Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
Các nàng hằng nga tái thế ở La Giang làm thống lĩnh công tác hậu cần trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh của vua Lê Lợi
 
(11h: 15-01-2015)
Các nàng hằng nga tái thế ở La Giang làm thống lĩnh công tác hậu cần trong  cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh của vua Lê Lợi
Các giả thiết khảo luận của Phan Lan Hoa về "DẤU TÍCH NHÀ NƯỚC VIỆT THƯỜNG THỊ VÀ VAI TRÒ NGHỆ AN TRONG DÒNG LỊCH SỬ VIỆT NAM"
Nguồn ảnh: baohatinh.vn

 DẤU TÍCH NHÀ NƯỚC VIỆT THƯỜNG THỊ 

VÀ VAI TRÒ NGHỆ AN TRONG DÒNG LỊCH SỬ VIỆT NAM

***

Phụ lục 3: Các nàng hằng nga tái thế ở La Giang làm thống lĩnh công tác hậu cần trong  cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh của vua Lê Lợi

***

Phong thủy miền đất “cửu long tranh châu”

Lấy dòng lưu thủy La – Lam để bày bát đồ. Các dãy núi Màn Trướng, Thiên Nhận, Đại Huệ, Lam Thành, núi Quyết thuộc Long; Hồng Lĩnh và Trà Sơn thuộc Hổ; còn núi Quỳnh Viên Nam Giới lại khởi Long của một vùng đất cổ khác, từ đây  đổ vào đèo Ngang vốn dĩ xưa kia là đất thủy tổ của người Chăm Pa. Việc tìm thấy hang hốc tổ tiên người Chăm Pa ở thời kỳ sơ sử trên đỉnh đèo Ngang đã chứng minh như vậy. Vậy thì, Hà Tĩnh là đất thủy tổ của hai tộc người lớn nhất Việt Nam là Việt và Chăm Pa. Kết quả khảo cổ ở Nghệ Tĩnh cho thấy người chăm Pa và người Việt Thường đều thuộc chủng người Australoid, điều đó có nghĩa là hai dân tộc cùng chung một dòng máu ở thời Tiền sử! Thầy địa lý Tả Ao cho rằng đất Hồng Lam là thế đất “cửu long tranh châu”.

Trong 5 long, thì Lam Thành là một ngọn núi nổi lên giữa đồng bằng, tuy mang tiếng soi bóng bên bờ sông Lam, nhưng hình dáng lại thô kệch xấu xí, núi trọc cả vào mùa mưa, là hung long. Sự hung hãn của nó tương xứng với những gì phi nghĩa. Lịch sử cho thấy, nơi này đầy rẫy vết tích chiếm giữ của người Tàu và người Chăm Pa. Có lẽ cần hóa giải con hung long này bằng cách gọt đẽo ngọn núi cho thon thả lại và trồng cây xanh có hoa ngũ sắc trên núi cho xanh tươi để tạo sinh khí và giảm sắc thái thô thiển hung giữ.

Thiên Nhận và Đại Huệ có thế núi uy nghiêm, sau lưng là Màn Trướng quanh năm mây phủ, những con đường thượng đạo ngoằn nghoèo giữa lưng chưng núi, tựa hồ như đường lên trời. Kẹp giữa “song long” này là Nam Đàn, một vùng đất phát vương, nơi Mai Thúc Loan lập kinh đô Vạn An, đồng thời là nơi sinh ra chí sĩ Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh.

Tại hướng càn của Hồng Lam, ngay ngã ba sông, nơi hợp lưu của sông Ngàn Sâu và sông Ngàn sơn (Ngàn Phố) để khởi nguồn sông La (Tam Soa), hai bên sông là hai dãy núi phủ phục xuống ngã ba sông này. Như tôi đã nói trên, theo phép phong thủy, nếu Thiên Nhận bên trái điệp trùng như đàn ngựa lô nhô được coi là thanh long, thì Trà Sơn bên phải với những đỉnh núi thấp tròn, hoa cỏ tốt tươi được coi là bạch hổ. Linh khí của long – hổ theo Ngàn Sơn và Ngàn Sâu tụ về La Giang. Chữ “La”() ở đây có lẽ ý nghĩa là tụ hội khí nguồn. La trí ( 羅致) nghĩa là chiêu tập được nhiều người tài đến với mình. Án ngữ hướng đông, lại nằm bên phải sông Lam, nên Hồng Lĩnh cũng thuộc bạch hổ. Đẹp đẽ và uy nghiêm nhất dãy Hồng Lĩnh là đỉnh Hương Tích. Hương Tích là dấu tích cố hương. Giữa 5 dãy núi Hồng Lĩnh, Thiên Nhận(1), Trà Sơn, Lam Thành, núi Quyết bao quanh ấy là giải đất phát tích dòng tộc Việt Thường. Đất này mấy ngàn đời, triều đại nào cũng có người chức tước đạt tới  hàng “tứ trụ triều đình” sinh ra ở đây, hoặc tìm về đây dấy nghiệp. Không chỉ là dấu tích Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, 5 vị vua Hùng của dân tộc Việt thủa sơ khai; mà còn tiếp nối đời sau là đất sinh thành Mai Thúc Loan, Ngô Quyền, Bố cái đại vương Phùng Hưng; Chỉ tính riêng đời Trần đã có tới 4 vị vua lập ngôi trên đất La Giang và Lê Lợi cũng được lập ngôi ở chính miền đất này; là nơi chơn rau cắt rốn của Phan Đình Phùng, của những con người có công khai sinh ra Đảng Cộng Sản như TBT thứ nhất Trần Phú, TBT thứ hai Lê Hồng Phong, TBT thứ ba Hà Huy Tập; khai sinh ra Đoàn TNCSHCM như Lý Tự Trọng…

Những nàng Hằng nga và mối lương duyên của họ với các vị anh hùng dân tộc:

 “Muốn ăn cơm nếp độ chà

Muốn coi gái đẹp thì ra Yên Hồ”

Hồng Lam không chỉ là vùng đất phát vương, mà còn là vùng đất tiếng tăm lưu truyền bởi những nàng “hằng nga tái thế”. Nơi nổi tiếng có nhiều cung phi tiến triều nhất trong lịch sử Việt Nam. Có làng được đặt tên là làng Thường Nga và có vế đối truyền đời “Hằng Nga cửu thế cửu cung phi”. Những người con gái của đất Hồng Lam trong lịch sử, không chỉ truyền tụng tiếng tăm đẹp người mà còn lưu danh đẹp nết. Tích cổ kể rằng công chúa Diệu Thiện đã hy sinh tròng mắt và bàn tay của mình làm thuốc cứu sống vua cha, để rồi sau đó nàng  chết đi đã hoá thành Phật bà trăm tay nghìn mắt trên núi Hương Tích (thuộc dãy Hồng Lĩnh), khiến ngọn núi này vốn dĩ linh thiêng lại chồng linh thiêng mãi đến bây giờ. Nhưng đó cũng chỉ mới là truyền thuyết. Ba vị Hoàng hậu Bạch Ngọc, Trịnh Thục, Phạm Thị Ngọc Trần; hay hai chị em gái - hai nữ anh hùng dân tộc: Nguyễn Thị Minh Khai và Nguyễn Thị Quang Thái, vv…  mới là những “Hằng nga tái thế” hoá thân thành nhân vật lịch sử thực thụ.

Hiện ở tại dãy núi Trà Sơn có hai ngôi đền, chùa được xếp hạng di tích văn hoá lịch sử cấp quốc gia, đó là chùa Am thờ ba mẹ con bà cháu hoàng hậu Bạch Ngọc, hoàng hậu Trịnh Thục và công chúa Trang Từ; và đền Ngũ Long (còn gọi là đền Tứ Phi, hay đền Chiêu Phúc), đền này thờ hai vị hoàng hậu Bạch Ngọc và Trịnh Thục, Về sau thờ thêm hai người phi khác của triều Lê là hai dì cháu Trần Thị ngọc Dương và Phùng Thị Thục Giang đều là cung phi của vua Lê Thánh Tôn. Ngoài ra, tại làng Thường Nga có một ngôi mộ khác gọi là “mả Ả” của một người phi tên là Thị Ngoan chưa rõ phi của vua nào? Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, có người con gái An Tĩnh sắc nước hương trời tên là Thị Thừa được đem vào Huế để làm thiếp Nguyễn Phúc Tần (vị chúa Nguyễn thứ 4 trong triều đại nhà Nguyễn). Nhưng oan trái thay! Nguyễn Phúc Tần trông thấy nàng ngỡ rằng Tây Thi tái thế, đâm hoảng hốt liên tưởng tới chuyện Phù Sai ở nước Ngô, bèn ban thuốc độc ép phải chết. Như vậy “cửu cung phi” theo vế đối cũng đã rõ danh tính 7 vị, còn 2 người nữa chưa biết là ai?

Đó là nói về mỹ nhân ở ở làng Thường Nga, còn như nói rộng sang đến bên Nghi Xuân:

- Dưới chân núi Na có mộ táng bà Lý nguyên phi, vợ vua Lý Thánh Tông, Ngọn núi bên cạnh, tương truyền là hành cung của vua Lý Thánh Tông nên đặt là núi Ngọc Lầu; Năm 1306, đời vua Trần Anh Tông, công chúa Huyền Trân được gả cho Chế Mân là vua nước Chiêm Thành, lễ vật là châu Ô, châu Rý. Nơi Chế Mân đặt chân lên quê vợ cũng chính là chỗ này nên về sau được đặt tên là làng Chế (nay là xã Xuân Lam);

- Đến đời Lê Lợi, ngoài công chúa Huy Chân con vua Trần Dụ Tông được gả, thì Lê lợi còn có hai người vợ khác đều là con gái đất Hồng Lam. Trong đó có người phi tên Phạm Thị Ngọc Trần ở làng Chế Phẩm. Chuyện kể rằng khi qua tổng Tam Đăng, Lê Lợi nằm mơ thấy thủy thần đòi một trong ba người nhan sắc của vua, bà Ngọc Trần nghe vậy đã tự nguyện hiến thân, bà tắm gội, thay phượng bào đẹp đẽ rồi gieo mình xuống sông, một trận cuồng phong nổi lên cuốn bà chìm sâu xuống nước. Lê Lợi lo sợ xác trôi không tìm thấy bèn cho đóng cửa rào lại, cho lính canh chờ xác nổi, đoạn sông này về sau đặt là Rào Canh, đó là ngày 24.3.1425. Thầy địa lý họ Trịnh chọn huyệt chôn cất bà nói đất này “sát sư, tiền sát hậu phát”, Táng xong, ba ngày sau thầy địa lý mất, năm 1429, ổn định xong đất nước, Lê Lợi tính cải táng mộ bà Ngọc Trần đưa về kinh, nhưng tối đó cất xong cho vào tiểu, sáng hôm sau thấy mối đùn xông kín thành một ngôi mộ mới, vua bèn hạ chỉ để lại, cấp 40 mẫu ruộng quanh đấy để làng làm giỗ hàng năm, đất này được đặt là Lộc Điền;

- Sách “Làng cổ Hà Tĩnh”, bài “Ba làng cổ Xuân Yên” của Võ Giáp  chép: “Gò Nga Mi là gò đất cong cong nổi lên phía Tây mép đầm Dinh như lông mày nằm trong đầm sen lộng lẫy. Có thầy địa lý phán: Nga Mi hiện đoài, thế gian xuất tần chi nữ…” Sau có hai bà họ Lê là Lê Thị Thanh và Lê Thị Vinh (Chiêu Nghi) đều là vợ vua Lê Dụ Tông. Từ ngày làng có mỹ nữ tiến phi, hàng loạt tên núi, tên gò, tên đầm được đặt gò Hoàng Phi, rừng Hoàng Phi, đầm Công Chúa. Bà Chiêu Nghi là người được vua Lê dụ Tông rất sủng ái, đến nỗi hoàng hậu nổi máu ghen cho người về đào long mạch, ém vượng khí mộ tổ của bà, khiến bà ốm nặng. Sau nhờ một vị hoạn quan trung thành phát hiện, vua ra chiếu chỉ đắp đập ngăn lại. Hoàng hậu bị đem về vùng này xử trảm, nên đập này được đặt tên là đập Trảm. Sau chính bà Chiêu Nghi đổi tên thành đập Trường Xuân với ý nguyện về một cuộc sống vĩnh hằng.

Cuộc rút lui khỏi kinh thành Thăng Long của vị Hoàng hậu Nhà Trần và cuộc chiến 10 năm của Bình Định Vương  Nhà Lê.

Hoàng hậu Bạch Ngọc, tên thật là Trần Thị Ngọc Hào, là con gái của Trần Công Nhu, một vị tướng lĩnh đời nhà Trần, quê ở làng Tri Bản, Thổ Hoàng  (Hương Khê- Hà Tĩnh). Tương truyền, bà là người thông minh, đoan chính, giúp Duệ Tôn được nhiều việc, nên được phong hoàng hậu. Xét về công danh, bà là một vị hoàng hậu mẫu mực, có chí lớn, có tầm nhìn sâu rộng . (Duệ Tôn còn một người phi khác tên là Nguyễn Thị Bích Châu. Bà quê ở Hải Hậu, Nam Định, nhưng hy sinh vì cuộc chiến tranh của Duệ Tôn ở đất Hà Tĩnh, Đền thờ của Bà hiện ở Kỳ Anh, rất linh thiêng . Bà là tác giả của “Kê minh thập sách” – 10 phép trị nước trình tấu trước binh minh).

Năm 1377, Trần Duệ Tông đánh nhau với Chế Bồng Nga bị thua và bị giết chết ở Đồ Bàn. Sau thời kỳ đó, triều chính trở nên rối ren. Khi bị Hồ Quý Ly tiếm ngôi, Triều Trần rối ren hoảng loạn đã phải cầu viện nhà Minh. Trước tình hình đó, Hoàng hậu Bạch Ngọc không đồng tình với chính sách cầu viện của nhà Trần, đã tự mình liệu tính một con đường khác với mục đích gầy dựng lại nhà Trần. Bà cùng con gái là công chúa Huy Chân  đem gia nhân âm thầm rút khỏi thành Thăng Long, bí mật luồn theo đường rừng hướng về quê cha, chính là vùng đất Hồng Lam. Sử sách ghi chép, cuộc di hành này mất 50 ngày đêm, tổng số gia nhân lúc đầu là 573 người, dọc dường đi bị truy đuổi, nên khi về đến nơi chỉ còn 170 người. Đi theo hỗ trợ cho mẹ con bà là hai vị quan trung thành Trần Quốc Trung và Nguyễn Thời Kính.

Đoàn quân của Hoàng hậu Bạch Ngọc về đến Chi La (Đức Thọ, Hà Tĩnh ngay nay) thì quyết định dừng chân tại tả ngạn sông La, dưới chân dãy núi Trà Sơn, chính nơi mà theo phép phong thủy gọi là bạch hổ như tôi đã nhắc đến ở trên.  Bà bắt đầu chiêu dân lập ấp. Ngay từ những ngày đầu đã chiêu mộ được hơn 3000 dân, khai phá được 3.965 mẫu ruộng. Từ bốn thôn do bà lập nên ban đầu là Lai Sơn, Hằng Nga, Ngũ Khế và Tùng Chinh, sau phát triển rộng dần: Am Sơn, Lâm Thao, Nhân Thi, Cận Kỵ, Thượng Bồng, Hạ Bồng, Thường Nga, Lai Thạch, Phong Châu… (Tại hội thảo toạ đàm về Hoàng hậu Bạch Ngọc do GS Viện sĩ Phan Huy Lê chủ trì tháng  9.2012, số thôn xã do bà lập nên được công bố tương đương với 45 xã thuộc bốn huyện Hương Khê, Hương Sơn, Đức Thọ cà Can Lộc ngày nay. Bà được nhân dân tôn vinh là thành hoàng làng của các thôn làng này). Bà tổ chức trang trại trồng trọt, chăn nuôi và bắt đầu tích luỹ tiền bạc, cho mở xưởng rèn vũ khí, xây kho cất dấu lương thực trên núi Vua của dãy Trà Sơn.

Năm 1418, Hội thề Lũng Nhai gồm 18 nhân tố do Lê Lợi làm thủ lĩnh. Sau khi cắt máu ăn thề tại Thanh Hoá thì đã đến Hà Tĩnh, ẩn náu tại đất Chi La. Nên nhớ vùng đất này trước đó từng là căn cứ điểm của nhà Trần trong hai lần đánh tan quân Nguyên. Một đêm, Lê Lợi cùng các thủ lĩnh cắm trại ở chân núi Tùng Lĩnh, đêm nằm mơ thấy mộng lành, cho rằng điềm báo có Hoàng Thiên Hậu Thổ ủng hộ mình, nên đã quyết định chọn vị trí đóng quân ở đây. Sau này chiến thắng, đã đổi tên núi là Linh Cảm, và đổi tên vùng này là Việt Yên (tương đương với hai xã Tùng Ảnh và xã Trường Sơn của huyện Đức Thọ ngày nay). Đời Lê Hồng Đức thứ 9 (1478) Đinh Liệt sau khi mất được phong tặng hiệu thuỵ “Linh Cảm Đại Vương” và cho xây đền thờ tại núi Linh Cảm.

An Tĩnh cổ lục - HIPPOLYTE BRETON (tr.287) chép: “Ngay khi đến dãy núi Yên Mã (Thiên Nhận), Lê Lợi đã đóng dinh trong động Tiên Hoa, xung quanh Ngài là Bộ tổng tham mưu và các bộ hạ. Lúc đó, Bùi Bị đã gặp quả phụ Duệ Tôn và con gái của bà rồi giới thiệu với Lê Lợi. Vua thấy công chúa có sắc đẹp, bèn lấy làm vợ (sau Lê Lợi lên ngôi, Huy Chân là hoàng hậu Trịnh Thục) và lấy điện Phượng Hoàng và điện Ngũ Long cho hai mẹ con ở. Nguyễn Thời Kính và Trần Quốc Trung đi theo Lê Lợi đánh giặc Minh, lập được nhiều công trạng.

Sau lúc kết duyên với Lê Lợi, công chúa Huy Chân sinh hạ được một con gái, đặt tên là Ngọc Châu, tước vị Trang Từ công chúa. Về sau, Ngọc Châu kết duyên với con trai cả của Bùi Bị tên là Bạn, một trong những anh hùng của cuộc kháng chiến của An-Tĩnh chống lại các đội quân Tàu. Ông được liệt vào hàng ngũ "những công huân của Tổ quốc" (Khai quốc nguyên huân) và được phong Minh Quận công.

Đời Lê Thánh Tôn, niên hiệu Hồng Đức (1460-1498), Bùi Bạn bị trọng thương tại Champa và ít lâu sau mất tại Thổ Hoàng (huyện Hương Khê ngày nay). Rồi Ngọc Châu sợ vì không có con trai, bèn rút về ở chùa Diên Quang cùng với bà và mẹ mình…”

Cuộc gặp gỡ thiên định giữa Lê Lợi và mẹ con Hoàng hậu Bạch Ngọc đem đến cho Lê Lợi nhiều may mắn, báo hiệu thành công. Hoàng hậu Bạch Ngọc đã tình nguyện dâng hiến toàn bộ tài lương quân khí do mình tích luỹ được cho Lê Lợi. Nhờ đó mà nghĩa quân của Lê Lợi phát triển thực lực được mau chóng.

Trong suốt 10 năm kháng chiến chống giặc Minh của Lê Lợi, Hoàng hậu Bạch Ngọc được Lê Lợi giao cho phụ trách công tác hậu cần. Bà đã huy động hết cả các hoàng hậu, phi tần và vợ con các tướng lĩnh cùng tham gia giúp bà quản lý các trang trại. Hoàng hậu Bạch Ngọc là một người có tài tổ chức, đến nay vùng đất La Giang vẫn còn dấu tích những vùng chuyên canh trồng trầu, trồng cau (thuở ấy lính của Lê Lợi thường có thói quen ăn trầu thuốc, cho nên có vùng quy hoạch chuyên trồng trầu phục vụ quân đội, tiếng Hà Tĩnh gọi là “trại trù”), trồng lúa, trồng màu, trông dâu nuôi tằm dệt vải, nơi lập trại chăn nuôi, lập xưởng rèn, xưởng đóng thuyền vv… Nhờ bàn tay tháo vát của hoàng hậu Bạch Ngọc mà quân đội của Lê Lợi được chăm sóc chu đáo, đủ đầy. Cũng nhờ đó mà tiếng thơm “con gái sông La” đẹp người đẹp nết lưu danh đi vào lịch sử.

Sau những năm chuẩn bị lực lượng. Năm 1423, nghĩa quân của Lê Lợi đánh bật được tướng Tàu là Thái Phúc ra khỏi Lam Thành (Núi Lam Thành thuộc địa phận TP Vinh ngay nay), khởi  đầu cuộc tổng tiến công đánh giặc Minh.

Có một kỷ niệm đẹp về một đêm thi ca trên động Tiên Soa được lưu truyền vào sông núi La Sơn, xảy ra giữa Hoàng Hậu Bạch Ngọc với bộ ba  Lê Lợi – Nguyễn Trãi – Đinh Liệt. Chuyện kể rằng: năm 1426, Đinh Liệt đánh nhau với tướng nhà Minh là Trương Hùng ở Diễn Châu (Nghệ An), chiến lợi phẩm được một vò rượu ngon. Vừa lúc nhân dân làng Sơn Phúc (Hương Sơn – Hà Tĩnh) săn được con nai đem biếu Lê Lợi ăn mừng chiến thắng. Tiệc bày ra thì vừa lúc Hoàng hậu Bạch Ngọc mang tới một giỏ nấm rừng  và vài thứ đặc sản địa phương, nói là linh tính mách bảo Lê Lợi sắp chiến thắng giặc Minh, bà sắp phải xa nghĩa quân, nên có ý mang vài thứ vào dâng lễ. Đinh Liệt nghe thế liền ứng khẩu:

“ Hằng Nga bao tình nghĩa

Mắt say đắm nhìn Vương

Chả nai tình trăm họ

Rượu ngon dạ chiến trường

Nấm trắng lòng đỏ chói

Đêm thu ngào ngạt hương

Ý trời dường đã định

Chính nghĩa thắng bạo tàn

Kìa cờ vàng kiêu dũng

Phất phới trời Đông Quan”

Nguyễn Trãi liền nối lời Đinh Liệt:

“Anh quân rực rỡ mặt trời

Hằng Nga tìm ánh sáng

Tướng võ giỏi văn tài

Đánh giặc nào cũng thắng

Để có nhiều nắng ấm

Để thêm đẹp vầng trăng

Thêm chả nai, thêm nấm

Thêm nhiều vò rượu tăm ”

Hoàng hậu Bạch Ngọc vốn là người cũng có chút tài văn thơ, bèn vui vẻ đáp lễ:

“Bình Định thành công bởi ý trời

Kế mưu cao giỏi sẵn bề tôi

Đinh Liệt lược thao trùm tướng khí

Trần Văn thi phú rạng văn đài

Quân đi thanh thế ngân hà động

Tướng xuất uy phong quốc tặc lùi

Lòng dân đã hướng theo cờ nghĩa

Thắng lợi cầm tay chín rõ mười”

(Trần Văn tức là Nguyễn Trãi )

Câu chuyện giao lưu thơ ca này đánh dấu một mốc lịch sử rằng, chí ít đến năm 1426, tức năm thứ 8 của 10 năm kháng chiến, dinh thự của Lê Lợi vẫn đóng trên động Tiên Hoa,  thuộc  đỉnh núi Tam Thái của dãy núi Thiên Nhận ở Hà Tĩnh. Hai cái tên La Giang và La Sơn đồng thời xuất hiện tại vùng này ở thời Lê (trước đời Trần gọi là Chi La).

An Tĩnh cổ lục - HIPPOLYTE BRETON (tr.289) chép:  “… năm 1427, Lê Lợi đã đưa Trần Cảo lên ngôi vua. Ít lâu sau các đình thần buộc Trần Cảo phải tự tử bằng thuốc độc. Lê Lợi lên ngôi và lấy niên hiệu là Thuận Thiên.” Như vậy, Trần Cảo là vị thứ tư của triều đại nhà Trần lập ngôi trên đất Hồng Lam, nhưng theo Hoàng Xuân Hãn, họ Trần này do Lê Lợi dựng lên để có cớ nói chuyện sắc phong với triều Minh. Vị này thật sự thiếu may mắn, khi kháng chiến sắp thành công, Trần Cảo bị ép phải uống thuốc độc mà chết.

Năm 1428, Lê Lợi tiến quân vào Thăng Long, chỉ có Huy Chân công chúa đi theo, còn Hoàng hậu Bạch Ngọc từ chối. Bà ở lại La Sơn và lập chùa tu hành trên núi Am Sơn. Ít lâu sau, Huy Chân (bấy giờ tước hiệu là Trịnh Thục Hoàng hậu) vì không có con trai, người con trai của Lê lợi với người phi khác lại có tính ngông cuồng, Huy Chân theo lời khuyên của hoàng hậu Bạch Ngọc, rút khỏi kinh thành về ở ẩn cùng với mẹ ở chùa Am. Trang Từ công chúa, con của Huy Chân sau khi Bùi Bạn mất cũng về đây tu hành cùng bà và mẹ. Vậy là, những nàng hằng nga của đất Hồng Lam khi khó khăn thì xông pha gánh vác, thậm chí sẵn sàng hy sinh  mạng sống vì đại nghiệp. Nhưng khi hoà bình thì lui về cuộc sống bình lặng, không tham gia tranh chấp quyền lực. Đức độ nhân từ giúp hoàng hậu Bạch Ngọc tỉnh táo, hướng con cháu mình biết cách rút lui trước khi xảy ra thảm án Trịnh – Nguyễn phân tranh.

           

(Coi bài viết về phát hiện thành cổ của Lê Lợi tại link này )

Vài suy nghĩ cá nhân:

- Hội thề Lũng Nhai sau khi ăn thề tại Lam Xuân, Thanh Hóa, thì đã đi vào Hà Tĩnh. Sau khi giết được tướng cướp Nguyễn Cảnh Cân, thì giải phóng được Hà Tĩnh và lấy đất La Giang làm căn cứ địa, nên việc chiêu quân xây dựng lực lượng trong 6 năm đầu hoàn toàn xảy ra tại Hà Tĩnh. Từ  TP Vinh đổ ra Bắc thời gian này bị chiếm đóng bới giặc Minh. Sông Lam là chiến tuyến giữa quân Lê Lợi và quân Minh. Vậy nên tên gọi cuộc chiến “Khởi nghĩa Lam Sơn” cần phải hiểu là Lam Thành Sơn – Nghệ An, chứ không phải Lam Sơn Thanh Hoá? Cũng trong 10 năm này, trung tâm chỉ huy của nhà Minh là Lam Sơn Thành. Nhà Minh có ý đồ bình định xong Đại Việt thì sẽ bình định Lâm Ấp, nên mới đặt trung tâm chỉ huy ở đây. Cuộc khởi nghĩa giải phóng Đại Việt của Lê Lợi còn có giá trị cứu nguy cho Lâm Ấp thoát khỏi sự xâm lược của nhà Minh.

- Thường khi nghe nói đến cụm từ kinh đô ở Thanh Hoa, các nhà nghiên cứu lịch sử, kể cả là nhà nghiên cứu địa phương của hai tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh, đều nghĩ rằng đó là tỉnh Thanh Hóa? Thực ra, Thanh Hoa kinh đô kháng chiến của Lê Lợi là tổng Thanh Hoa của xứ Nghệ An. Khi ấy tổng Thanh Hoa bao gồm mạn Bắc Sông La, sông Phố, từ làng Tường Xá của huyện Đức Thọ, đến một số xã của huyện Hương Sơn, và huyện Thanh Chương. Nghĩa là toàn bộ khu vực có dãy núi Thiên Nhận mà Lê Lợi dùng làm thủ đô kháng chiến đều thuộc tổng Thanh Hoa. Tên  sông  Ngàn Sơn được đổi tên Ngàn Phố và tên thị trấn Hương Sơn là Phố Châu có lẽ xảy ra tại thời điểm này.

- Năm 1423, là năm đầu tiên của cuộc tổng tiến công của Lê Lợi. Khi đó vị tướng nhà Minh trấn thủ Lam Sơn Thành (thành trên núi Lam Sơn, bây giờ vẫn còn dấu tích) là Thái Phúc đã bị nghĩa quân Lê Lợi giết chết. Năm 1426, mới đánh tới Diễn Châu (Nghệ An) giết chết Trương Phùng, bắt sống Hoàng Phúc. Lúc này, quân của Lê Lợi trong thế thừa thắng. Nhà Minh cho Vương Thông đem quân sang viện trợ, nhưng vẫn liên tiếp bị thua to, buộc phải nghị hoà. Như vậy, 10 năm kháng chiến chống giặc Minh của Lê Lợi thì có khoảng  6 năm chuẩn bị và 4 năm tổng tiến công để đi đến thắng lợi. Trong 10 năm kháng chiến ấy, hết khoảng gần 9 năm xảy ra trên đất Nghệ Tĩnh. Lưu truyền địa phương chỉ có hai câu chuyện nằm mộng ở Linh Cảm và ở làng Chế Phẩm. Chiến thắng giặc Minh, Lê Lợi mới tiến quân về Thăng Long, mới có cơ hội vãn cảnh hồ Tả Vọng, nên việc ban kiếm thần ở hồ Tả Vọng là không có cơ sở? Chiến thắng rồi rùa thần mới ban kiếm thì phỏng ích gì…

- Ngọn núi Phúc Sơn được sử chép là nơi chôn cất Hoàng hậu Bạch Ngọc, nhưng nhân dân lại gọi là núi Mộ Vua? Cũng ý đó là tên đền “Ngũ Long”? Nếu chỉ thờ thờ “tứ phi” thì phải gọi là tứ phi, cớ chi lại gọi là “Ngũ long”? Phải chăng Ngũ Long là 5 vua? Ngoài Trần Cảo, thì Giản Định và Trùng Quang bị giặc Minh bắt ở Lam Thành; rồi Trần Húc cũng mất ở Lam Thành. Vậy các vị vua này sau khi mất thì được an táng ở đâu? Cớ chi núi ấy gọi là núi Mộ Vua? Có thể thêm vua Duệ Tôn cũng được an táng ở đây chăng, nên mới gọi là “Ngũ Long”? Bởi sau khi Trần Húc đầu hàng thì được người Chăm Pa cho làm vương ở đất Nghệ An, nên có thể đã đem thi hài cha mình về an táng tại đây? Vậy thì Hà Tĩnh cần nghiên cứu lại nội dung thờ phụng của đền Ngũ Long và núi Mộ Vua mới được. Biết đâu khi xưa do loạn lạc, phải bảo vệ, cất dấu an toàn thi hài các vị vua mà nhân dân nói chệch sang thờ tứ phi…

***

(1) Tôi cho rằng tên núi là Thiên Nhận chứ không phải Thiên Nhẫn. Nhận () là đơn vị thước đo chiều dài thời nhà Chu. Thiên Nhận còn có tên là Rú Nghìn, tức núi cao nghìn nhận.

(2) Theo "Khâm Định Việt sử", hay "An Tĩnh cổ lục" thể hiện nước ta từ thời Lý đến thời Lê, các vợ vua đều được gọi là hoàng hậu chứ không gọi phi. Ngôi vị cao nhất gọi là hoàng hậu chính cung, những người còn lài gọi là hoàng hậu. Vậy việc dịch sử thành thứ phi, nguyên phi liệu đã đúng chăng?

***

Tài liệu tham khảo:

- An Tĩnh cổ lục - Hippolyte Breton 

- Việt Nam Sử lược - Trần Trọng Kim

- Khâm định Việt sử thông giám cương mục triều Nguyễn

- La Sơn Yên Hồ - Hoàng Xuân Hãn

- Đại Nam nhất thống chí - Lê Quý Đôn

-  Đại Việt sử ký toàn thư

- Các ghi chép về Văn hóa Hồng Lam của  nhà văn hóa Thái Kim Đỉnh và Ninh Viết Giao.

- Làng cổ Hà Tĩnh

-  Một số chi tiết từ các bài tham luận trên baohatinh.vn và vanhoanghean.com.vn

-  Các dư địa chí của Nguyễn Trãi, Phan Đình Phùng, Bùi Dương Lịch và các tư liệu khác trong kho tàng văn hóa lịch sử Nghệ An  - Hà Tĩnh

- Tư Mã Thiên sử ký và một số sử liệu cổ Trung Hoa

 ***

Kỳ sau: Phục lục 4 - Hư thực về “Cột đồng Mã Viện” và “Tấu thư Cao Biền”

===============================================


Để gửi ý kiến nhấp vào đây

Các tin khác:
 Sự tích “Cá gáy hóa rồng” ở thác Vũ Môn liên quan đến lịch sử hai lần khởi đánh quân Nguyên Mông của nhà Trần. (00h: 11-01-2015)