâu thuẫn. chẳng hóa ra đạo Phật ở Việt Nam lâu đời hơn ở Ấn Độ? Bởi câu chuyện Tiên Dung – Chử Đồng Tử xảy ra ở thời Hùng Vương thứ III, ước chừng vào khoảng sau năm 1110 TCN. Trong khi Lịch sử Phật Giáo ra đời ở thế kỷ thứ VI-TCN, Phật Thích Ca thua Phật Quang dễ hơn 500 năm tuổi? Càng không thể gọi Tiên Dung là Quán âm? bởi đơn giản chức danh Quán âm trong lịch sử  Phật giáo ghi rõ là nam giới giả gái?

Sự mâu thuẫn này bắt nguồn từ việc giới Phật giáo Việt Nam đang ngộ nhận cả Tam Giáo trên đất Việt Nam đều là của đạo Phật, đồng thời ngộ nhận danh hiệu Bụt là Phật?

Thiền Quang người Chăm thì còn có thể đúng. Bởi vùng đất từ Kỳ Anh đến núi Quỳnh Viên là vùng giao thoa giữa hai dân tộc Việt - Chăm, đất này lúc thì lệ vào Lâm Ấp, lúc lại thuộc đất Việt Thường. Chỉ biết rằng sau này, lặp lại một lần nữa, đạo sĩ trụ trì chùa Khai Quốc của nước Đại Việt cũng đến từ dân tộc Chăm như đã nói ở phụ lục I. Xét cho cùng thì hai dân tộc Chăm và Việt đều thuộc chủng người Australoid, vị chi cùng một dòng máu giống nòi...

Tôi sẽ làm rõ Bụt ở Việt Nam không phải là Phật. Và tục phong tước hiệu cho người mất ở nước ta.

Sách “Tư Mã Thiên sử ký”, ở bài “Tần Thủy Hoàng bản kỷ” đã trích lại nội dung tờ chế (một dạng như chiếu chỉ) của Hoàng Đế như sau: “ Trẫm nghe nói thời Thái cổ có hiệu, nhưng không có hiệu bụt. Thời Trung cổ có hiệu và sau khi chết người ta căn cứ vào việc làm của nhà vua mà đặt hiệu bụt. Làm thế tức là con bàn bạc về cha, tôi bàn luận về vua, thật là vô nghĩa. Trẫm không chấp nhận điều ấy. Từ nay trở đi, bỏ phép đặt hiệu bụt…”

Ở phần chú thích chép: “Đời Hạ, đời Thương không có “thụy” tức là hiệu bụt. Đến đời Chu mới đặt lệ, khi vua chết, các quan căn cứ  vào hành trạng của vua mà đặt hiệu hiệu cho vua, cái đó gọi là hiệu bụt. Do đó vị vua nổi về văn, giáo hóa thì gọi là Văn Vương, có vụ công thì lại gọi là Vũ Vương, ngu tối độc ác thì gọi là U vương, Lệ vương, vv…”

Như vậy cũng đã rõ, ở thời nhà Chu, bụt là tên hiệu của vua sau khi chết. Văn Vương, Vũ Vương đều là hiệu bụt.

Ở nước ta cũng có lệ này, mãi tới đời Nguyễn ở thế kỷ XIX vẫn còn duy trì hiệu bụt, và không chỉ có nhà vua mới có hiệu bụt. Văn võ bá quan có công với đất nước đều được sắc phong danh hiệu, đó cũng là một hình thức phong hiệu bụt.

Sách “An Tĩnh cổ lục” chép: “ Người An Nam rất kỵ tên riêng. Gọi tên ấy lên, tức là xúc phạm đến người ta. Cho nên họ giữ kín tên ấy cẩn thận lắm, và thay thế bằng những tên vay mượn. Thành ra, cha thì bằng lòng gọi theo tên con trai, người viên chức thì theo tên công việc, người thợ thủ công theo tên nghề v..v... Và nếu gọi người trên hoặc người ngang hàng bằng tên thật thì chẳng khác gì chửi họ. Vả lại ở châu Âu ít nhiều cũng tương tự như thế.

Bởi vậy không nên ngạc nhiên khi thấy người ta cấm đọc hoặc viết lên tên của một ông vua. Nhưng muốn hiểu rõ việc cấm đoán đó thì phải biết rằng mỗi một ông vua có ít ra cũng đến năm tên hoặc hiệu…”

Năm loại tên hiệu đó là:

1- Niên hiệu (ví dụ khi Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy tên con trai là Tự Đức để đặt niên hiệu lịch giám cho triều đại của mình, nên triều Nguyễn Huế năm thứ nhất được gọi là “niên hiệu Tự Đức thứ nhất).

2- Tên của vua trước khi lên ngôi, đó là danh tự.

3- Ngự danh.

4- Miếu hiệu: tên chọn để đặt cho đền thờ các tiên liệt hoặc tên triều đại, miếu hiệu, viết trên bài vị của bàn thờ người quá cố. Đấy là tên mà các biên niên sử nói đến.

5- Hiệu bụt (còn gọi là tên thụy, tên hèm):  là tên đặt cho người chết, cho thi hài của họ, tước hiệu mang điềm lành cho thế giới bên kia, tước hiệu bổ sung cho tên trước trong biên niên sử. Ví dụ Đinh Liệt sau khi mất được phong là Linh Cảm Đại Vương; Lý Nhật Quang sau khi mất, được nhân dân phong là Tam Tòa

Bài “Cư Trần Lạc Đạo Phú” của vua Trần Nhân Tông cũng là một chứng minh:

Đức Bụt từ bi, mong nhiều kiếp nguyền cho thân cận;

Ơn Nghiêu khoáng cả, lọt toàn thân phô việc đã tha.

Đối với tập tục người Việt, vua có đạo sau khi mất sẽ hoá bụt; tướng có đạo sau khi mất được hoá thánh; vương mẫu có đạo sau khi mất hoá thánh mẫu; Riêng vùng dưới chân núi Hồng Lĩnh, những người con gái mất khi còn trinh trắng, đều được phong tên thuỵ là hoa và tước hiệu công chúa (ví dụ như Ngọc Hoa công chúa, Quế Hoa công chúa, Quỳnh Hoa công chúa, vv…). Đã có vài vị trưởng họ hỏi tôi vì sao gia phả của họ ghi chép có những mấy công chúa liền? Thì hãy biết lý do là vậy.

Bụt, thánh, mẫu là các tước hiệu dùng để tôn phong cho người có đạo và có công với dân tộc sau khi mất. Là Đạo lý thánh hiền được duy trì lâu đời trong tập tục người Việt, không liên quan gì đến Phật giáo.

Không chỉ có câu chuyện Tiên Dung – Chử Đồng Tử thể hiện, vị Hùng Vương thứ III, đóng đô tại Hà Tĩnh. Tôi xin kể thêm một câu chuyện khác cũng nói về vua Hùng thứ III, đó là núi Thiên Cầm:

Các sách cổ về dư địa chí của Việt Nam đều đồng nhất chép về núi Thiên Cầm như sau: là nơi sơn thủy hữu tình, nên vua Hùng Vương thứ III thường hay lui tới du ngoạn. Trên núi có hang trời, gió lộng vào hang nghe du dương như tiếng đàn, nên vua Hùng bèn đặt là Thiên Cầm. Cũng có nguyên nhân thứ hai, tên núi được đặt Thiên Cầm là do ngọn núi này không chỉ là nơi khi xưa Dang Hùng bị giặc bắt, mà sau này cha con Hồ Quý Ly cũng bị giặc Minh bắt tại đúng chỗ đây.

Thiết nghĩ, với thời kỳ cách đây đến hơn 3000 năm, đường sá sông ngòi cách trở, việc đi lại không dễ ngày một ngày hai như bây giờ, thì chuyện đóng đô ở Phú Thọ mà lại thường xuyên du ngoạn thắng cảnh ở Hà Tĩnh là chuyện không thể xảy ra được? Vậy thì hàng loạt câu chuyện liên quan đến vua Hùng chỉ có thể nhận định là kinh đô ở rất gần Thiên Cầm  mà thôi!

Sự tích trầu cau liên quan đến vua Hùng thứ IV

Theo “Bác Việt từ đường tộc phả” của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp (Bản dịch từ chữ Hán của GS. Bùi Văn Nguyên) thì tục ăn trầu có từ thời Hùng Vương thứ IV và nguồn gốc xuất xứ từ ba làng Hoa Ổ, Hoa Nam và Phù Lưu, thuộc bộ Cửu Đức (vùng đất này tương ứng với các làng Nam Trung, Khánh Sơn, Nam Hoành của huyện Nam Đàn và Thanh Lương của huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, làng Phù Lưu thuộc huyện Can Lộc, Hà Tĩnh ngày nay). Đến nay ở đây vẫn còn đền Tam Khương (ba thần thơm) thờ ba vị thần trầu cau.

Chuyện kể rằng: Khi vua Hùng Vương thứ IV đi tuần thú dọc triền sông Lam, lúc trời đã xế chiều thì cắm trại dừng chân gần một gò đồi ở vùng Hoa Nam Hoa Ổ. Vua nhìn thấy trên đồi có một cái miếu tuy nhỏ, nhưng việc hương khói xem ra rất thường xuyên, bên miếu có một thân cây cao mảnh mai vươn thẳng lên trời, tán lá xoe tròn như chiếc lọng, dưới gốc có một phiến đá bạc và một loài cây dây leo có những chiếc lá xanh mướt, mùi hương thơm nồng. Vua bèn truyền cho vời dân địa phương đến hỏi xem thử đó là loài cây gì? Miếu này thờ ai?

Người dân đến tâu trình với vua Hùng câu chuyện như sau:

- Họ Cao nọ sinh đôi được hai con trai giống nhau như hai giọt nước, đặt tên là Cao Tân và Cao Lang. Lớn lên, hai anh em đều theo thầy học tên là Lưu Huyền ở làng Phù Lưu. Nhà thầy có cô con gái tên là Lưu Thị Xuân Phù đang độ tuổi xuân thì xinh đẹp nết na. Rồi cha mẹ Tân và Lang đột ngột qua đời. Thầy Lưu Huyền thương hai trò giỏi nên cho ở lại trong nhà. Rồi một hôm thầy quyết định gả Phù Lưu cho người anh là Cao Tân. Cao Lang thất vọng buồn bã bỏ đi. Qua bên kia sông Lam, thì ngồi trên bờ hướng mặt về nhà mà than khóc sầu não đến kiệt sức. Khi người em bỏ đi rồi, Cao Tân mới hay em trai mình cũng từ lâu đã thầm yêu trộm nhớ Phù Lưu. Ân hận khi người em đi mãi không thấy về, bèn xin phép cha, từ giã vợ đi tìm em. Tìm đến Hoa Nam Hoa Ổ, thì nghe dân làng đồn đại mà biết nơi em mình đã chết, Cao Tân lết đến bên nấm mồ than khóc cho đến lịm dần. Phù Lưu chờ mãi không thấy chồng và em quay về, bèn xin cha  khăn gói lên đường đi tìm chồng. Qua sông, nghe nhân dân đồn đại mà tìm đến, biết chồng và em đã qua đời, nàng đến bên nấm mộ hai người u sầu khóc than ngày đêm không rời. Cho đến một ngày, nơi nấm mộ chung của ba người mọc lên một cây cao, thân cây thẳng đứng, tán lá xoè rộng như cái lọng rước dâu, với chùm quả xanh mướt. Dưới gốc cây cao có một hòn đá bạc và một cây dây leo có những chiếc là hình trái tim. Câu chuyện tiết nghĩa của Tân, Lang và Phù Lưu được đồn đại lan rộng khắp từ thượng nguồn tới hạ nguồn sông Lam. Người nhà họ Lưu thương tiếc con mình, tìm đến Hoa Nam Hoa Ổ làm một cái để thờ phụng. Người địa phương vì cảm phục tấm lòng thủy chung của ba người cho nên mỗi ngày đều đông người lui tới thăm viếng khói hương, gọi là “miếu ba người thơm” (tên chữ là “Tam Khương miếu”).

Sau khi nghe kể về chuyện tình Tân, Lang và Phù Lưu đầy xúc động, vua bèn truyền lệnh bổ quả cây cao để nếm thử mùi vị, rồi nhai với lá cây dây leo, vị cay thơm của hai thứ qua và lá ấy quyện vào tạo vị ấm nóng lan tỏa trong cơ thể. Tình cờ khi nhổ nước bã vương lên hòn đá bạc, vua lại thấy tiết ra màu đỏ tươi như máu. Vua Hùng Vương cho đó là điềm lành, bèn ban bố lệnh nhân giống trồng khắp nơi đồng thời truyền tục ăn trầu cau lấy may khắp bàn dân thiên hạ. Cây cao được đặt tên là Cao Lang, nhưng nhân dân trong vùng thường gọi tắt là “cao”, tiếng địa phương phát âm nghe như “cau”, lâu dần cây cao lang có tên là cây cau (ngày nay từ điển Hán Việt vẫn gọi cây cau là cây cao lang); Còn cây dây leo được đặt tên là cây Phù Lưu, tiếng địa phương phát âm nghe như “trù leo”, lâu dần gọi tắt thành “trù” (trầu). Quê hương của Lưu Phù cũng được gọi là làng Phù Lưu từ đó (nay thuộc huyện Can Lộc, Hà Tĩnh). 

Tục ăn trầu ở Nghệ An dần dần đã phát triển lên thành phong tục tín ngưỡng trong văn hóa người Việt lan truyền khắp cả nước, rồi lan sang cả một số vùng miền khác ở khu vực Đông Nam Á – Thái Bình Dương. Theo tôi được biết, thì tục đàn ông ăn trầu có ở đảo Đài Loan là do con trai của hoàng tử Lý Long Tường, hậu duệ nhà hậu Lý ở Việt Nam đưa sang. Trên mâm cỗ thờ cúng Tổ tiên của người Việt bao giờ cũng có trầu cau. Tế gia tiên thì trầu phải têm sẵn sắp ra đĩa, còn tế trời đất thánh thần thì ba lá trầu để nguyên, có phết một chút vôi lên trên và ba quả cau cũng để nguyên không bổ.

Ngày xưa, ở nước ta không chỉ có các cụ bà ăn trầu như bây giờ, mà tất cả nam nữ đều ăn trầu. Người nghiện trầu nặng thường nhai trầu kèm thêm thuốc lào. Binh lính trong quân đội cũng ăn trầu như dân thường.

Túi gấm lẫn với túi hồng

Têm trầu cánh kiếm cho chồng đi quân

(Têm trầu mũi mác cho chồng đi quân)

Đến đời Trần, Cao Tân được sắc phong thần là Dực Vận Tân hóa Đại vương; Cao Lang được sắc phong là Hậu Trạch phong công Đại vương; Lưu Thị Xuân Phù được sắc phong là Tư Thuận chương tín Công chúa. Và được nhà vua ban kinh phí tu sửa đền thờ phụng.

Thời kỳ Bình định vương Lê Lợi lập kinh đô kháng chiến ở vùng La Sơn, lúc bấy giờ các hoàng hậu và cung phi, công chúa được cắt cử trông coi việc hậu cần như trồng dâu nuôi tằm, trồng đay, quay tơ dệt vải, trồng lúa, trồng rau màu cung cấp quân lương. Thời kỳ này, những người lính trong quân đội vẫn còn giữ thói quen ăn trầu theo phong tục, nên Lê Lợi đã có sắc chỉ quy hoạch trồng những trại trầu xanh bạt ngàn hai bên bờ sông La, sông Ngàn phố. Bài hát “Dặm mời trầu” còn lưu lại câu hát:

Miếng cau dầm, trù trại

Vôi chúa quyện hương nồng

Tình xứ Xứ Nghệ thủy chung…

          Ngày nay, con em người Nghệ Tĩnh do không còn giữ tục ăn trầu, nên khi nghe hát đã không hiểu vì sao gọi là “cau dầm, trù trại”, thế nào là “vôi chúa”? Nhân tiện đây, tôi cũng xin giải thích theo giảng nghĩa của bà ngoại tôi khi xưa như sau:

Cau dầm: là loại cau bổ ra phơi héo, rồi lại tẩm vào nước thuốc lào. Cứ ngày đổ ra phơi, đến đêm lại ngâm vào nước thuốc lào phơi sương, chín lần ngâm phơi như vậy thì cho ra một sản phẩm cau màu nâu, không khô hẳn mà cầm vào hơi ươn ướt từa tựa như vị thuốc bắc đã qua sao chế, có mùi thuốc lào. Loại cau dầm mục đích là để tiện dụng cho binh lính ở trong trại quân dịch;

Trù trại: là loại trầu trồng trong trại trầu quy hoạch của vua Lê Lợi. Vì được chuyên canh đất phong thổ, lại có sự chọn giống tốt và chăm sóc chu đáo, nên trầu trong trại trầu lá dày và dòn thơm hơn bình thường;

Vôi chúa: Cái bình vôi rất được người An Tĩnh rất coi trọng, gọi là ông bình vôi, hoặc là bình chúa, cho nên vôi khi đã tra vào bình cũng gọi là vôi chúa. Theo mê tín của nhân dân, vôi trong miệng bình chúa càng dày bao nhiêu thì gia đạo càng sung túc bấy nhiêu. Do đó người phụ nữ trong nhà có nhiệm vụ phải chăm sóc bình chúa, thêm nước, thêm vôi thường xuyên cho đủ đầy. Việc lấy vôi từ trong bình ra cũng phải có nghệ thuật. dùng cái que quệt vôi quấy đều vôi trong bình cho nhuyễn rồi mới rút  que ra, quệt khẽ vào miệng bình để gạt bớt vôi thừa rồi mới quệt lên lá trầu. Từ đó mà lớp vôi khô ở ngoài miệng bình cứ dày dần lên theo ngày tháng. Có những nhà có cái bình chúa mà lớp vôi đọng ngoài bình kéo dài như cái vòi ấm. Bình vôi rất kỵ bị đánh vỡ. Khi gia đình muốn thay bình mới, thì bình cũ được đem ra gửi ở đất nhà chùa, chứ không được vứt lung tung, hay đập bỏ. Tại làng Chợ Cồ (nay thuộc phường Thạch Quý, TP Hà Tĩnh) có một ngôi chùa gọi là chùa Bình Vôi. Gọi là chùa, nhưng thực chất ở giữa chỉ có một cái nhà thắp hương nho nhỏ, chẳng có rào dậu che chắn gì. Điểm đáng chú ý là xung quanh mái chùa nhỏ ấy là hàng trăm chiếc bình vôi đủ các cỡ xếp chồng lên nhau. Đó là kết quả theo năm tháng, người trong làng thế hệ này đến thế hệ khác, mang ông bình vôi cũ của nhà mình gửi vào mà thành di tích.

Đến đời vua Lê Thánh Tông, một lần nữa ba vị thần Trầu - Cau - Vôi đều được công nhận là phúc thần của địa phương Xứ Nghệ. Đồng thời nhận thấy việc trồng trầu cau rất có lợi cho phát triển kinh tế địa phương. Vua đã ban sắc chỉ các gia đình đều phải trồng cau và trầu trong vườn nhà.

Chỉ đến đời Nguyễn, do có sự can thiệp của người Pháp vào triều chính, ảnh hưởng văn hóa phương Tây nên bãi bỏ tục ăn trầu trong binh lính, cũng như “cấm quần không đáy” ở đàn bà. Dù vậy, trên các mâm lễ bất kể là lễ chùa, ma chay, cưới hỏi, hay hội làng, vv… cho đến ngày nay vẫn không thiếu vắng trầu cau.

Trầu cau của miền Hương Sơn và Hương Khê (Hà Tĩnh) được cho ngon nhất vùng, khi đưa xuống miền xuôi rất đắt hàng, gọi là cau hương trầu ngàn. Ở làng Chi Nại (nay là xã Gia Phổ, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh), có nghề bửa cau (bổ cau). Do thời tiết ở Nghệ Tĩnh nói riêng, bắc miền Trung nói chung thì cau ra quả chỉ có một mùa, nên đến mùa cau, các hộ trong làng thường mua thầu cau từ các vườn trong vùng đem về bổ ra phơi khô, rồi đem cất trữ, đợi khi hết mùa cau, thì đem bán chợ Un, chợ Gia, chợ Đồn. Từ các chợ này, có phường buôn trầu dưới xuôi lên mua lại, đưa về các chợ dưới xuôi để bán. Trong làng, nhà nào cũng phải có đủ đồ đựng, thường là loại chum kiệu, cao ngang người đứng, mỗi chum đựng được 10 cóm, giá mỗi chiếc chum phải mua tới cả nén bạc. Bổ cau phải có kỹ thuật nhà nghề. Mỗi nhà đều phải tìm thợ rèn giỏi, đặt rèn một bộ dao để hành nghề gồm nhiều loại khác nhau, nào dao cắt ngàu, dao róc vỏ, dao bổ, bàn xiết. Nếu dao cắt ngàu phải thật bén, xoẹt một nhát là phải phẳng lì; thì dao róc vỏ lại  không nên sắc quá dễ đứt vỏ; dao bổ lại phải chắc, nặng làm sao bổ xuống là đường đứt phải ngọt, không xù xì, làm sao mà hạt không lìa khỏi vỏ… Phơi cau cũng phải cẩn trọng, phải lật ngửa miếng cau cho hạt lên trên và không được đảo mạnh tay để sao cho đến khi khô mà hạt cau không bị rời khỏi vỏ mới được. Phơi khô rồi còn phải đem om trên bếp than sao cho đủ độ dòn mới đổ vào chum. Dụng cụ đong lường khi buôn bán thì dùng cái cỏm (còn gọi là mủng), 10 “cỏm” là một đầu cau khô. Cau khô Chi Nại thường được phường buôn đem bán ra bán tận ngoài Thanh Hóa, Hà Nội…

Mười hai tuổi, tôi đã thành thạo việc lựa cau, chọn trầu. Bởi ngày ấy mẹ tôi mất sớm, nên tôi phải đi chợ mua trầu cau cho bà. Phiên chợ Tỉnh mỗi tháng họp ba bận vào ngày một, mười một, hai một, khi ấy mới có cau hương trầu ngàn miền ngược đưa xuống.

Chọn cau thì phải chọn loại không già quá, cũng không non quá, tiếng Hà Tĩnh gọi là cau dì. Nhìn chũm cau để biết. Nếu chũm cau xanh mướt, lại trùm quá một phần tư quả cau thì cau ấy còn non, hạt còn chưa đặc. Còn chũm cau mà ngã ố, lại tụt quá để lộ một vành phớt trắng là cau già, thứ ấy vừa cứng vừa chát gắt. Cau dì thì chát ngọt, mềm và thơm. Nếu chọn được cau dì rồi, mà khi bổ ra, hạt cau có một đốm đỏ bầm ở mé hạt thì gọi là cau tiên, người có duyên may mới mua được cau tiên, vì nhìn bên ngoài thì dù có kinh nghiệm mấy cũng không đoán được bên trong quả cau có đốm tiên hay không. Với cả lại, trong một buồng cau, chỉ có một số trái là có đốm đỏ ấy. Đặc biệt, nhà trai đi nói sang nhà gái mà mua nhằm buồng có những quả cau tiên, thì nhà gái mừng vui phải biết, vì cho đó là điềm may hạnh phúc cho con cái sau này, nên người ta thường nhờ người được tiếng thơm tay trong làng đi chợ chọn dùm, may ra gặp được cau tiên.

Trầu ngàn thường có màu xanh vàng của loại lá ở vùng đồi rám nắng, chứ không xanh mướt như trầu vườn. Trầu ngàn dày mình, lá nhỏ và dóc nhọn, lấy tay bẻ  gập thời nghe tiếng lá gãy dòn. Loại trầu này ăn thì thơm ngon, nhưng rất khó têm, vì lá dòn nên khi cuốn thường bị vỡ, thành ra miếng trầu méo mó. Khác với cau phải chọn cau dì, thì trầu lại chọn lá già, lá trầu vàng tự nhiên trên cây được cho là ngon nhất.

Cau hương trầu ngàn mua được rồi còn phải mua thêm chay, thuốc nữa mới đủ. Vỏ chay ngon thì có màu đỏ tươi, bên ngoài có nhiều lớp vảy mỏng như von, màu hồng sáng. Vỏ chay héo thì màu xám dần và những lớp vảy bong rơi gần hết; Thuốc thì sợi phải có màu nâu vàng mới là thuốc mới, thuốc cũ rồi sẽ chuyển màu nâu đen. Người ăn trầu thuốc là người đã nghiện trầu rất nặng, hàng ngày không thể thiếu.

“Miếng trầu là đầu câu chuyện”. Thói làng ở Nghệ Tĩnh, cứ nhà nào nấu nước mới (chè xanh) thì đều có têm sẵn đĩa trầu cau, tươm tất thì ới hàng xóm bốn xung quanh nhà đến vừa uống nước, ăn trầu, vừa hát ví đối đáp với nhau, hay vịnh Kiều, lẩy Kiều cùng vui văn nghệ. Ấy là nói chuyện hàng xóm “tối lửa tắt đèn” với nhau. Còn con trai con gái ra đường trao nhau miếng trầu không dễ. Khi người con gái chịu tháo bao tượng để đưa cho người con trai miếng trầu, là biểu hiện đã bằng lòng gửi gắm yêu thương rồi.

Người xưa thường nhìn vào cử chỉ têm trầu, nhai trầu để phán đoán nết na phong cách của người đàn bà. Con gái lớn lên khoảng độ mười hai, mười ba tuổi đổ đi là đã học cách têm trầu. Mãi cho tới thời chúng tôi dù không còn ăn trầu vẫn có học cách têm trầu. Têm trầu tựa hồ như gói nem rán, têm làm sao mà được mười miếng ngang dọc bằng như một mới được cho là têm khéo. Vậy mà têm trầu khéo thôi chưa đủ, còn phải biết gia bao nhiêu vôi thì vừa, miếng trầu với miếng cau thế nào thì tương xứng khi ăn.. Miếng trầu têm vụng bị đánh giá là người không khéo tay gói ghém đã đành. Miếng trầu, miếng cau lớn nhỏ không cân xứng để ăn thì bị cho là người không biết tính toán. Miếng trầu nặng tay vôi sẽ bị quy kết là người thiển cận không biết lo xa. Một lá trầu thường được chẻ làm ba để têm thành ba miếng. Chẻ lá trầu phải làm sao cho khéo để phần lá nào cũng có dính một chút cuống để gài. Do đó, khi đi mua trầu, phải để ý chọn những lá trầu có cuống dài và còn tươi cứng. Sau khi chẻ lá trầu làm ba, thì quệt lên một chút vôi vừa phải, gập mép hai bên vào, vuốt nhẹ cho phẳng phiu, rồi cuốn từ phần ngọn xuống phần cuống. Dao têm trầu thường một đầu là lưỡi dao, đầu còn lại nhọn tròn như cái đinh dùng để dùi lỗ. Sau khi cuộn tròn miếng trầu lại thì dùng mũi nhọn dùi một lỗ ở giữa miếng trầu, găm phần cuống trầu qua lỗ để gài lại không cho miếng trầu bung ra. Dùi lỗ cũng phải căn chỉnh, làm sao khi cuống trầu lọt qua vừa khít, không nhìn thấy mối hở, để gió không lọt vào bên làm khô vôi bên trong. Têm trầu đi đường xa thì cái cuống gài phải dài hơn một chút để dù có bị xóc, trầu cũng không bị bung. Ở Nghệ Tĩnh không có kiểu trầu “têm cánh phượng”, bởi quan niệm về thẩm mỹ, miếng trầu đưa vô miệng cũng phải đưa làm sao cho đẹp mới được, do đó têm cũng phải gọn nhỏ, vừa miệng. Gọi là “têm mũi mác”, hay “mũi kiếm” là lối ví von cái cuống trầu nhọn thò ra ở giữa miếng trầu tựa hồ như mũi kiếm thò ra ngoài bao kiếm.

Lễ coi mắt ở Nghệ Tĩnh còn gọi là lễ trầu cau, hay lễ bỏ trầu. Tại lễ này, cô gái ra mắt bố mẹ chồng tương lai bằng hành động têm trầu, rót nước. Còn nhà trai sẽ xét nét cô gái qua cử chỉ têm trầu, mời trầu, om chè, rót nước, để đánh giá nết na cô gái. Các làng xã hầu như không có lệ thách cưới vàng bạc của cải, mà lệ làng bao đời, nhà trai phải đem lễ trầu đến nhà gái để đặt vần đề cho phép con cái hai nhà được tự do yêu đương. Trầu lễ đem phải làm sao cho đủ để têm được số lượng bằng với số đầu người trong làng, phải đủ mỗi người một miếng. Nhiệm vụ của con gái trong làng là đến giúp nhà gái têm xong số trầu cau do nhà trai mang đến. Sau đó, nhà gái bỏ trầu vào một cái túi điều đỏ, cử người xách đi cùng làng, từ trẻ tới già trong làng, đều được người đi đưa trầu trao cho một miếng, gọi là thông báo cho làng biết con gái nhà họ đã có người dạm hỏi.

Trầu cau không chỉ dùng để ăn chơi, mà còn có giá trị chữa bệnh. Lá trầu vị cay tính ấm, có tính sát trùng, trị được lam sơn chướng khí, đau mắt, làm tan mụn nhọt mưng mủ, trị ho, trị bệnh nấc cho trẻ nhỏ; Cau cũng có tính ấm, vị chát của hạt cau giúp làm cho răng chắc nướu, ít lung lay, trị tiêu chảy và giun sán. Vôi có giá trị sát trùng, làm tan bọc mụn, trị độc tiêu viêm vết thương bên ngoài do côn trùng cắn. Quả cam. Quả bưởi hái từ trên cây xuống, nhân dân thường bôi vôi vào đầu cuống thì có thể giữ được cả tháng không hỏng. Người say rượu, bôi vôi lên gan bàn chân thì cản được trúng gió và mau giải rượu. Với cuộc sống nghèo khó thiếu thốn xưa kia, đó là những bài thuốc cổ truyền có giá trị đáng kể.

Trầu cau, theo tháng năm của lịch sử và sự linh nghiệm của Tiên Tổ ông cha, theo nghĩa tình của làng xóm, cứ mỗi ngày mỗi thấm đẫm thêm vị cay nồng vào câu hò điệu ví, vào làn điệu hát sắc bùa, hát ả đào trên quê hương An Tĩnh. Để đến bây giờ, trong kho tàng dân ca xứ Nghệ, những câu hát liên quan đến thủ tục mời trầu nhiều vô kể xiết. Chị bạn cùng làm với tôi, quê ở Đô Lương kể rằng ngày còn trẻ, chưa thoát ly gia đình, hễ đêm trăng sáng thì nam nữ thanh niên các làng kéo ra đứng hai bên bờ sông Lam, leo lên một ụ đất cao rồi bắc tay hò với sang bên kia bờ:

Có trù cho miếng bạn mồ

Gọi rằng tình nghĩa khi mô đến giừ.

Bên kia bờ sông cũng có một nhóm hát đợi sẵn, hò lại:

Tiếng ai vòi vọi bên giang

Có phải rằng bạn mời sang ăn trù.

Thế rồi họ bơi thuyền qua sông để kháp (gặp) nhau, cuộc hát xảy ra đến khuya. Trăng thanh gió lộng. Nam thanh nữ tú đem trầu ra mời nhau:

Mời chàng ăn miếng trầu này

Dù đậm, dù lạt, dù cay, dù nồng

Dù chẳng nên vợ nên chồng

Ăn dăm ba miếng kẻo lòng nhớ thương.

***

Gặp đây trao một miếng trầu.

Không ăn cầm lấy cho nhau bằng lòng.

***

Hai ta kháp một con đò

Đợi khi vãn khách trao cho miếng trầu.

Cuộc hát đối đáp được đi vào cao trào đấu trí, thử tài nhau, để rồi cuối cùng đằm sâu vào tình nghĩa, kết nguyền duyên nợ trầu cau:

Đối ra đáp được nên lời

Chiếu hoa em trải, mời bạn ngồi lại đây

Cùng nhau ăn miếng trầu cay

Trầu tình trầu nghĩa một ngày nên duyên.

***

Trầu này thực của em têm

Trầu phú, trầu quý, trầu nên vợ chồng

Trầu này bọc khăn tơ hồng

Trầu này kết nghĩa loan phòng từ đây.

Vết tích vua Hùng Vương XVIII

Sách “Bách thần lục” tả trận thủy chiến giữa hai đội quân Hùng – Thục ở Châu Hoan (Nghệ Tĩnh): “… tướng vua Hùng giao chiến với giặc ở Hội Thống, giặc thua to, tướng giặc là Dương Nham bị chém...”. Thần phả làng An Thuyên (Thường Tín, Hà Đông) lại chép: “Tướng vua Hùng là Nguyễn Tuấn, Trần Khánh chặn quân Thục ở cửa Hội Thống, bắt được Hùng Nã, Đà Gia…”.

Tôi không biết các sách này chính thống được đến đâu? Chỉ biết rằng theo sử liệu Nghệ An thì thời Hùng Vương cửa sông Lam tên là Đan Nhai (hoặc Đan Lai), cửa sông này ngay dưới chân núi Ngũ Mã. Sau này biển lui dần mới có cửa Hội Thống như ngày nay. Khúc sông Lam nơi cửa biển Đan Nhai nhiều lần là ranh giới các trận chiến ác liệt mang tính lịch sử của dân tộc Việt Nam. Trận chiến Hùng - Thục; Trận chiến Việt Thường – Lâm Ấp; Trận chiến Đại Việt – Nguyên Mông; Khởi nghĩa Lam Sơn; Cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Căn cứ vào di chỉ khai quật được trên đất Nghệ Tĩnh cho thấy, thời vua Hùng, kỹ thuật chế tác thuyền bè và các dụng cụ bằng đồng phát triển rực rỡ, đặc biệt loại vũ khí lẫy nỏ bắn ra hàng loạt mũi tên phát triển rực rỡ. Vua Hùng Vương XVIII do cậy mình có vũ khi tối tân, mà sinh ra tự mãn chủ quan khinh địch, chỉ lo ăn chơi hưởng thụ, nên mới dẫn đến hậu quả bị Thục Phán là giặc đến từ phương Bắc cướp ngôi. Sự mất ngai của vua Hùng Vường XVIII, dẫn đến lần thứ hai sáp nhập Việt Thường – Giao Chỉ thành một quốc gia (Âu Việt - 257 TCN). Rồi 50 năm sau đó, Triệu Đà mở rộng thành nước Nam Việt, đất đai rộng lớn bao gồm hết tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây Trung Quốc ngày nay (207 TCN)…

==o0o==

Chương III: Vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử dân tộc

=====

(1) Nghệ An trong các chương sách của tôi bao gồm cả Nghệ An – Hà Tĩnh ngày nay, tôi lấy tên theo vùng địa danh trong lịch sử để không phải mất công lý giải các mâu thuẫn.

***

Tài liệu tham khảo:

- An Tĩnh cổ lục - Hippolyte Breton 

- Việt Nam Sử lược - Trần Trọng Kim

- Khâm định Việt sử thông giám cương mục triều Nguyễn

- La Sơn Yên Hồ - Hoàng Xuân Hãn

- Đại Nam nhất thống chí - Lê Quý Đôn

-  Đại Việt sử ký toàn thư

- Các ghi chép về Văn hóa Hồng Lam của  nhà văn hóa Thái Kim Đỉnh và Ninh Viết Giao.

- Làng cổ Hà Tĩnh

-  Một số chi tiết từ các bài tham luận trên baohatinh.vn và vanhoanghean.com.vn

-  Các dư địa chí của Nguyễn Trãi, Phan Đình Phùng, Bùi Dương Lịch và các tư liệu khác trong kho tàng văn hóa lịch sử Nghệ An  - Hà Tĩnh

- Tư Mã Thiên sử ký và một số sử liệu cổ Trung Hoa

 

===================================================================


Để gửi ý kiến nhấp vào đây