Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
Thực hư của “Cột đồng Mã Viện” và “Tấu thư Cao Biền”
 
(15h: 17-01-2015)
Thực hư của “Cột đồng Mã Viện” và “Tấu thư Cao Biền”
Các giả thiết khảo luận của Phan Lan Hoa về "DẤU TÍCH NHÀ NƯỚC VIỆT THƯỜNG THỊ VÀ VAI TRÒ NGHỆ AN TRONG DÒNG LỊCH SỬ VIỆT NAM"
***

  DẤU TÍCH NHÀ NƯỚC VIỆT THƯỜNG THỊ

 VÀ VAI TRÒ NGHỆ AN TRONG DÒNG LỊCH SỬ VIỆT NAM

***

Phụ lục 4: Thực hư của “Cột đồng Mã Viện” và “Tấu thư Cao Biền”

***

Cột đồng trụ Mã Viện ở đâu?

Theo ghi chép của sử liệu nước ta, từng có hai ngọn núi cùng có tên là Đồng Trụ Sơn, một ở Phú Yên (nay gọi là núi Thạch Bi), một ở TP Vinh, tỉnh Nghệ An, (nay là núi Lam Thành).

Sách “Thủy Kinh chú” của Lịch Đạo Nguyên chép rằng: “Mã Văn Uyên (Mã Viện, tên tự là Văn Uyên), dựng cái mốc đồng để làm giới hạn cuối cùng của đất phía nam Trung Quốc. Mốc đồng ấy tức là cột đồng. Theo Tùy sử , Lưu Phương khi đi đánh Lâm Ấp, qua cột đồng của Mã Viện, đi về phía nam tám ngày thì đến quốc đô Lâm Ấp. Trong khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (806-820) đời Đường, An Nam đô hộ là Mã Tổng lại lập hai cột đồng ở chỗ Mã Viện dựng cột đồng trước, để tỏ ra mình là dòng dõi con cháu Phục Ba . Theo sách Thông điển của Đỗ Hữu, từ nước Lâm Ấp đi về phía nam, đi thủy, đi bộ hơn hai nghìn dặm đến đấy có nước Tây Đồ Di là chỗ Mã Viện dựng hai cột đồng để nêu địa giới đấy. Theo Tân Đường thư , ở châu Bôn Đà Lãng của Lâm Ấp, phía Nam là năm bãi lớn, có núi "cột đồng" (đồng trụ sơn), hình núi như cái lọng dựng nghiêng, về phía Tây có nhiều núi đá, phía Đông là biển lớn”.

Sử chép như vậy thì cả hai ngọn núi có tên là Đồng Trụ Sơn đều có cột đồng của Mã Viện.

Bởi “qua cột đồng của Mã Viện, đi về phía Nam tám ngày thì đến quốc đô Lâm Ấp”, thì cột đồng này nằm ở núi Đồng Trụ, thuộc TP Vinh là đúng rồi. Nếu dựa vào cuộc hành quân của của Quang Trung đi từ Nghệ An ra Thăng Long mất 3 ngày mà đối chiếu, thì từ TP Vinh đi Quảng Nam (quốc đô Lâm Ấp) mất 8 ngày là hợp lý.

Ghi chép của sách “Thái Bình hoàn vũ ký” cũng khẳng định lại là có hai cột đồng trụ tương ứng với hai ngọn núi trùng tên là Đồng Trụ Sơn, sách này chép như sau: “Mã Viện đi đánh Lâm Ấp, đi từ Nhật Nam hơn 400 dặm đến Lâm Ấp, lại đi hơn 20 dặm nữa có nước Tây Đồ Di. Viện đến nước ấy rồi lập hai cái cột đồng ở nơi phân giới giữa Tượng Lâm và Tây Đồ Di. Về đường thủy, đi từ Nam Hải hơn 3000 dặm đến Lâm Ấp, rồi đến cột đồng ở Giao Châu phải 5000 dặm nữa”.

Lời bình:

Chuyện một lãnh tướng đi đánh chiếm rồi cắm cột mốc làm biên giới, là chuyện bình thường thôi, chẳng có gì là to tát. To tát là ở chỗ nơi địa phương có cột mốc cắm xuống có chịu tâm phục, hàng phục kẻ chôn cột hay không mới đáng bàn! Nếu là một vùng đất hoang vô chủ thì việc cắm cột mốc sẽ mang ý nghĩa khai phá giang sơn, mở mang bờ cõi. Còn như núi Lam Thành Sơn ở sâu trong đất Việt Thường, hay núi Thạch Bi ở trong đất Lâm Ấp, là đất đai đã có chủ quyền, thì hành động đó lại thể hiện là hành động của quân ăn cướp. Huống hồ chi, hai dân tộc Việt Thường và Lâm Ấp lại có nền văn minh lâu đời hơn nhà Hán mấy ngàn năm. Sự kiện ấy không chỉ không mang lại ý nghĩa gì cho nước Hán, mà còn để lại sự coi khinh, là bằng chứng thù hận trong lòng dân Việt Thường và Chăm Pa. Vậy mà Mã Viện lại còn ngang ngược khắc chữ lên đó “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (cột đồng gãy, Giao Chỉ diệt vong).

Những tưởng Mã Viện vốn đã ngu xuẩn ngỡ rằng mình sẽ dọa dẫm được người An Nam? Mấy trăm năm sau hậu duệ của hắn là Mã Tổng lại dẫm vào bãi phân của cha ông. Theo sách “Thông điển” chép: “Trong khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (806-820) đời Đường, An Nam đô hộ là Mã Tổng lại lập hai cột đồng ở chỗ Mã Viện dựng cột đồng trước, để tỏ ra mình là dòng dõi con cháu Phục Ba”. Nghĩa là Mã biết rõ, cột đồng của tổ tiên Mã không chỉ “chiết” thôi, mà đã bị biến mất khỏi đất Giao Chỉ lâu rồi, vậy mà Giao Chỉ  nào có “diệt” gì đâu, vẫn tồn tại là một dân tộc ngày một hùng cường hơn. Thậm chí sau khi Tổng phục hồi cột đồng lần hai, thì những đội quân đến từ phương Bắc, hết Nguyên Mông, đến Minh, rồi Thanh, đều lần lượt bị chôn thây hàng vạn ngay dưới chân núi Đồng Trụ (Lam Thành) trên đất Việt Thường. Vậy chẳng hóa ra dòng dõi nhà Mã chôn cột đồng để khắc vết nhục vào lịch sử Trung Hoa đấy chứ ?!

Cột đồng trên đất Lâm Ấp, thì nghe nói cả núi lẫn cột đã bị thổ thần làm cho động đất sụt xuống biển đông mất dạng. Còn cột đồng trên đất Việt Thường, theo “Hà Tĩnh đất văn vật Hồng Lam” của Thái Kim Đỉnh, câu chuyện được lưu truyền trong dân gian như sau:

Năm 42-43, sau khi cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng bị thất bại. Mã Viện đã cho chôn cột đồng tại rú Rum (núi Lam Thành, TP Vinh ngày nay) và khắc lên đó dòng chữ “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”, hòng hăm dọa để dân Giao Chỉ sợ bị diệt vong mà không dám nhổ đi. Núi này từ đó có tên là Đồng Trụ Sơn.

Có hai vợ chồng nhà nọ ở làng Trung Ca, vốn vừa là tổ sư nghề hát, lại làm thêm nghề hái thuốc nam, nên ngày ngày họ thường leo lên những ngọn đồi trong vùng để tìm cây thuốc. Một hôm, khi lên núi Lam Thành, phát hiện ra nơi trồng cái cột đồng đáng nguyền rủa kia. Bèn về nhà sắm một cái cưa sắt, hôm sau hai vợ chồng lên núi và ra sức cưa cho kỳ đứt, rồi cho cột đồng vào quang gánh, quảy xuống sông Lam đem vứt. Nhân dân trong vùng nghe chuyện, vừa mừng vừa cảm phục hành động khí khái của vợ chồng họ.

Sau này, người làng Trung Ca nhớ công lao người cưa đứt cột đồng Mã Viện, bèn lập đền thờ, tôn người chồng làm thành hoàng. Trong đền có thờ cả đôi quang gánh để nhắc đến nghề nghiệp cũ của thần thành hoàng. Cho đến sau cách mạng (1945), ở thôn Trung Ca (nay là thôn Trung Thịnh, xã Thịnh Lộc - huyện Can Lộc, Hà Tĩnh), vẫn còn ngôi đền thờ một vị thần có hiệu "Dực bảo trung hưng Linh phù bản cảnh Thành hoàng Linh ứng Đôn ngung tôn thần" là tổ sư nghề hát, nghề thuốc, và là người cưa đứt cột đồng Mã Viện. Đền thờ sau bị một số kẻ đội lốt Việt Minh dỡ phá. Nhưng nhân dân vẫn còn giữ lại được 3 đạo sắc phong thần, cùng bản thần tích do ông Cung Khắc Lược, cán bộ Viện nghiên cứu Hán nôm (Hà Nội) phát hiện từ kho sách của Viện, và dịch ra tiếng Việt gần đây. Sắc phong lần thứ nhất vào năm Thành Thái (1889); Sắc phong thứ hai vào năm Duy Tân thứ ba (1909); Sắc phong thứ ba vào năm Khải Định thứ 9 (1922). Theo các văn bản đó, tên của người cưa cột đồng Mã Viện là Hoàng Cơ Thạch.

Chuyện về cuốn “Cao Biền tấu thư địa lý kiều tự”

Năm Hàm Thông thứ 7 (866), quân Nam Chiếu (Chăm Pa) đánh chiếm Giao Chỉ, đuổi quân nhà Hán đến tận Hải Môn (theo “cương mục tiền biên”, Hải Môn cách Phong Châu 15 dặm về phía Bắc). Cao Biền được cử sang Giao Châu thay Trương Nhân đánh Nam Chiếu. Nhà Đường đặt Tĩnh Hải quân ở An Nam, dùng Cao Biền làm tiết độ sứ. Bắt đầu từ đấy, An Nam đổi tên là “Tĩnh Hải quân tiết trấn”.

Sách “An Nam kỷ yếu” chép: “Cao Biền đắp Đại La thành, và làm ra sổ sách chép rõ bờ cõi, số lính thú trong trấn và các thuế má cống nạp. Người Giao Châu kinh sợ Cao Biền, gọi Biền là Cao vương”. Nhưng sách “Cương mục tiền biên” của triều Nguyễn thì cho rằng: “ Đại La Thành: Thành này do Trương Bá Nghi đắp từ năm Đại Lịch thứ 2 (767) đời Đường; năm Trinh Nguyên thứ 7 (791), Triệu Xương đắp thêm; năm Nguyên Hòa thứ 3 (808), Trương Chu lại sửa đắp lại; năm Trường Khánh thứ 4 (824), Lý Nguyên Gia đời phủ trị tới bên sông Tô Lịch, đắp một cái thành nhỏ, gọi là La Thành; năm Hàm Thông thứ 7 (866), Cao Biền đắp ngoại thành bao quanh "kim thành" , cũng gọi tên là La Thành. Theo Thanh nhất thống chí thành Đại La ở ngoài phủ thành Giao Châu, quận trị Giao Chỉ đời Hán, phủ trị đô hộ đời Đường đều ở đấy. Lâu ngày đổ nát, vết cũ khó xét thấy. Đó tức là những lũy đất ở bốn mặt ngoài tỉnh thành Hà Nội ngày nay. Những thành đất mà các đời Lý, Trần về sau đã sửa đắp nhiều lần, tục cũng gọi là La Thành. Nếu bảo đấy là vết thành cũ của Cao Biền thì thật không đúng.”

Cao Biền, trong thời gian làm tiết độ sứ Tĩnh Hải, cậy có chút kiến thức về phong thủy địa lý, Biền đã đi khắp đất Giao Châu nhòm ngó về huyệt đạo, phong thủy đất An Nam, lập thành sách. Theo Biền, An Nam có nhiều huyệt đất có thể phát vương, bèn mật báo về vua Đường đề nghị cho làm phép yểm để phá long mạch.

Phép gọi là trấn yểm của Biền xem ra cũng giống như mấy bà hầu đồng ngày nay trên đất Bắc. Biền cho người lên đồng để triệu hồi thần cai quản khu vực đó nhập đồng vào và giết đi để trừ. Sau đó mới yểm huyệt bằng cách vứt xác chết thối và lá bùa trấn yểm do Biền tự vẽ vào chỗ Biền xác định là huyệt đạo.

Tuy nhiên, theo ghi chép về những câu chuyện truyền thuyết dân gian Việt Nam, thì Biền nhiều lần bị linh thần An Nam trừng trị ngay khi đang làm phép trấn yểm. Như khi trấn yểm Tản Viên Sơn Thần, hay đền thờ thần Tô Lịch ở đền Bạch Mã đều thất bại. Khi Biền đang cúng yểm ở hang Hàm Rồng (Thanh Hóa), bỗng nhiên có cả núi lửa trong miệng hang hừng hửng phun ra thiêu cháy rụi hết đồ dùng để trấn yểm của Biền, khiến cho Biền ta bấy giờ phải tháo chạy thục mạng. Còn ở đất Hồng Lam lại lưu truyền sự tích, khi Biền đang tung bùa trấn yểm tại chùa Sư Tử trên núi Hồng Lĩnh, thì bỗng đâu có con trâu rừng xông ra húc vào chân, khiến Cao Biền được phen hoảng sợ khiếp vía, bỏ hết bùa ngải để thoát thân.

Chuyện đã thành lưu truyền dân gian, hư thực thế nào khó lòng kiểm chứng, chỉ biết ở phía Bắc hiện có lưu truyền quyển sách “Cao Biền tấu thư địa lý kiều tự”. Theo đó, tin đồn lan truyền cuốn sách này là âm mưu diệt chủng người Việt của người Hán, do Cao Biền chủ mưu, yêm huyệt đạo những muốn phá vỡ cấu trúc long mạch nước Nam. Đến thời nhà Lê, nghĩa quân bắt sống tướng giặc và xét được trong người có cuốn sách trên, nên mới lộ rõ âm mưu thâm độc của người Tàu.  Nội dung của cuốn sách này liệt kê cả thảy có 623 huyệt chính và 1517 huyệt bàng đều thuộc các vùng đất xung quanh Hà Nội, cụ thể như sau:

“…

Hà Đông 81 chính, 246 bàng

Sơn Tây 36 chính, 85 bàng

Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ 65 chính, 155 bàng

Hải Dương, Hưng Yên, Kiến An 183 chính, 482 bàng

Gia Lâm, Bắc Ninh, Đáp Cầu, Bắc Giang, Lạng Sơn 134 chính, 223 bàng

Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, 132, chính 325 bàng

…” 

 

Thực hư câu chuyện xin có lời bàn như sau:

Như đã nói ở phụ lục 3: Năm 1426, khi nghĩa quân Lam Sơn đánh trận Bàu Đột (Diễn Châu), quân của Lê Lợi bắt sống được hai tên tướng giặc, một trong hai tên là  Hoàng Phúc. Soát xét trong người tên này, quân ta thu về một số cuốn sách có nội dung bàn về huyệt đạo phong thủy. Ở Hà Nội người ta  đồn đại đó là cuốn  “Cao Biền tấu thư địa lý kiều tự”. Nhưng xét thực tế tư liệu hiện có tại thư viện Hà Tĩnh, thì tôi cho là không phải.

“Từ điển Hà Tĩnh” cho biết thưc tế thì Tả Ao chỉ để lại trong kho tàng thư viện Hà Tĩnh chỉ có mỗi một tập sách là "Tả Ao chân truyền di thư" bằng thơ Nôm ở thể Thất ngôn gồm 20 trang, nói về những điều cần biết trong các công việc xây dựng nhà cửa. Ngoài ra thư viện Hà Tĩnh còn lưu trữ 3 tập sách khác có tên là; "Tả Ao địa lý luận" đề tác giả là Hoàng Chiêm, trong có 28 bản đồ, hoạ đồ vẽ các kiểu thế đất. Là sách nói về cách chọn huyệt đất để đặt mộ; hai cuốn còn lại là "Hoàng Chiêm địa lý luận" và "Hoàng Chiêm truyền cơ mật giáo". Sách viết bằng chữ Hán, lại trùng họ Hoàng, nên theo tôi Hoàng Chiêm có lẽ là bút hiệu của Hoàng Phúc, chữ “chiêm” trong  chiêm tinh. Trong ba cuốn trên, có thể “Hoàng Chiêm truyền cơ mật giáo” chính là cuốn mà nhân dân cho rằng Hoàng Phúc tiếp nối âm mưu của Cao Biền, định dùng phép tà trấn yểm long huyệt nước đại Việt?

Lời bình:

Một là: Sách “Tả Ao chân truyền di thư” bằng chữ Nôm thì chắc hẳn Tả Ao là người Việt Nam rõ rồi. Còn như “Tả Ao địa lý luận” của tác giả Hoàng Chiêm, lại viết bằng chữ Hán thì chứng tỏ là Hoàng Phúc là học trò của Tả Ao, nghĩa là người Hán học hỏi môn phong thuỷ của người Việt, chứ không phải là người Việt sang Tàu đi học như ghi chép hiện nay? Xét về lịch sử, Tả Ao xuất hiện  cùng thời với Hoàng Phúc (Hoàng Chiêm). Hoàng Phúc lại đóng quân tại châu Diễn thì Động Đình trong chuyện Tả Ao là Động Đình Hồ của châu Diễn, chứ không phải hồ Động Đình ở bên Trung Quốc? (Chữ “bàu” trong Bàu Đột, tiếng Nghệ Tĩnh là hồ, hồ Đột nằm dưới chân núi Động Đình, nên cũng gọi là hồ Động Đình). Có lẽ Hoàng Phúc trong lúc đi cướp bóc, đã lấy được cuốn sách của Tả Ao, từ đó mới triển khai ra cuốn “Tả Ao địa lý luận”, nghĩa là cuốn sách của Hoàng chiêm luận về những bài thơ Nôm của Tả Ao viết về phong thuỷ.

- Hai là: Tả Ao quê cùng xã với Nguyễn Du. Đến nay Nghi Xuân vẫn còn tên làng Tả Ao và đền thờ ở làng này. Họ Nguyễn Tiên Điền khi xưa vốn có cụ tổ là nhà địa lý trứ danh xứ Hoan Châu. Có người nghi ngờ Tả Ao là con cháu nhà họ Nguyễn, hoặc là sách đó của cụ tổ nhà họ Nguyễn Tiên Điền thất lạc ra ngoài? Đó là chuyện nghi ngờ. Còn bàn về tác phẩm, thì cụ Tả Ao chỉ để đời duy nhất cuốn “Tả Ao chân truyền di thư”. Vậy bản dịch “Tả Ao địa lý toàn thư” trên thị trường hiện nay, cả thảy có 5 quyển ghép vào, thì 4 quyển còn lại là sự gán ghép của nhiều thầy địa lý trong cả nước, trong đó có cả phần bản đồ của Hoàng Chiêm.

- Ba là: Trong 3 cuốn sách mà nghĩa quân Lệ Lợi thu được của Hoàng Phúc, còn lưu trong kho tàng thư viện Hà Tĩnh,  không có cuốn nào tên là “Cao Biền tấu thư địa lý kiều tự” cả. Vậy thì làm sao tấu thư cơ mật nhà Hán lại có thể lọt ra ngoài để mà lưu truyền rộng rãi trong dân gian Việt Nam được? Mà huyệt đạo lại chỉ loanh quanh vùng đang quy hoạch của Hà Nội và lân cận, còn như tỉnh Thanh Hoá mới là là đất phát vương ba họ Lê, Trịnh, Nguyễn, trị vì thiên hạ kéo dài liên tục tới 7 thế kỷ thì lại chẳng thấy có nói tới huyệt nào? Từ đó suy ra cuốn sách kia là giả mạo. Tôi đồ rằng ai đó âm mưu bày đặt ra, nhằm mục đích phỉnh phờ nhân dân rằng đất long mạch để nâng giá đất đai chăng? Nếu như Thư viện Hà Tĩnh mà cho scan bộ sách của Hoàng Chiêm rồi công bố rộng rãi lên mạng Internet, thì sẽ giúp nhân dân tránh được  sự lừa đảo này!

- Bốn là: Cho dù “Cao Biền tấu thư địa lý kiều tự” có thật đi chăng nữa thì sau hơn ngàn năm, long mạch cũng không còn như xưa. Tôi lấy ví dụ như trạng Trình khi chọn huyệt cho  mình đã dặn con cháu 50 năm sau phải nhờ người quay đầu lại. Nghĩa là ông Trạng đã biết rõ quy luật đổi dời long mạch của vùng quê ông. Trên thực tế, tuỳ theo địa lý từng vùng đất, nếu tầng địa lý ổn định, thì long mạch ít đổi thay. Còn như tầng địa chất của vùng Hà Tây được xác định là yếu, thì sự thay đổi ấy có khi là ngắn hơn, chỉ 5,10,20,30 năm, hoặc 100,200,1000 năm hơn, chứ không hẳn là ở đâu cũng 50 năm như tính toán của Trạng Trình. Làng tôi, cách đây khoảng 60 năm đổ về trước, sông La chỉ có một dòng chảy qua Bùi Xá, La, Quang, Vịnh, Nhân, Yên Hồ, rồi đổ vào sông Lam ở Trung Lương. Khi đó nhánh phụ của sông La chảy đàng sau nhà chú tôi chỉ là một lạch nước có thể lội qua. Nhưng bây giờ con suối ấy đã lở bờ dâng nước  mênh mông,  thành sông lớn hơn cả sông chính. Sự đổi dòng của long mạch đất đai, kéo theo sự đổi dời vượng suy của các làng quê ven sông. Nói thế để biết, dòng sinh khí là có thực trong đất trời. Nhưng nó sẽ đổi thay theo thời gian. Ví dụ thực tế nhất chính là vùng đất Hồng Lam mà tôi đang trình bày trong chủ đề này. Có những thời điểm trong lịch sử, người dân ra đường là dễ dàng gặp được vua và hoàng hậu, cung phi, nhưng cũng có lúc nghèo mạt như hơn nửa thế kỷ vừa qua…

          - Năm là: Nếu ngành Văn hóa – Lịch sử không sát sao, trong tương lai sẽ còn xuất hiện nhiều tấu thư, ngọc phả, sắc phong giả gây đảo lộn lịch sử, náo loạn xã hội. Khiến cho dân tình mê muội vào các trò mê tín dị đoan. Tôi nghe nói, nhiều vị  phu nhân của các quan chức, theo nhau chạy thầy để yểm bùa đối thủ của chồng trong cuộc chạy đua chính trị ? Nếu quả thật có như vậy thì thật là kém cỏi cả về kiến thức lẫn đạo đức. Cao Biền, là một tay phù thủy bậc thầy về bùa yểm được truyền tụng hơn ngàn đời của Trung Hoa, mà còn lắm lúc chạy re kèn trước thần linh nước Đại Việt, thì mạng của mấy vị sư thầy ngày nay, bõ bèn gì đâu so với năng lực phi phàm của linh hồn tiên tổ của các dòng tộc? Hoặc như đảo Hồng Kông nổi tiếng có những bậc thầy phong thủy tính toán, thì cũng có làm gì được cho thành phố này khỏi cảnh náo loạn biểu tình như vừa qua?  Tôi sẽ bàn kỹ vấn về vấn đề này hơn ở bài viết về linh hồn trong mục “Việt Thường phong tục”…

***

Kỳ sau: Phục lục 5 - Ba vị văn sĩ - chí sĩ nức tiếng của đất Hồng Lam Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ và Phan Bội Châu có công lớn trong việc phát triển và bảo tồn hai di sản văn hóa phi vật thể thế giới: Ca trù và Ví giặm.

***

Tài liệu tham khảo:

- An Tĩnh cổ lục - Hippolyte Breton 

- Việt Nam Sử lược - Trần Trọng Kim

- Khâm định Việt sử thông giám cương mục triều Nguyễn

- La Sơn Yên Hồ - Hoàng Xuân Hãn

- Đại Nam nhất thống chí - Lê Quý Đôn

- Từ điển Hà Tĩnh

-  Đại Việt sử ký toàn thư

- Các ghi chép về Văn hóa Hồng Lam của  nhà văn hóa Thái Kim Đỉnh và Ninh Viết Giao.

- Làng cổ Hà Tĩnh

-  Một số chi tiết từ các bài tham luận trên baohatinh.vn và vanhoanghean.com.vn

-  Các dư địa chí của Nguyễn Trãi, Phan Đình Phùng, Bùi Dương Lịch và các tư liệu khác trong kho tàng văn hóa lịch sử Nghệ An  - Hà Tĩnh

- Tư Mã Thiên sử ký và một số sử liệu cổ Trung Hoa

============================================


Để gửi ý kiến nhấp vào đây

Các tin khác:
 Các nàng hằng nga tái thế ở La Giang làm thống lĩnh công tác hậu cần trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh của vua Lê Lợi (11h: 15-01-2015)
 Sự tích “Cá gáy hóa rồng” ở thác Vũ Môn liên quan đến lịch sử hai lần khởi đánh quân Nguyên Mông của nhà Trần. (00h: 11-01-2015)