Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ - Hai con chim đầu đàn, có công lớn trong việc phát triển và bảo tồn hai di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại: Ca trù và Ví dặm.
 
(12h: 13-02-2015)
Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ - Hai con chim đầu đàn, có công lớn trong việc phát triển và bảo tồn hai di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại: Ca trù và Ví dặm.Phụ lục 5 - Các giả thiết khảo luận của Phan Lan Hoa về "DẤU TÍCH NHÀ NƯỚC VIỆT THƯỜNG THỊ VÀ VAI TRÒ NGHỆ AN TRONG DÒNG LỊCH SỬ VIỆT NAM"
***

 

DẤU TÍCH NHÀ NƯỚC VIỆT THƯỜNG THỊ VÀ VAI TRÒ NGHỆ AN TRONG DÒNG LỊCH SỬ VIỆT NAM

***

Phục lục 5: Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ - Hai con chim đầu đàn, có công lớn trong việc phát triển và bảo tồn hai di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại: Ca trù và Ví dặm. 

Sinh cùng thời, quê cùng huyện Nghi Xuân, cùng “con nhà tông”. Nguyễn Du (1765 – 1820) hơn Nguyễn Công Trứ (1778-1858) một giáp tuổi. Sau đợt đi sứ Trung quốc, Nguyễn Du xin nghỉ phép 6 tháng về dựng lều bên bến Giang Đình viết thơ Kiều. Lúc ấy, Nguyễn Công Trứ vẫn còn là một nho sinh chưa đỗ đạt, hai người từng có những buổi giao lưu “chén rượu cuộc cờ” để bình phẩm, tán thưởng những dòng thơ kiều đang thời kỳ dang dở của Nguyễn Du. Rồi mạch đất phát quan ấy cũng đã phù trợ cho Nguyễn Công Trứ tiếp bước đàn anh Nguyễn Du vào chốn quan trường, trở thành những vị quan thanh liêm, tài đức để đời trong lịch sử dân tộc. Nếu Nguyễn Du là một nhà ngoại giao lỗi lạc, đạt tới chức vụ quanThượng thư bộ lễ, có công tôn vinh dòng thơ Lục Bát Việt Nam lên đỉnh cao nghệ thuật thi ca bằng tác phẩm Truyện Kiều; thì Nguyễn Công Trứ được biết đến là một nhà quân sự, nhà kinh tế tài giỏi, cũng từng ba lần cầm cờ đại tướng, có công dẹp giặc cướp và tổ chức dân khai thông mương rạch cải tạo sông ngòi, biến đầm lầy thành ruộng đồng, thôn làng trù phú suốt hai huyện Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình). Nguyễn Công Trứ là nhân vật lịch sử hiếm hoi được nhân dân kính yêu tôn làm thành hoàng bản xứ từ khi ông hãy còn sống.

Hai nhân vật lịch sử của đất Hồng Lam mang hai tính cách đối lập. Nguyễn Du từ bi nhân hậu, Nguyễn Công Trứ sôi nổi hào hoa, nên phong cách văn chương cũng có phần khác nhau. Nhưng hai người lại có một cái chung giống nhau, đó là đều góp công lớn vun đắp nên thứ quý giá mà người đời gọi là “di sản văn hóa đại diện của nhân loại”. Nếu Nguyễn Du xuấthiện với vai kép nam tại phường vải Trường Lưu được cho là cái nôi của Ví dặm; thì Nguyễn Công Trứ lại là một nghệ sĩ thực thụ, có công lớn trong việc phục hồi và duy trì làn điệu Ca trù. Ví dặmCa trù ngày nay đã lần lượt trở thành “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”. Không cớ chi khi viết về vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam mà lại không nhắc đến tên tuổi và công lao của họ. Vả lại, hình ảnh đời thường của hai vị “chí sĩ kiêm văn nghệ sĩ” đặc biệt sinh động và thú vị, thể hiện những người con trai gốc gác cội nguồn ở miền An Tĩnh không chỉ văn hay, võ giỏi không thôi, mà còn có khả năng ghi điểm cao ở sân khấu nghệ thuật…  

Nguyễn Du, từ sự mê say hát đối đáp ở phường vải Trường Lưu, đến thơ Kiều của ông được nhân dân đắc dụng vào hát Ví phường vải là cả một câu chuyện dài kỳ thú… 

Trường Lưu là một ngôi làng cổ nằm ở mé tây núi Hồng Lĩnh, được nhận định là cái nôi của môn hát ví phường vải. Nói như vậy thì cũng coi như đã gián tiếp công nhận công lao của “kép hát” Nguyễn Du và “thầy bày” Nguyễn Huy Quýnh rồi!

"...Xôi nếp cái, gái Trường Lưu
Văn nhân tài tử dập dìu
Xăm xăm tìm nẻo Lam Kiều lần sang..."

Có người ở địa phương này nói vui: “Lý do mà Nguyễn Huy Quýnh tay gà nên Thác lời phường vải tiếng tăm của gái Trường Lưu, là do Nguyễn Du từng có lần đi hát, bị trai làng Trường Lưu chặn đánh ghen nên đã tránh mặt không sang…”. Tôi thấy rất thú vị với chi tiết này, bởi nó tạo nên hình ảnh một Nguyễn Du hoàn toàn khác, không đạo mạo u sầu như Nguyễn Du đại thi hào; mà là một Nguyễn Du trai trẻ đa tình, thông minh, tinh nghịch, yêu đời và say mê ca hát, gần gũi với phong cách chung của nam nho xứ Nghệ.

Tương truyền, thời gian Nguyễn Du sinh sống tại quê nhà ở Tiên Điền, ông thường hay sang Trường Lưu đàn đúm văn chương. Họ Nguyễn Trường Lưu với họ Nguyễn Tiên Điền là hai dòng họ lừng lẫy văn chương của đất Hồng Lam, vốn dĩ lại là thông gia của nhau. Nhưng ai cũng bảo thăm chơi thông gia có lẽ chỉ là cái cớ. Con gái Trường Lưu nức tiếng chăm chỉ quay tơ dệt lụa, đẹp người đẹp nết, nên không chỉ có Nguyễn Du, mà các nam thanh nho nhã trong vùng đều muốn tới đó,  trước là để thử tài, sau thì “cân sắc”. Dần dà, Trường Lưu trở thành một trong những tụ điểm hát phường vải vang tiếng khắp cả miền đất Hoan Châu. Nguyễn Huy Quýnh được cho là nhân vật đứng đằng sau những câu ví để đời của phường vải Trường Lưu. Có lẽ do vai vế thầy bày, thơ ca của ông đã bị biến thành tài sản văn hoá phi vật thể chung, nên ông đã không có tác phẩm riêng để đời chăng?

Phường vải Trường Lưu lúc bấy giờ có “nhị nữ” là cô Tuyết và cô Cúc thông minh xinh xắn.Cô Cúc so với các cô khác trong làng đã hơn vài ba tuổi. Một lần Nguyễn Du vờ mượn chuyện hoa cúc để chòng ghẹo:

Trăm hoa đua nở về xuân
Cớ sao Cúc lại muộn mằn về thu?

Thoáng nghe cô đã hiểu ngay ý tứ của cậu Chiêu Bảy có ý diễu cợt mình đã lớn tuổi, cô bèn đáp lời:

Vì chưng tham chút nhuỵ vàng
Cho nên Cúc phải dềnh dàng về thu

Có những đêm, Nguyễn Du say hát cho  đến “tảng mai” mới ra về. Vậy mà “mới đêm hôm trước, lại chiều hôm ni” thôi chưa kịp tới, cậu Chiêu Bảy đã nhận được một bức nhạn thư “Thác lời phường vải”.  

Tảng mai Hầu trở ra về
Hồn tương tư vẫn còn mê giấc nồng.
Cơi trầu chưa kịp tạ lòng,
Tỉnh ra đã cách non sông mấy vời.
Trời làm chi cực bấy trời
Cơi trầu này để còn mời được ai ?
Tím gan đổ hắt ra ngoài,
Trông theo truông Hống, đò Cài thấy đâu.
Khi lên, đổ rối cho nhau,
Khi về, trút một gánh sầu về ngay.
Xua buồn từ bấy đến nay,
Nào ai mó đến xa quay, xin thề!
Ngại ngùng đường cửi đi về
Chân dừng dây đạp, tay e thoi chuyền.
Lắng tai nghe tiếng ác truyền,
Đường sầu cuốn khúc, tấm phiền đổ hoa.
Chẹ duyên dằng lại tháo ra,
Gần nhau cách quãng, lại xa mối hồi.
Liều bằng khổ một gò đôi
Coi như bóng đã bắn rồi bong bong

Nguyễn Du nhận được bài thơ, là bậc thông nho, dễ dàng nhận ra ý tứ của bài thơ bề ngoài ra vẻ là cái tình tương tư, còn thâm sâu là nghệ thuật dụng chữ. Lời lẽ bài thơ sử dụng khá nhiều những từ chuyên môn của nghề dệt vải như: xa quay, đường cửi, dây đạp, thoi chuyền, mối hồi. Biết là nét bút tài hoa của “thầy bày” Nguyễn Huy Quýnh trêu chọc mình, Nguyễn Du cũng bèn với phong cách ấy mà viết “Thác lời trai phường nón”. Nếu Trường Lưu có nghề bông vải, thì Tiên Điền có nghề làm nón, phúc thư gửi đi toàn những từ chuyên môn của phường nón như: lịp tơi, vọt, sườn, bẹ móc, nắm giang.

Tiếc thay duyên Tấn phận Tần:
Chưa quen đã lạ, chưa gần đã xa!
Chưa chi đông đã rạng ra,
Đến giờ chỉ giận con gà chết toi!
Tím gan cho cái sao mai,
Thủa nào vác búa chém trời cũng nên.
Về qua liếc mắt trông miền,
Lời quanh dặm dế, chửa yên dặm ngồi.
Giữa thềm tàn đuốc còn tươi,
Bã trầu chưa quét, nào người tình chung?
Hùng Sơn cao ngất mấy trùng.
Đò Cài mấy trượng thì lòng bấy nhiêu!
Làm chi cắc cớ lắm điều,
Mới đêm hôm trước, lại chiều hôm ni.
Khi xa, xa hỡi như ri,
Tiếng xa nghe vẫn rù rì bên tai.
Quê nhà nắng sớm mưa mai
Đã buồn, giở đến lịp tơi càng buồn.
Thờ ơ đóng vọt bó sườn;
Đã nhàm bẹ móc, lại hờm nắm giang
Trăng tà chênh chếch bóng vàng,
Dừng chân thoạt nhớ đến đàng cửa truông.
Thẫn thờ gối chiếc màn suông,
Rối lòng như sợi ai guồng chưa xong
Phiên nào chợ Vịnh ra trông,
Mồng ba chẳng thấy lại hòng mười ba
Càng trông, càng chẳng thấy ra,
Cơi trầu quệt đã để và lần ôi.
Tưởng rằng nói thế mà chơi,
Song le đã động lòng người lắm thay.
Trông trời, cách mấy từng mây,
Trông trăng, trăng hẹn đến ngày ba mươi.
Vô tình, trăng cũng như người
Một ta, ta lại gẫm cười chuyện ta…

Có lẽ khi viết xong những câu Kiều cuối cùng, Nguyễn Du  cũng đã đoán trước được tác phẩm của mình là một “thiên tuyệt bút”. Dẫu vậy, cái lo lắng cho ba trăm năm sau của Nguyễn Du thì lại chứng minh ông không hề lường hết được tác dụng lớn lao của Truyện Kiều đối với đời sống tinh thần của nhân dân Việt Nam. Đức hạnh của nàng Kiều, đời sau có người khen, kẻ chê. Kẻ chê, ấy là họ lấy cái nhìn đời nay áp đặt vào cái sự đã rồi của đời xưa nên có phần xô lệch. Ai cũng bảo Kiều là nhân vật có nguồn gốc từ Đoạn trường tân thanh của nước Trung Hoa? Còn tôi thì thấy bán mình chuộc cha, rõ rành là thân phận của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, làm lẻ tay buôn cũng vậy, là thân phận Hồ Xuân Hương. Còn cái “nẻo Lam Kiều” thì nghe tới ai cũng biết địa danh này tại quê hương Nguyễn Du. Truyện Kiều đâu chỉ có nhân vật Thúy kiều, Thúy Vân mới xinh đẹp, mà những dòng thơ lục bát mà Nguyễn Du để lại cho đời cũng có thể ví đẹp như một nàng Kiều bất tử, có sức quyến rũ xuyên thời đại.

Từ sự yêu mến một “thiên tuyệt bút”, người hâm mộ đã lấy thơ Kiều để triển khai ra hàng loạt trò chơi dân gian lành mạnh và nho nhã, một thú chơi thơ có thể nói là độc nhất vô nhị trên thế giới. Ai đã từng mê Kiều, đều biết đến các thú chơi Kiều. Khi “trà dư” thì lấy tập Kiều, triết lý Kiều mà ngẫm; Khi chén tạc chén thù thì lẩy Kiều, vịnh Kiều mà chơi; Khi sấp ngửa đường đời, thì lấy Kiều mà gieo quẻ rủi may, kiếm lời khuyên nhủ; Khi muốn khen chê ai đó một cách lịch lãm thì lấy thơ Kiều mà ví von; Khi muốn thử thách ai đó để tìm tri kỷ, tri âm, người ta cũng lấy Kiều ra mà đố, mà đối. Truyện Kiều – Nguyễn Du – và những những người hâm mộ Truyện Kiều đã tô điểm thêm một lớp phấn hồng, giúp làm sáng tươi nhan sắc dòng thơ lục bát Việt Nam.

Thơ Kiều được vận dụng hầu như trong cả ba hồi, chín lớp của phường Ví. Hình bóng Thúy Kiều, Kim Trọng xuất hiện thường trực trong lời hát Ví, tựa hồ  như mỗi một đồ nho, mỗi một cô phường ví đều tự coi mình là Kim, Kiều:

 Vừa ra khỏi nhà, gặp cô gái xinh tươi giữa đường, anh đồ nho liền cất tiếng:

Ở nhà dời gót ra đi

Vừa trong tuần trẩy hội gặp Kiều nhi giữa đường

Rồi anh ví von:

Vừa ra vừa gặp người xinh

Cũng bằng Kim Trọng tiết Thanh minh gặp Kiều

Rồi anh thổ lộ:

Bước xuống sông Lam tìm con cá lội

Trèo lên Ngàn Hống hái một trái sim

Có thương nhau anh mới đến đây tìm

Bây giờ kháp mặt như Kim kháp Kiều

Cùng một tâm trạng đó, các cô phường vải cũng đánh tiếng:

Bóng ai thấp thoáng vườn hoa

Hình như Kim Trọng đến nhà Kiều Vân

Rồi các cô gửi niềm mong chờ một cách đầy ý tứ:

Đêm khuya sương xuống đất im

Tai nghe tiếng nhạc chàng Kim đến gần

Còn dưới đây lại là màn hát chào của phường Ví, mà nhiều người cho là có liên quan đến mối tình của Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương

Gái Cổ Nguyệt chơi hồ Cổ Nguyệt 1

Nguyệt nguyệt bằng thục nữ thuyền quyên

Bước năm lần cửa ra thềm

Chè xanh nước chát xin đem mời chàng

***

-   Trai Hùng Sơn đứng núi Hùng Sơn

Sơn sơn xuất anh hùng hào kiệt 1

Chốn hữu tình ngũ lượt lại qua

Có trù cay anh xin miếng,

đặng đỏ môi ta môi mình.

Không chỉ nhận mình là Kim, Kiều, phường Ví còn có cả ngàn lẻ một tình huống vận dụng thơ Kiều để đối đáp:

Các chàng đồ nho cũng thừa hiểu là các cô phường Ví luôn nồng nhiệt đón chào họ tới chơi. Nhưng vào được trong sân trình để  “kháp mặt người xinh” quả là không dễ chút nào. Phường Ví  vừa kiêu kỳ vừa cắc cớ. Cái ngõ vào phường được khoá bằng thơ, bằng tích Kiều, nên anh chàng nào mà chưa có thứ chìa khoá ấy trong tay, thì nên quay về mà lo đèn sách mới hòng. Tuy vậy, cái sự khó ấy dường như không làm ngại ngùng các chàng nho sĩ, mà thậm chí còn cuốn hút họ say mê:

Truyện Kiều anh đã thuộc làu

Đố anh kể được một câu năm người?

- Này chồng, này mẹ, này cha

Này là em ruột, này là em dâu.

Biết là gặp khách nho văn thông thái, phường vải nâng dần độ khó:

Truyện Kiều anh học đã thông

Đố anh kể được một dòng chữ Nho

Đồ nho được dịp trổ tài cho “bõ công đèn sách”:

- Hồ công quyết kế thừa cơ

Lễ tiên, binh hậu khắc cờ tập công

Biết tài anh đồ rồi, các cô lại nghịch ngợm cắc cớ:

Đồn rằng anh thuộc truyện Kiều

Thuyền quyên xin hỏi mấy điều phân minh

Năm nào Kiều lấy Thúc Sinh?

Năm nào Kiều phải bán mình chuộc cha?

Nguyễn Du nào có cho biết năm nào Kiều lấy Thúc Sinh? Bên nam lúc ấy bèn gỡ rối bằng đòn “gậy ông đập lưng ông” thách đố lại phường Ví:

- Thiếp hỏi chàng thế thì cũng phải

Chàng hỏi thiếp Từ Hải con ai?

Lẽ ra Kiều ả Vân em

Cớ sao lại gọi là Kim – Vân – Kiều?

Thôi thì đủ các kiểu đố Kiều mà các nho sinh gặp phải khi đến nhởi phường Ví. Cũng tại các thầy nho đa tình, thấy chị em những muốn “cân sắc”, nên bị phường Ví “cân tài” lại thôi. Các o thường phịa ra những tình huống lắt léo để đố, thơ Kiều nhưng cảnh thì không có thực trong Truyện Kiều. Chính sự hóm hỉnh của các cô đã đã giúp khuyến khích nho sinh trổ hết khả năng thâm thúy về thơ Kiều. Để đời những giai thoại kỳ thú…

Đố giảng Kiều:

Truyện Kiều anh giảng đã tài

Đố anh giảng được câu này anh ơi:

“Biết thân đến bước lạc loài

Nhị đào thà bẻ cho người tình chung”

- Tình chung chẳng phải đâu xa

Chính chàng Kim Trọng vào ra sớm chiều

(Chữ “chung” do chữ “kim” và chữ “trọng” ghép lại)

Đối về mức độ thông thuộc truyện Kiều:

Truyện Kiều anh đã thuộc làu

Đố anh biết được cô nào sinh đôi?

- Đầu lòng hai ả tố nga

Hai con đầu cả…ắt là sinh đôi!

Đố tìm một chữ trong truyện Kiều:

Truyện Kiều anh đã thuộc lòng

Đố anh kể được hai dòng bốn “cho”?

- Làm cho cho mệt cho mê

Làm cho đau đớn ê chề tấm thân

***

Truyện Kiều anh đã thuộc làu

Đố anh hát được một câu bốn “mình”?

- Oan kia theo mãi với tình

Một mình mình biết, một mình mình hay

Đố Kiều tinh nghịch gắn với thời đại mới:

Kim Kiều có phải công nhân

Xưa kia từng đã góp phần đấu tranh?

- Kim Kiều chính cánh thợ ta

Đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ!

Câu đố chiết tự chữ Hán:

Đời người đến thế thì thôi

Ba thu dồn lại một ngày dài ghê

Là chữ chi? Anh mà đoán được, em về làm du

(chữ Xuân gồm chữ tam, chữ nhật và chữ nhân cấu thành)

Đối đáp có khi là cả một bài tập Kiều:

"Trăm năm tính cuộc vuông tròn
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông"
Phải đâu mèo mả, gà đồng
Thuyền quyên muốn hỏi anh hùng trước sau:
"Ba quân chỉ ngọn cờ đào
Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri"
Thế còn một đạo làm chi?
Trai anh hùng giải được, gái nữ nhi chịu tài.

Khi đó các thầy nho cũng phải trả lời bằng tập Kiều:

Vì ai chiếc lá lìa cành
Khi săn như chỉ, khi mành như tơ
Trót công rày đợi mai chờ
"Phải người trăng gió vật vờ hay sao"
"Ba quân chỉ ngọn cờ đào
Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri
Ắt còn một đạo binh uy
Ở nhà giữ chốn biên thùy cho nghiêm
Anh hùng tỏ với thuyền quyên
"Chữ tình càng mặn, chữ duyên càng nồng"!

Đối ra đáp đã nên lời…”, đã cảm phục tài lẫn nhau. Ở phần hát xe kết và hát tiễn, hai bên nam nữ đều chọn những câu với nội dung tỏ rõ tình yêu son sắt thuỷ chung để bày tỏ.

Bây giờ gặp gỡ nhau đây

Mà lòng đã chắc những ngày một hai

Khăng khăng cửa đóng then gài

Nhị đào chờ đợi con người tình chung

- Hai ta quyết chí hai ta

Đá vàng cũng quyết, phong ba cũng liều

Tóc tơ căn vặn hết điều

Hôm sau hẹn gặp Kim Kiều kết giao.

Kể chuyện đố Kiều, đối Kiều thì dài lắm, thú vị lắm, bút giấy nào mà ghi cho hết. Vậy xin tạm kết thúc bằng một giai thoại “đố đuổi cò bằng lẩy Kiều”:

Ba anh đồ Nghệ tắt đồng đi chơi, vừa lúc cô phường cấy bất chợt ngẩng lên, lấy vạt áo lau mồ hôi, để lộ gương mặt rõ là xinh. Ba thầy nho bèn thách nhau làm sao để mời được cô này lên bờ nói chuyện. Một anh lém lỉnh cất tiếng ngâm nga:

Đến đây hỏi thật Thuý Kiều

“Chứ“ có thương Kim Trọng ít nhiều chi không?

Cô phường cấy nhìn ba chàng, rồi chỉ con cò đang đậu ruộng bên, tinh quái:

Đố chàng lẩy một câu Kiều

Cò kia cất cánh, em đây theo lên hầu?

Ba thầy nho nhìn nhau một lúc, rồi một thầy cất tiếng:

Lần lần tháng trọn ngày qua

Nỗi gần ai biết đường xa thế này

Lâm Tri từ thủa uyên …bay!

Thầy nho cố gắng hét to chữ “bay”, nhưng con cò vẫn tỉnh bơ như không. Thầy nho thứ hai bèn lên tiếng:

Cùng nhau theo gót sai nha

Song song vào trước sân hoa lạy quỳ

Trông lên mặt sắt đen …sì!

Thầy nho ráng “sì..” một tiếng dài để đuổi cò, nhưng con cò vẫn không nhúc nhích. Đến lượt thầy nho thứ ba trổ tài:

Mảnh trăng đã gác non đoài

Một mình luống những đứng ngồi chưa xong

Đùng đùng?... gió dục mây vần

Một xe hay cõi hồng trần như … bay!

Cho dù thầy nho vừa đọc Kiều vừa phải hoa tay múa chân dậm “đùng đùng” mới khiến được con cò giật mình bay lên. Nhưng cô gái vẫn chấm điểm ba chàng thuộc Kiều, nên đã giữ lời hứa, tạm gác việc lên bờ tiếp chuyện ba thầy...

                                                                                                          ***

Nguyễn Công Trứ và giai thoại đem Ca trù lên đầu trận tuyến

Đời sau, có người bình luận “Nguyễn Công Trứ ngông từ lúc sinh ra cho tới lúc chết”; lại có người thán phục ông ở góc độ khác: “Nguyễn Công Trứ là tay chơi sành điệu nhất mọi thời đại”. Quả thực, ông là một nhân vật lịch sử vô cùng thú vị. Ông sinh ngày mùng một (01.11.1778) và chết ngày rằm (15.11.1858), thọ tới 82 tuổi. Tương truyền từ lúc mới lọt lòng mẹ, đã không thèm cất lấy một tiếng khóc chào đời ngay như những đứa trẻ khác, khiến cho người nhà và bà con làng xóm phải đem các vật dụng trong nhà, nào nồi đồng, mâm thau ra khua gõ ầm ĩ cho đến khi đứt hơi khản tiếng, thì mới chịu cất tiếng. Khi thành danh, cuộc đời ông bể dâu trăm đường, thành bại luôn song hành với nhau, 28 năm làm quan, nhậm 26 chức vụ. Nhưng thói đời “chữ tài liền với chữ tai một vần”, câu thơ của Nguyễn Du ứng vào chính đồng hương của ông. Đậu giải nguyên văn chương, song rồi ông lại có tới 3 lần cầm cờ đại tướng, đánh giặc như đi chơi. Vua Minh Mạng từng nói rằng: “Hà Tôn Quyền giỏi mưu kế, Hoàng Tế Mỹ giỏi văn chương, Nguyễn Công Trứ giỏi chiến trận, trong triều không nên để vắng ba người ấy”.Vậy mà rồi chính vị vua này cũng có lúc nghe theo bọn quan thần xu nịnh, khiến cho Nguyễn Công Trứ bị giáng chức trở thành lính thú. Ông mất gần hai trăm năm vẫn còn chưa hết oan sai. Lịch sử đời nay vẫn có người đánh giá không đúng về ông, cho rằng ông đàn áp phong trào nông dân?! Chỉ một chi tiết thôi: chính những người nông dân vì yêu quý ông, mà tôn ông làm thành hoàng bản xứ từ khi ông còn sống trên đời, đủ để chứng minh lời nhận xét ấy là sự suy nghĩ nông cạn và bồng bột. Hãy nghe Nguyễn Công Trứ tự tóm tắt cuộc đời mình:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự (1)

Ông Hi Văn (2) tài bộ đã vào lồng

Khi Thủ Khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông (3)

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

Lúc bình Tây cầm cờ Đại tướng (4)

Có khi về phủ doãn Thừa Thiên

Đô môn giải tổ chi niên (5)

Đạc ngược bò vàng đeo ngất ngưởng

Kìa núi nọ phau phau mây trắng

Tay kiếm cung mà nên dáng từ bi

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng

Được mất dương dương người thái thượng (6)

Khen chê phơi phới ngọn đông phong

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

Không Phật, không Tiên, không vướng tục

Chẳng Hàn, nhạc cũng phường Mai Phúc (7)

Nghĩa vua tôi vẹn đạo sơ chung (8)

Đời ai ngất ngưởng như ông

(Bài: Ngất ngưỡng)

=====  

Chú thích:

(1) Trong vũ trụ đâu chẳng là phận sự

(2) Hi Văn: tên tự của Nguyễn Công Trứ

(3) Đông: tỉnh Đông, tức gồm Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình ngày nay.

(4) Đánh thành Trấn Tây, tức nước Cao Miên, Nguyễn Công Trứ giữ chức đại tướng

(5) “Tổ” là giây đeo ấn, người bỏ quan về gọi là “giải tổ”. Nguyễn Công Trứ cởi cái giây thao đeo ấn năm ở cửa kinh đô.

(6) Thái thượng (hay Thái cổ): người đời Thái thượng không quan tâm đến sự được hay mất, sự khen hay chê

(7) Hàn Kì và Nhạc Phi: hai danh thần đời Tống; Mai Phúc: danh nho đời Đông Hán

(8) Sơ chung: trước sau

===

Nguyễn Công Trứ “ngông” như thế nào?

Tên húy của Nguyễn Công Trứ là Củng. Lên 10 tuổi, Củng đã nổi tiếng văn hay chữ tốt, có biệt tài ứng khẩu đối đáp. Một hôm thầy học của Củng đến thăm cụ Đức Ngạn Hầu, hai người ngồi đàm đạo,  lâu lâu lại kéo thuốc lào sòng sọc, rồi lại nhả khói bay thành luồng, Củng thấy vui mắt, vui tai liền ứng khẩu: 

Nín hơi, biến động ba tầng sóng

Há miệng rồng bay chín khúc mây.

Ba tầng sóng dội vang trời bể

Năm sắc mây bay thấp thoáng trời.

Thầy học của Củng nhìn vào khả năng của học trò, dự đoán tương lai về sau, bèn khuyên cha Củng cho con lên tỉnh học. Năm đó Củng 15 tuổi, khi vào thành Hà Tĩnh, đi đường gặp trời rét, Củng ghé quán nước ngủ nhờ trong đống rơm. Đang ngủ thì có đạo quân của Lê Văn Duyệt đi ngang cũng ghé vào. Mọi người đều sợ nem nép, riêng Củng vẫn bình thản nằm ngủ. Viên quản cơ thấy vậy hất chiếu đánh thức kẻ vô lễ. Khi được Lê Văn Duyệt hỏi vì sao không sợ quan, Củng điềm nhiên trả lời:

 - Bẩm, tiểu sinh vốn nghe tiếng đạo quân của ngài là đạo quân nhân nghĩa, chẳng vô cớ làm hại ai bao giờ nên không việc gì phải sợ. Còn mắc lỗi là do đi đường mệt, nên ngủ quên mất ạ!

Tả quân Lê Văn Duyệt cảm nhận được khí khái của kẻ học trò trước mặt, bèn bắt Củng phải vịnh ngay cảnh nằm ổ rơm của mình, vịnh được quan mới tha. Củng liền đọc:

Ba vạn anh hùng đè xuống dưới

Chín lần thiên tử đội lên trên.

Lại có lần Củng học gần một ngôi chùa. Nghe đồn sư trụ trì là người hay chữ, có tính ghét học trò, vốn lại thích dùng món mộc tồn, thường vùi nồi thịt ở bếp, ai hỏi thì bảo là món cà bung. Củng một bữa nọ đột ngột đi vào bếp nhà chùa thì bắt quả tang quả thực như lời đồn đoán. Củng vờ nói chuyện mưa, chuyện nắng mấy câu rồi cứ ngồi lần khần mãi không chịu đi ra, sư ông bực mình, đọc một câu:

- Khách khứa kể chi ông núc bếp 

Củng trỏ vào nồi thịt chó đọc lại :

- Trai chay gì đó vại cà sư! 

Sư ông thấy bị lộ chân tướng, hốt hoảng chỉ vào pho tượng gần đấy mà rằng:

- Xin chứng minh cho, Nam mô a di đà Phật

Củng trỏ vào bếp : 

- Có giám sát đó, Đông trù tư mệnh táo quân

Nhà sư mất bình tình, lên vẻ hợm hĩnh :

- Thuộc ba mươi sáu đường kinh, chẳng thần, thánh, phật, tiên, song khác tục.

Củng vặc lại :

- Hai tám vạn tư mặc kệ, không quân, thần, phụ, tử, đếch ra người!

Theo sách "Lãng nhân chơi chữ", ngày rằm hôm nọ, Công Trứ vào miếu Long thần thấy rượu thịt chúng sinh bày đầy ra đó, bèn sà vào đánh chén cho tới say mèm, nhìn tượng Long thần cứ ngỡ bạn rượu bèn nâng chén mời. Nhưng thấy Long thần không nhúc nhích nên vật cổ ra đổ rượu vào miệng rồi đánh mấy bạt tai. Sáng hôm sau tỉnh dậy mới biết mình sai, bèn viết:

Hôm qua trời tối tới chơi đây

Đánh phải Long thần mấy cẳng tay

Khi tỉnh thì nào ai có dám

Say!

(Bài: Đánh Long thần - thể loại thơ yết hậu)

Nguyễn Công Trứ học giỏi và tài hoa nổi tiếng, nhưng đi thi lại hỏng lên hỏng xuống. Nghe nói đền thờ bà chúa Liễu Hạnh rất thiêng, cầu được ước thấy. Cậu đồ Trứ đã đến cầu bà chúa phù hộ cho mình. Trứ hứa, nếu thi đỗ sẽ làm ba bò lễ tế.

Quả nhiên Nguyễn Công Trứ lần ấy đỗ giải nguyên. Nhớ đến lới hứa, nhưng nhà nghèo làm gì có ba bò mà lễ, nên Nguyễn Công Trứ lên đền bà chúa Liễu Hạnh bò vòng quanh ba vòng rồi nói:

- Tôi đã làm lễ chị đúng ba bò rồi đấy!

Nói rồi Nguyễn đứng dậy rũ áo ra về. Sau này, Nguyễn Công Trứ làm đến chức Tổng đốc tỉnh Đông, có lần võng cáng ông đi qua đền thờ bà Liễu Hạnh bị đứt quai suýt làm ông rơi xuống đất. Mọi người cho rằng do ông ngông nghênh nên bị bà chúa Liễu Hạnh quở phạt, còn Nguyễn Công Trứ thì vẫn không chịu hạ mình, tủm tỉm cười ứng khẩu trước cửa đền:

Mụ thần như rứa, nghịch thì thôi,

Suýt nữa làm ta thịch cái rồi,

Dẫu có linh thiêng đành phận gái

Lẽ nào châu chấu đấu ông voi.

Tay chơi sành điệu Nguyễn Công Trứ

Vũ trụ giai ngô phận sự

Chẳng công danh chi đứng giữa trần hoàn

Chí tang bồng hẹn với giang san

Đường trung hiếu chữ quân thân là gánh vác

Đã mang thân ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông.

Cái danh chính thức trong đời ông phải ”mang thân gánh vác”, tức nhiệm vụ  được xã hội giao phó là chức danh đại tướng, chức quan Tổng đốc tỉnh Đông, Doãn phủ Thừa Thiên, vv… Với những trọng trách được giao phó này, ông hoàn thành xuất sắc đến mức được đánh giá là nhà quân sự, nhà kinh tế lỗi lạc vua nể trọng, dân kính yêu; Còn cái danh khiến ông trở thành tay chơi sành điệu trong mắt thiên hạ là say hát Ca trù. Ông say đến độ đem cả môn hát Ả đào làm vũ khí đánh giặc và biến Ca trù thành sự thánh thiện, thanh cao nơi cửa đình chùa. Chính ông là người vực cho Ca trù sống lại, để sau này trở thành môn âm nhạc đài các, thanh lịch, lưu truyền vào nhân gian.

Chơi cho lịch mới là chơi

Chơi cho đài các cho người biết tay

Đã từng tắm gội ơn mưa móc

Cũng phải xênh xang hội gió mây

Nguyễn Công Trứ thật hoàn hảo. Văn võ song toàn thôi thì cổ kim xưa nay nhiều người cũng đã đạt được. Nhưng ăn chơi bản lĩnh theo kiểu Nguyễn Công Trứ, kết hợp hài hòa được cái sự lãng mạn nghệ sĩ vào với đức độ lượng từ của Bụt trong một con người, thì quả là mới thấy chỉ có Nguyễn Công Trứ. Kết quả cuộc chơi mà Nguyễn Công Trứ đã chơi, không chỉ đem đến cho dân cuộc sống hòa bình, no cơm ấm áo về mặt thể xác, mà còn no ấm cả về mặt tinh thần. Nếu không có Nguyễn Công Trứ sinh ra đúng lúc đúng thời để đem nhiệt huyết của mình giốc lòng phục sinh, thì Ca trù bây giờ chắc gì đã còn để mà xưng danh.

Sự tích Tổ cô đầu và công lao phục sinh làn điệu Ca trù của Nguyễn Công Trứ

Ở đầu đời Hậu Lê, ở làng Cổ Đạm, thuộc đất Hoan Châu (Nghi Xuân, Hà Tĩnh ngày nay) có người thanh niên khôi ngô tuấn tú tự là Nguyên Sinh, hiệu là Đinh Lễ, con nhà gia thế, tính tình phóng khoáng, thích ca hát. Một hôm, trong khi Đinh Lễ đang  dạo chơi nơi cửa biển Hội Thống , thì bỗng nhiên sóng dạt vào dưới chân một khúc gỗ rỗng ruột (1). Lễ cầm khúc gỗ đưa lên và bỗng nghe tiếng gió luồn vào phát ra những âm thanh du dương, bèn đem về chế thành cây đàn không đáy (2). Như là mệnh trời giao phó, những ngày tháng sau đó, Lễ  tự  sáng tác ra những làn điệu, rồi cùng cây đàn rong chơi ca hát, truyền bá âm nhạc rộng rãi khắp trong nhân gian.

Một hôm nọ, Đinh Lễ rong ruổi đến tận thôn Thường Xuân, châu Thanh Hóa và ngồi bên suối nước đàn hát. Dân chúng vây quanh say mê không rời. Quan châu lúc bấy giờ là Bạch Đình Sa, hiếm muộn, ngoài 40 tuổi mới sinh được một mụn con gái, tên là Bạch Hoa, tuy xinh đẹp nhưng chẳng may lại bị trúng phong cấm khẩu.

Người nhà quan châu tấu trình sự việc. Những muốn làm vui lòng con gái, Bạch Đình Sa bèn cho mời Đinh Lễ vào dinh đàn hát. Không ngờ khi tiếng đàn vừa cất lên, thì nàng Bạch Hoa bỗng nhiên bật tiếng khen hay, rồi sà xuống ngồi bên cạnh, dùng hai chiếc đũa gõ nhịp theo tiếng đàn hát. Cũng từ hôm ấy, nàng Bạch Hoa hết cấm khẩu. Quan châu nghĩ đó là duyên trời, nên quyết định gả con gái cho Đinh Lễ. Đêm tân hôn, Đinh Lễ viết ra điệu “Động phòng hoa chúc dạ”, rồi hai người đàn hát cùng nhau. Ba tháng sau thì giọng ca của nàng Bạch Hoa đã đến chỗ tuyệt kỹ. Hai người bèn xin phép quan châu, đem nhau về quê nhà của Đinh Lễ là làng Cổ Đạm và bắt đầu mở lớp chiêu mộ học trò để truyền bá.

Giai điệu của hai vợ chồng Đinh Lễ - Bạch Hoa được lưu truyền trong dân gian với tên gọi là “hát ả đào”, hay “hát cô đầu”, chính là Ca trù ngày nay. Theo “Việt Nam Ca trù biên khảo” cuả hai tác giả Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề, nguồn gốc tên gọi Ca trù là do thời ấy có lệ hát thẻ. Thẻ làm bằng tre ghi chữ đánh dấu dùng để thưởng cho ả đào. Thẻ ấy gọi là thẻ trù, mỗi thẻ trù ấn định giá trị  khoảng 2 tiền kẽm. Sáng ra giáo phường đem thẻ trù được thưởng đi lĩnh tiền, cho nên mới gọi là ca trù.

Khi mất, hai vợ chồng Đinh Lễ - Bạch Hoa được dân làng Cổ Đạm và các đệ tử lập đền thờ gọi là đền Tổ Cô Đầu và được triều đình sắc phong: Đinh Lễ là Thanh Sà đại vương, Bạch Hoa là Mãn Đào Hoa công chúa. Sau này đền thờ Tổ Cô Đầu được lập ở nhiều nơi, như Nam Định, Hưng Yên, Hà Đông. Hàng năm lễ tế Tổ cô Đầu được tổ chức vào ngày 11 tháng chạp.

Hát Ả đào sau đó được lan truyền rộng khắp tới các tỉnh Trung và Bắc Kỳ, là dòng ca nhạc chủ đạo ở đầu đời hậu Lê. Nhiều giáo phường được lập lên với tổ chức quản lý chặt chẽ, có đặt họ riêng của từng phường, có quản giáp đứng đầu, có truyền nghề ca kỹ và huấn luyện nghiêm minh về đạo đức tư cách, có sự đền ơn đáp nghĩa tới các bạc tiền bối trong phường. Nhưng rồi sau đó, năm Quang Thuận thừ 3 (1462), đời vua Lê Thánh Tông, không biết lý do chi đã ban bố lệnh cấm “con nhà hát tuồng, hát chèo, hát ả đào, nghịch đảng, ngụy quan, vẫn có tiếng xấu, thì mình và con cháu không được đi thi” (theo Việt Nam Ca trù biên khảo). Đến đời Hồng Đức, Quốc triều hình luật đã đề luật cấm người làm quan lấy con gái phương hát; đồng thời cấm con nhà phương hát không được ứng thi, khiến cho phường hát hầu như tan rã. Sự cấm đoán ấy dẫn đến việc Lộc khê hầu Đào Duy Từ vì xuất thân con nhà phường chèo không được ứng thi, đã uất ức bỏ vào Nam theo chúa Nguyễn, khiến cho ai ai cũng quy kết quan trường hẹp lượng, oán than. Đến đời vua Lê Dụ Tông (1706 – 1729), nhờ  bà Trương Quốc mẫu, vốn là một ca nương được tiến vào phủ Trịnh, được chúa Trịnh Cương yêu quý, đã bạo gan năn nỉ với chúa, từ đó lệ cấm con nhà hát mới được bãi bỏ. Tuy nhiên, phong trào hát ả đào lúc bấy giờ đã không còn mạnh mẽ như trước. Thời kỳ tiếp sau xã hội lại trở nên loạn lạc, rồi triều Nguyễn nổi lên ở Huế, đất Kinh Bắc không còn là chốn phồn hoa, hát Ả đào gần như tắt hẳn.

“Việt Nam biên khảo ca trù” chép: “Đời Minh Mạnh (1820 – 1840), có Nguyễn Công Trứ là tay tài hoa lỗi lạc, làm nhiều bài Hát nói, Mưỡu, Bắc phản, Hát ru”; Còn theo “Lãng nhân chơi chữ” (sách XB tại Sài Gòn năm 1962), Nguyễn Công Trứ sau khi đỗ đạt, được cử làm Tổng đốc tỉnh Đông, là người say mê ca hát, đã làm hồi sinh lại môn hát Ả đào lần thứ hai. Chính Nguyễn Công Trứ đã về làng Cổ Đạm, tìm lại những ca nương bấy lâu bị xã hội khinh khi, phải sống ẩn dật tản mát trong vùng, tập hợp họ lại, viết bài và tập cho họ hát, rồi đem theo ra Bắc, gầy dựng lại các phường hát ở Thăng Long, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình... Nhờ đó mà phong trào hát Ca trù ở miền Bắc được phục hồi trở lại, sau này trở thành môn hát sang trọng, cửa quyền của các làng chơi đất Thăng Long, duy trì kéo dài xuyên qua thời kỳ pháp thuộc, tới đầu thế kỷ XX. Trong bộ sưu tập khoảng trên dưới 200 bài Ca trù cổ còn lưu lại cho đến ngày nay, đề tên tác giả Nguyễn Công Trứ những tới 63 bài cũng đủ thấy sức ảnh hưởng to lớn của ông trong môn âm nhạc đại diện của nhân loại này. Có lẽ vì đó mà hàng năm trong ngày giỗ Nguyễn Công Trứ (14.11 âm lịch), các đền thờ ông ở làng Cổ Đạm (Nghi Xuân - Hà Tĩnh), Kim Sơn (Ninh Bình), Tiền Hải (Thái Bình) đều nhất loạt mở hội hát Ca trù để tưởng nhớ người anh hùng, vị thành hoàng bản xứ khiến cho dân được vui vầy no ấm này.

Suy nghĩ cá nhân: Các nhà khảo cứu về loại hình Ca trù kết luận rằng Ca trù có từ thời Lý (thế kỷ XII). Nhưng sự thực cho thấy giáo phường môn hát cổ điển này, hiện chỉ thờ phụng tổ nghề của họ là Đinh Lễ - Bạch Hoa ở thời Lê (thế kỷ XV)? Các nhà khảo cứu có lẽ đã nhầm lẫn, đem gộp tất cả các loại hình ca vũ, hát xướng trong cung đình qua các triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn vào cùng chủng loại với hát ả đào, khiến cho có sự mâu thuẫn về thời gian? Thực ra hát xướng của Triều Lý có hai dòng: một là hát múa có nguồn gốc của dân tộc Chăm, hai là hát tuồng của người Hoa. Đến đời Trần, Trần Quốc Khang và Trần Nhật Duật được sử sách ghi chép là những người đã sửa lại tiết tấu âm nhạc và sáng tác ra các điệu ca múa để phục vụ các lễ hội, yến tiệc cung đình. Tuy nhiên về tính chất, ca nhạc thời Lý, Trần là loại hình kết hợp ca – múa – nhạc cung đình. Hình thức trình diễn không giống Ca trù chỉ có đàn hát, không có vũ đạo, người hát phải sử dụng kép hai vai trò: chơi nhạc cụ và hát. Tôi cho rằng cần tách riêng Ca vũ cung đình Việt NamCa trù thành hai loại hình nghiên cứu riêng biệt mới đúng.

Câu chuyện Nguyễn Công Trứ đem Ả đào đi đánh giặc (Theo Việt Nam Ca trù biên khảo)

Chuyện tình của Công Trứ với cô đào Hiệu Thư, trong các giáo phường Ả đào ai ai cũng biết. Hiệu Thư là ca nương có nhan sắc nổi tiếng của đất Hồng Lam. Nguyễn Công Trứ vì mê Hiệu Thư, bèn lân la xin làm kép đàn cho cô. Một hôm, Công Trứ cố tình để bộ sênh phách của Hiệu Thư ở nhà, khi đến giữa đồng mới giả bộ rằng quên và sai tiểu đồng về lấy. Giữa đồng không mông quạnh khi ấy chỉ có hai người. Nhân cơ hội ấy, Nguyễn ôm chầm lấy nàng Hiệu Thư và chuiyện gì đến ắt phải đến. Sau hôm đấy ông bỏ đi không quay lại. Cho đến khi đã thành Tổng đốc tỉnh Đông, nhân ngày sinh nhật của mình, ông cho mời đào nương nổi tiếng các xứ đến đàn hát mở tiệc ăn mừng. Trong đám ca nương chợt có người  mưỡu rằng:

Giang sơn một gánh giữa đồng

Thuyền quyên ứ hự… anh hùng nhớ chăng?

Công Trứ giật mình sực nhớ chuyện cũ năm xưa, hỏi ra mới biết Hiệu Thư vẫn còn chờ đợi, bèn cưới làm lẽ. Khi ông nhận lệnh lên Cao Bằng dẹp giặc cướp, xa cách khiến ông mủi lỏng thương nhớ Hiệu Thư ở nhà phòng không chiếc bóng,  đã làm bài thơ Tương tư

Tương tư khôn biết nói làm sao

Muốn vẽ mà chơi vẽ được nào

Khi đứng khi ngồi khi nói chuyện

Lúc say lúc tỉnh, lúc chiêm bao

Trăng soi trước mắt ngờ chân bước

Gió thổi bên tai tưởng miệng chào

Một nước một non người một ngả

Tương tư khôn biết nói làm sao

Hiệu Thư nơi quê nhà giường như cũng thấu được nỗi lòng của công Trứ thương nhớ mình, nên đã lặn lội dặm trường lên tận miền núi xa xôi hẻo lánh thăm ông. Xót xa cho người vợ hiền vì mình mà thân gái dặm trường, ông lại viết:

Đành nhẽ bút nghiên mà kiếm mã

Thương ôi kim chỉ cũng phong trần

Có lẽ sự có mặt của nàng Hiệu thư đã khiến ông nghĩ ra mưu kế thắng giặc chăng? Một mặt ông cho quân giả làm lái buôn người Tàu để lân la mua chuộc quân giặc. Lính gác trại thì cho chọn toàn những người mặt mũi xanh xao ốm đói. Dàn trận xong rồi ông cùng với phụ tướng của mình là Nguyễn Tiến Lâm bày trò hát Ả đào vui chơi thâu đêm, khiến cho tướng cướp là Nùng Văn Vân tưởng nhầm Nguyễn Công Trứ chỉ là tay ăn chơi ham lạc thú. Tuần phủ Lạng Sơn cũng không hiểu ông, nghĩ rằng Công Trứ mải mê cô đào, không lo đánh giặc, bèn mật tấu về kinh. Tuy nhiên vua Minh Mạng lại rất hiểu Công Trứ, xem sớ xong lại phê: “Nguyễn Công Trứ tự thử sở hành, tất hữu biệt toán, quân lữ chi gian, bất khả dĩ phù ngôn dao động. tướng tâm, thính y xử trí. Khâm thử” (Nguyễn Công Trứ làm như thế tất có mưu khác, trong quân chớ nên nói phiếm để lay động lòng Đại tướng, cứ mặc y xử trí).

Công Trứ dặn quan coi kho lương khi nào chỉ còn 3 ngày ăn thì báo ông biết, rồi lại tiếp tục vui chơi đàn hát, tổ chức cho quân lính được no ấm an vui qua tết Nguyên đán. Quan coi kho lương y lệnh, tới khi còn 3 ngày lương thực mới báo cáo. Ông bèn ra lệnh cấp phát ngay cho lính hai ngày lương, rồi truyền lệnh xuất quân. Đêm ấy, ông lệnh cho “đám con buôn” bày trò ăn uống trong trại giặc rồi lén bỏ thuốc mê vào rượu, chuốc cho say hết rồi đem trói cả lại. Nùng Văn Vân khi ngộ ra sự tình thì quá muộn, bỏ chạy vào rừng, Công Trứ sai đốt rừng khiến y bị chết cháy. Sử triều Nguyễn chép rằng: “ khi Công Trứ khải hoàn trở về, nhân dân đón khắp hai bên đường, tiếng hoan hô vang mấy dặm. Vua Minh Mạng tự thân xuống thềm đón mừng và rót rượu ban thưởng”.

Năm minh Mạng thứ XIX (1838), ông lại được chuyển làm chủ khảo trường thi hương ở Hà Nội. Lệ trường thi khi ấy khoảng trong vòng một tháng xảy ra cuộc thi, các quan giám khảo đều không được ra ngoài. Nghĩ đến chuyện phải gò bó trong chốn thi cử, ông bèn cho hai ả đào gọt tóc, giả làm tiểu đồng theo vào phục dịch. Khiến cho các quan giám khảo đêm đêm vẫn nghe văng vẳng tiếng đàn hát mà không biết từ nơi đâu vọng lại.

Năm Tự Đức nguyên niên (1848) ông về hưu ở tuổi 70. Nhớ đến khi xưa còn là nho sinh trong thành Hà Tĩnh, ông thường lên chùa Đại Nại chơi và đã thầm hứa, nếu sau này thành danh sẽ không quên ngọn núi này. Ông bèn bỏ tiền ra tu sửa lại chùa, rồi làm mấy gian nhà tranh bên cạnh để vui thú tiêu khiển đọc sách, hát ca, trong nhà nuôi một bọn hát Ả đào, khiến cho chùa luôn luôn nhộn nhịp khách vào ra…

Cái “ngông” cuối cùng trong đời Nguyễn Công Trứ đó là, khi biết mình sắp mất, ông dặn con cháu rằng: không cần hòm vỏ, cứ để nguyên ông trên chõng với cái quạt nan và mấy cuốn sách rồi chôn cả xuống đất, cấm tiệt không được khóc than, sau ba ngày mới được thông báo cho nhân dân biết. Ông thương xót nhân dân còn nghèo, sợ rằng nếu báo sớm, những lại kéo nhau đến lễ lạt tiễn đưa linh đình gây nên sự hoang phí tốn kém. Sự “ngông” đặc biệt của bậc hiền tài biết khi nào nước Nam mới tái sinh con người như thế lần hai…

=======

Chú thích:

 (1).  Trong lời đối đáp trên, hai chữ nguyệt ghép lại là thành chữ bằng; hai chữ sơn ghép lại là thành chữ xuất. Hơn thế nữa, trong lời đối đáp này Cổ Nguyệt đường là quán văn chương của Hồ Xuân Hương; quê nhà của Nguyễn Du nằm dựa lưng dưới chân núi Hùng Sơn).

 (2). Sự tích trên viết theo truyện kể địa phương ở Nghi Xuân. Còn theo “Việt Nam Ca trù biên khảo”, thì câu chuyện có vẻ thần tiên kỳ bí hơn: khúc gỗ là do khi Đinh Lễ đi chơi vào rừng thông và được hai ông tiên tự xưng là Lý Thiết Quài và Lã Đại Tiên ban tặng đem về làm đàn. Sau khi truyền bá thành công môn hát cô đầu, thì hai ông tiên nọ lại bay xuống rừng thông và đón Đinh Lễ về trời.

(3). Nhân dân gọi là “vô đề cầm” (đàn không đáy), người Hán gọi là “đàn Việt”. Theo giải thích của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề  tại sách “Việt Nam Ca trù biên khảo”, do khi hát cửa đền, kép đàn thường dùng dải lụa đeo vào người cho đỡ mỏi. Chữ đáy là do chữ  đới, nghĩa là đeo đọc chệch, từ đó đàn còn gọi là đàn đáy.

Tư liệu sử dụng:

-  Hát ví phường vải – Ninh Viết Giao

-  Tập kiều, Đố Kiều, Đối Kiều – Phạm Đan Quế

-  Lãng nhân chơi chữ (sách xuất bản tại Sài Gòn 1962)

- Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử - Đoàn Tử Huyến chủ biên

- Việt Nam Ca trù biên khảo – Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề

- Đại Việt sử ký

- An Nam chí lược – Lê Tắc

- Hát phường vài Nam Đàn – Nguyễn Tất Thứ

Bến Giang Đình - nơi này khi xưa Nguyễn Du từng dựng lều viết thơ Kiều và là nơi hai vị Chí sĩ - văn nghệ sĩ Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ đã từng "chén rượu cuộc cờ" cùng nhau...

================================================ 


Để gửi ý kiến nhấp vào đây

Các tin khác:
 Thực hư của “Cột đồng Mã Viện” và “Tấu thư Cao Biền” (15h: 17-01-2015)
 Các nàng hằng nga tái thế ở La Giang làm thống lĩnh công tác hậu cần trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh của vua Lê Lợi (11h: 15-01-2015)
 Sự tích “Cá gáy hóa rồng” ở thác Vũ Môn liên quan đến lịch sử hai lần khởi đánh quân Nguyên Mông của nhà Trần. (00h: 11-01-2015)