Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
Những người con yêu nước, nhưng đối lập về tư tưởng đường lối cứu nước của đất Hồng Lam trong thời kỳ chống Pháp (1884 – 1954).
 
(22h: 09-03-2015)
Những người con yêu nước, nhưng  đối lập về tư tưởng đường lối cứu nước của đất Hồng Lam trong thời kỳ chống Pháp (1884 – 1954).Các giả thiết khảo luận của Phan Lan Hoa về " DẤU TÍCH NHÀ NƯỚC VIỆT THƯỜNG THỊ VÀ VAI TRÒ NGHỆ AN TRONG DÒNG LỊCH SỬ VIỆT NAM"
Phụ lục VI



 DẤU TÍCH NHÀ NƯỚC VIỆT THƯỜNG THỊ

VÀ VAI TRÒ NGHỆ AN TRONG DÒNG LỊCH SỬ VIỆT NAM

***

Phụ lục 6: Những người con yêu nước, nhưng đối lập về tư tưởng đường lối cứu nước của đất Hồng Lam trong thời kỳ chống Pháp (1884 – 1954).

***

Không thể kể hết trong một bài viết những nhân vật lịch sử của xứ An Tĩnh trong thời kỳ này, bởi vùng đất Hồng Lam, ngay từ những ngày đầu đã là cái nôi của các cuộc khởi nghĩa chống Thực dân Pháp. Nên tôi sẽ chỉ nhắc đến 4 nhân vật đặc biệt. Họ cùng có một điểm chung là trí thức và có trái tim yêu nước nồng nàn, khí phách anh hùng quật cường. Nhưng trong công cuộc tìm đường cứu nước, họ nảy sinh 5 luồng tư tưởng chính trị khác nhau, để rồi có người được coi là anh hùng dân tộc, người lại bị coi là kẻ phản bội Tổ Quốc? Có lẽ lịch sử cần phải công tâm hơn với họ!?

Bốn cái tên tôi muốn nhắc đến đó là: Phan  Đình Phùng, Phan Bội Châu, Trần Trọng Kim và Nguyễn Ái Quốc (thứ tự những cái tên tôi xếp theo thời gian lịch sử).

Phan Đình Phùng với Cuộc khởi nghĩa Cần Vương (1847 – 1895), sự  phò vương theo bản năng của một lãnh tướng người Việt Nam trong chế độ phong kiến.

Vương triều Nguyễn Xứ Huế là một vương triều mà các vị vua bị đặt giữa hai luồng tư tưởng chính trị mâu thuẫn, đối lập nhau. Các vị vua, người thì cầu viện Pháp, người thì có tư tưởng chống Pháp, rồi lại có người thuận tòng người Pháp. Vua Hàm Nghi  là vị vua thứ 8 trong triều đại này được Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường là những người có tư tưởng chống Pháp đã bày mưu lập ngôi năm ông 13 tuổi (1884). Sau khi cuộc phản công tại kinh thành Huế thất bại vào năm 1885, Tôn Thất Thuyết đưa ông trốn khỏi kinh thành chạy vào Quảng Trị rồi được Phan Đình Phùng đón về ẩn náu ở Phú Gia (Hương Khê – Hà Tĩnh). Tại đây, vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương  hô hào nhân dân chống thực dân Pháp.

Thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Cần Vương là Đình Nguyên tiến sĩ Phan Đình Phùng, hiệu là Châu Phong. Ông quê ở làng Đông Thái, Việt Yên Hạ (Đức Thọ - Hà Tĩnh). Ngôi làng sinh ra Phan Đình Phùng là một ngôi làng rất nổi tiếng về khoa bảng, được gọi là làng tiến sĩ, có người nói rằng danh sách tiến sĩ của làng dài hơn danh sách học sinh phổ thông. Trong làng có dòng họ đỗ đạt trên đại học gần hết cả họ; có dòng họ được nhà nước tặng thưởng huân chương lao động vì có công với đất nước.  Gia đình họ Phan là một gia đình Nho học. Cha của Phan Đình Phùng là cụ Phó bảng Phan Đình Tuyến, bác ông là chí sĩ Phan Đình Thông, chú ông là Phó bảng Phan Đình Vận và anh trai ông là Cử nhân Phan Đình Thuật.

Phan Đình Phùng là người trước đó có mâu thuẫn với Tôn Thất Thuyết, từng bị Tôn Thất Thuyết cách chức đuổi về quê. Nhưng khi cần để bảo vệ vua, bảo vệ Tổ Quốc, ông đã dẹp mâu thuẫn cá nhân, bắt tay cùng Tôn Thất Thuyết để quyết tử với người Pháp, một lòng phò vua. Ông đã đưa vua Hàm Nghi đến Phú Gia (Hương Khê – Hà Tĩnh) bằng “con đường thượng đạo”. Lập căn cứ Cần Vương ở vùng rừng rậm nguyên sinh Vụ Quang, để chuẩn bị lực lương kháng chiến. Suốt mười năm (1885-1896), bất chấp mọi hiểm nguy, gian khổ, cuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng lãnh đạo đã giao chiến với Pháp nhiều trận, và đã gây cho đối phương nhiều tổn thất nặng nề, tiêu biểu nhất là trận Vụ Quang vào năm 1894.

Cũng tại làng Đông Thái, phía tư tưởng đối lập, thuận tòng người Pháp có Hoàng Cao Khải, hiệu là Thái Xuyên. Đỗ cử nhân ân khoa năm 1868 cùng khóa thi với Phan Đình Thuật, sau này làm tới chức Khâm sai Kinh lược Bắc Kỳ, tước Duyên Mậu quận công (1890), Thượng thư Bộ Binh và làm phụ chính đại thần cho vua Thành Thái, hàm Thái tử Thái phó, Văn minh điện Đại học sĩ.

Khi cuộc khởi nghĩa Cần Vương xảy ra, Hoàng Cao Khải lấy tình bạn bè, làng xóm, viết thư chiêu hàng gửi Phan Đình Phùng, nhưng ông không nghe, quyết tử thủ với người  Pháp. Lúc này, Nguyễn Thân cũng là bạn cùng khoá ứng thi với Hoàng Cao Khải và cũng là người có tư tưởng phục tùng người Pháp, nhân cơ hội để trả mối tư thù, đã bày mưu cho người Pháp đào bới mồ mả ông cha Phan Đình Phùng để hòng uy hiếp tinh thần ông, nhưng được Phan Đình Phùng trả lời rằng: Làm nghĩa lớn mà vì tình riêng thì có một ngày giặc Pháp không chỉ đào mồ mả cha ông mình, mà sẽ đào mồ chôn tất thảy người Việt…

Và ông đã quyết tử, dứt khoát không chịu đầu hàng. Cho đến năm 1893, khi Cao Thắng, người Sơn Lễ (Hương Sơn),  là con nuôi trong gia đình Phan Đình Thuật anh trai Phan Đình Phùng, một vị tướng giỏi nhất trong số cấp dưới của Phan Đình Phùng bị hy sinh. Sự hy sinh này khiến cho sau đó quân của Phan Đình Phùng suy yếu dần. Vua Hàm Nghi bị bắt và bị đày sang Angieria. Còn Phan Đình Phùng lúc này bị thương rất nặng. Biết không thể cầm cự, để bảo toàn mạng sống cho các binh sĩ, ông cho người đưa thư gửi Nguyễn Thân, giả bộ đồng ý đầu hàng với điều kiện phải để cho các nghĩa quân được trở về quê an toàn. Nguyễn Thân đồng ý. Phan Đình Phùng cho giải tán binh sĩ dặn dò họ trốn đi tìm nơi an toàn để mưu sinh cuộc sống mới, còn ông thì tự vẫn, quyết không để rơi vào tay Nguyễn Thân. Cho nên khi Nguyễn Thân vào được tới sào huyệt của Phan Đình Phùng thì chỉ còn nấm mộ. Nguyễn Thân vô cùng tức giận, cho đào mộ lên tán nhỏ hài cốt trộn với thuốc súng bắn xuống sông La. Thân nhân của Phan Đình Phùng sau đó bị Nguyễn Thân bắt bớ sát hại, những người họ Phan trốn thoát, một số hiện cư ngụ trên đất Lào và Thái Lan.

Thật là một kết cục đau lòng cho một dòng họ Nho sinh, những chí sĩ yêu nước! Phan Đình Phùng mang phong cách của một lãnh tướng thời phong kiến, phò vua vô điều kiện, đã không nghĩ đến chính triều Nguyễn đã mở đường cho quân đội Pháp vào Việt Nam. Trong những cuộc chiến tranh kiểu này, cầu viện ngoại bang cũng tự người Việt, tương tàn lẫn nhau chính là người Việt tự gây oán thù cho nhau. Những con người có chí lớn, mỗi người yêu nước  theo một kiểu khác nhau. Và khi không trùng nhất tư tưởng thì quay lại một mất một còn với nhau, dù cho trước đó là bạn, là cùng xóm làng, thậm chí có những người anh em trong một nhà lại gây nên cảnh oan trái ở hai chiến tuyến.  Hoàng Cao Khải và Nguyễn Thân sau đó bị nhân dân trong vùng coi khinh, óan thù, nhiều bài vè, ví, thơ văn ca ngợi Phan Đình Phùng và chế nhạo Hoàng Cao Khải được lan truyền trong nhân dân. Nhưng đó là chuyện Hoàng Cao Khải. Còn họ Hoàng ở Tùng Ảnh, theo thời gian vẫn là một dòng họ có công với Tổ Quốc, từng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương lao động.

          Một câu chuyện cảm động về tình Quân – Dân, đã thăng hoa thành một lễ hội truyền thống duy trì 129 năm nay (1885 – 2014) ở xã Phú Gia (Hương Khê – Hà Tĩnh). Theo sử liệu Hà Tĩnh ghi chép: vào năm 1885, vua Hàm Nghi đặt đại bản doanh tại Phú gia, hạ chiếu Cần vương để kêu gọi toàn dân đứng lên chống Thực dân Pháp. Trong một đêm nghỉ tại Thành Sơn Phòng, vua được báo mộng điều gì đó, khi tỉnh dậy liền hạ chiếu ban tặng sắc phong để thờ tại miếu Trầm Lâm gồm: Hai thanh bảo kiếm, áo hoàng bào, voi vàng, nghê đồng, lục lạc bằng đồng và các đạo sắc bằng giấy bản. Kể từ đó, người dân Phú Gia  đã bảo vệ và gìn giữ đạo sắc bằng “Lễ hội rước Sắc” hàng năm, vào ngày mùng 7 tháng giêng. Các dòng họ trong làng được thay phiên nhau làm Chủ Đạo với thời hạn một năm. Chủ Đạo được quyền giữ báu vật của vua ban trong một nhiệm kỳ (một năm). Việc bình bầu Chủ đạo được thực hiện bằng thủ tục xin keo tại nơi vua Hàm Nghi ban Sắc là đền Trần Lâm. Sau khi làm thủ tục xin keo, là lễ rước Sắc.  Báu vật nhà vua được rước đi qua đền Trầm Lâm, sang đền thờ Vua Hàm Nghi, rồi đến đền Công Đồng để làm Lễ khai hạ. Cố Đạo đi trước đoàn rước, vừa đi vừa hát sắc bùa, vợ Cố Đạo đội báu vật theo sau, các chức sắc, bô lão trong làng theo sau kiệu rước Sắc. Hai bên đường rước Sắc đi qua, nhân dân dâng hương hoa và các lễ vật chào đón, thể hiện sự tôn kính đối với vị vua yêu nước. Dưới đây là một số hình ảnh lễ hội trích từ huongkhehatinh.gov.vn:

          Phan Bội Châu với “Duy Tân Hội” và “Phong trào Đông Du”

Phan Bội Châu, hiệu là Sào Nam (1867-1940), quê ở làng Đan Nhiễm (Nam Đàn- Nghệ An). Thuở thiếu thời ông là một Nho sĩ mê hát phường vải, ông cùng với o Diên đã làm nên tên tuổi của phường hát Nam Đàn trong dòng dân ca Ví Giặm Nghệ Tĩnh. Nhưng vì sự nghiệp cứu quốc. Một đêm nọ, sau buổi hát, thấy Sào Nam về sớm, o Diên tiễn ra đến đầu đê, Sào Nam đã nói lời từ biệt o Diên để ra đi. Còn o Diên,  thì đã “nhất tâm đợi bạn”, Sào Nam không về, o Diên không lấy chồng, trọn đời với câu ví “Nước chảy thì đá trôi nghiêng / Chàng lo chung thiên hạ, thiếp sâu riêng một mình”.

Năm 17 tuổi, Phan Bội Châu viết bài "Hịch Bình Tây Thu Bắc" đem dán ở cây đa đầu làng để hưởng ứng phong trào chống Pháp. Năm 19 tuổi (1885), ông cùng Trần Văn Lương lập đội “Sĩ tử Cần Vương” để kháng pháp gồm 60 người. nhưng bị giặc Pháp ráo riết khủng bố nên đã giải tán. Sau đó, năm Canh Tý (1900), ông ứng thí ở trường thi Nghệ An và đậu Giải Nguyên (tiến sĩ).

Thế kỷ này, những người con của miền đất Hồng Lam ra đi tìm đường cứu nước, không chỉ có Nguyễn Ái Quốc, mà còn có những Phan Bội Châu, Trần Trọng Kim. Tuy nhiên trên con đường chính trị đầy gai chông này, mỗi người đều có tư tưởng đường lối khác nhau. Có sự vấp ngã của Phan Bội Châu là có thêm kinh nghiệm lựa chọn cho Nguyễn Ái Quốc bước tiếp. Phan Bội Châu sau đó, năm 1904 đã cùng Nguyễn Hàm và 20 đồng chí khác thành lập “Hội Duy Tân”, chọn Ngoại hầu Cường Để, là người thuộc dòng dõi Nhà Nguyễn làm hội chủ. Năm 1905, ông cùng Tăng Bạt Hổ, Đặng Tử Kính trốn sang Trung Quốc rồi sang Nhật để cầu viện Nhật giúp Duy Tân đánh Pháp. Tại Nhật, ông được hai nhân vật quan trọng của Đảng Tiến Bộ lúc bấy giờ đang cầm quyền tại Nhật là Bá tước Okuma Shigenobu và Thủ tướng Inukhai Tsuyoshi khuyên là nên đưa thanh niên trong nước ra nước ngoài để học tập để làm nòng cốt cho cuộc cách mạng. Tại Nhật ông đã viết “Việt Nam vong quốc sử” nhằm thức tỉnh lòng yêu nước của thanh niên ở quê nhà. Tháng 8 năm 1905, Phan Bội Châu và Đặng Tử Kính về Hà Tĩnh, tập hợp nòng cốt Duy Tân Hội bàn bạc kế hoạch hành động và hội đã đi đến  3 quyết định quan trọng:

-       Nhanh chóng đưa Ngoại hầu Cường Để ra nước ngoài.

-       Lập các hội nông, hội buôn, hội học để tập hợp quần chúng và để có tài chánh cho hội.

-       Chọn một số thanh niên thông minh hiếu học, chịu được gian khổ, đưa đi học ở nước ngoài

Nhiệm vụ thứ 3 được gọi là “Phong trào Đông Du”. Sau khi phát động đã được đông đảo người dân ở cả ba kỳ tham gia và ủng hộ, nhất là ở Nam Kỳ. Tháng 10 năm 1905, Phan Bội Châu trở lại Nhật Bản cùng với ba thanh niên. Sau đó là 45 người nữa. Năm1906, đưa Ngoại hầu Cường Để qua Nhật, nhập học trường Chấn Võ. Suốt từ đó cho đến năm 1908, số học sinh Việt Nam sang Nhật Bản du học lên tới 200 người. Ở Nhật, họ cùng sinh hoạt chung trong một tổ chức có quy củ gọi là “Cống hiến hội”.

Năm 1908, phong trào chống sưu thuế của nhân dân Việt Nam nổi lên khắp nơi. Thực dân Pháp ra sức đàn áp. Nhiều thành viên của Duy Tân Hội bị bắt, trong đó có Nguyễn Hàm, Hoàng Quang Thanh, Đặng Bỉnh Thành. Lúc này, chính phủ Nhật và Pháp ký hiệp ước đồng minh, buộc Nhật phải trục xuất du học sinh của Việt Nam. Cường Để và Phan Bội Châu đem các hội viên tìm về Quảng Châu – Trung Quốc lập căn cứ địa ở Bạn Thầm (Xiêm La), dùi mài kinh sử và luyện tập võ nghệ để chuẩn bị cho một kế hoạch phục quốc mới. Tới tháng 6.1912, Phan Bội Châu quyết định giải tán “Duy Tân Hội” và thành lập “Việt Nam Quang Phục Hội”, thay đổi tư tưởng chính trị từ Chủ Nghĩa Quân Chủ sang Chủ Nghĩa Dân Chủ. Ngoại hầu Cường Để vẫn đóng vai trò Chủ tịch chính phủ lâm thời Việt Nam Quang Phục Hội. Một số viên chức Pháp và những công sự đắc lực của người pháp bị trừ khử bởi phong trào này.  Trong đó có vụ Chí sĩ Phạm Hồng Thái quê ở Nghệ An giả dạng ký giả làm sát thương vị Toàn quyền Đông Dương Martial Henri Merlin tại khách sạn Victoria tại Quảng Châu ngày 19.6.1924. Phan Bội Châu và Cường Để bị Thực dân Pháp kết án tử hình vắng mặt.

Năm 1913, Thực dân Pháp mặc cả với chính quyền Quảng Đông và Phan Bội Châu bị bắt. Tháng 2.1917,  ông được giải thoát. Ra tù ông lại tiếp tục sự nghiệp cứu quốc. Lúc này Phan Bội Châu định cải tổ “Việt Nam Quang Phục Hội” thành “Đảng Quốc Dân Việt Nam”. Năm 1922, Nguyễn Ái Quốc đang làm Ủy viên Đông phương bộ, phụ trách Cục phương Nam của Quốc Tế Công Sản đã liên hệ khuyên Phan Bội châu thay đổi theo hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, nhưng chưa kịp cải tổ thì ngày 30.6.1925 ông bị bắt và bị giam lỏng ở Huế cho đến hết đời. Người xứ Huế gọi Phan Bội Châu là Ông Già Bến Ngự. Biết mình không còn cơ hội, Phan Bội Châu đã viết một bức tâm thư gửi gắm sự nghiệp cứu quốc cho người đồng hương trẻ tuổi Nguyễn Ái Quốc. (Link bài viết: Hai bức tâm thư gửi Hồ Chí Minh của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh)

Trần Trọng Kim với “Chính phủ Đế Quốc Việt Nam”

Thủ tướng chính phủ “Đế Quốc Việt Nam” là Trần Trọng Kim (1883 – 1953). Ông sinh ra ở làng Kiều Linh (Nghi Xuân – Hà Tĩnh). Là một học giả danh tiếng, tác phẩm nổi tiếng nhất của Trần Trọng Kim là “Việt Nam Sử Lược”.

Xuất thân trong một gia đình Nho giáo, trước học chữ Hán, sau học ở trường Pháp-Việt tại Nam Định. Năm 1900, Trần Trọng Kim thi đỗ vào Trường thông ngôn. Năm 1904, ông làm Thông sự ở Ninh Bình sau đó tham dự đấu xảo. Năm 1905, ông qua Pháp, học trường Sư phạm Melun và tốt nghiệp năm 1911. Về nước, Trần Trọng Kim trở thành một nhà giáo mẫu mực và có uy tín. Ông lần lượt dạy Trường trung học Bảo hộ (Trường Bưởi), Trường Hậu bổ và Trường nam Sư phạm. Ông là Phó trưởng ban Ban Văn học của “Hội Khai trí Tiến Đức” và Nghị viên “Viện Dân biểu Bắc Kỳ”.

Cuộc đời với nghề giáo tưởng đã bình lặng, thì chợt đến buổi về hưu nhàn nhã điền viên, cuộc đời ông lại có biến cố. Năm 1943, Nhật kéo vào Đông Dương và bí mật đưa Trần Trọng Kim cùng Dương Bá Trạc ra nước ngoài. 2 năm sau (1945), ông được đưa về nước. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm thuộc địa Đông Dương. Với ý đồ tranh thủ sự ủng hộ của người Việt, cũng như những nước đang bị Nhật chiếm đóng khác như Philippines, Myanmar. 

Nhật bất ngờ tuyên bố "trao trả độc lập" cho Việt Nam. Theo đó, ngày 11 tháng 3 năm 1945, Triều đình Huế tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam. Tiếp đến là Trần Trọng Kim được giao thành lập nội các vào ngày 17 tháng 4 năm 1945. Tháng 6.1945 tuyên bố Nhà nước Đế Quốc Việt Nam, với quốc kỳ là nền vàng, ở giữa có quẻ ly màu đỏ, quốc ca là bài “Đăng đàn cung” và Thủ tướng chính phủ Đế Quốc Việt Nam là Trần Trọng Kim. Nội các chính phủ gồm một giáo sư, hai kỹ sư, bốn bác sĩ, bốn luật sư, đều là các nhà trí thức có tên tuổi trong xã hội thời bấy giờ. Chính phủ của Trần Trọng Kim thực tế vẫn nằm dưới sự bảo hộ của quân đội Nhật chiếm đóng Đông Dương. Vì vậy, nhiều người cho rằng đây chỉ là một chính phủ bù nhìn thân Nhật, không có thực quyền và không có được sự ủng hộ của dân chúng.

Sai lầm của Trần Trọng Kim là ông chủ trương Chính phủ Việt Nam Đế Quốc không thành lập bộ quốc phòng, không thiết lập quân đội để tránh phải tham gia chiến tranh thế giới thứ II với tư cách đồng minh của Nhật Bản. Do đó, ông không có quân đội để tiếp tục duy trì an ninh, nên Việt Minh có điều kiện thuận lợi để cướp chính quyền.

Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng nhận định về chính phù của Trần Trọng Kim: "…Với an ninh, quốc phòng và kinh tế tài chính đều nằm trong tay quân đội Nhật, tất cả những gì mà chính phủ Trần Trọng Kim có thể đạt được trong việc giành lại chủ quyền cho Việt Nam thực tế là chỉ có tính cách biểu tượng. Nhưng trong tình huống Đông Dương vào năm chót của thế chiến thứ hai, biểu tượng đóng một vai trò rất quan trọng. Biết rằng thất bại của Nhật Bản chỉ là một vấn đề thời gian, Trần Trọng Kim và chính phủ của ông đưa ra một chương trình nhằm thay đổi tâm lý người Việt đến mức mà đất nước sẽ không thể trở lại tình trạng thuộc địa nữa một khi chiến tranh chấm dứt...".

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, nhưng vẫn không chịu trao trả toàn bộ chủ quyền đất nước lại cho chính quyền Đế quốc Việt Nam. Mãi đến tháng 7-1945, sau nhiều cuộc thương lượng, viên toàn quyền Nhật là Tsuchihashi mới chịu bàn giao 3 thành phố cho Trần Trọng Kim là Hà Nội, Hải Phòng và Ðà Nẵng. Nhưng chính phủ Đế Quốc Việt Nam chỉ tồn tại được đến ngày 23 tháng 8 năm 1945 thì sụp đổ khi quân Nhật đầu hàng Đồng Minh.

Trong thời gian ngắn ngủi làm người đứng đầu chính phủ, Trần Trọng Kim cũng đã kịp làm được hai việc vô cùng quan trọng, đáng ghi nhận vào lịch sử, đó là:

- Thống nhất về mặt danh nghĩa đất Nam Kỳ vào đất nước Việt Nam; và thay chương trình học bằng tiếng Pháp sang chương trình học bằng tiếng Việt, do học giả Hoàng Xuân Hãn biên soạn. (Hoàng Xuân Hãn cũng là người con của đất Hồng Lam, ông quê ở Yên Hồ - Đức Thọ - Hà Tĩnh, là người soạn thảo và ban hành Chương trình Trung học Việt Nam đầu tiên.)

-  Đem được một lượng gạo khá lớn từ miền Nam, cứu đói nhân dân miền Bắc trong nạn đói năm 1945.

Sau khi Việt Minh giành được chính quyền. Trần Trọng Kim lưu vong sang Hồng Kông, Ngày 6 tháng 2 năm 1947, người Pháp bố trí cho ông trở về Sài Gòn với mục đích vận động thành lập chính phủ mới, nhưng Trần Trọng Kim nhận ra rằng những lời hứa hẹn của người Pháp là giả dối nên ông quyết định từ chối. Cuối đời ông sống ở Đà Lạt cho đến khi mất.

Cuộc khởi nghĩa Xô viết Nghệ Tĩnh và sự thắng lợi của Nguyễn Ái Quốc.

Dài dòng sẽ là thừa, tôi chỉ kể những cái tên thôi, bởi toàn dân Việt Nam ai cũng biết rất rõ về cuộc đời và sự nghiệp đấu tranh kiên cường của những nhân vật lịch sử mang sứ mệnh giải phóng dân tộc này, đó là: Trần Phú – Tổng bí thư thư nhất ĐCSVN, Lê Hồng Phong – Tổng bí thư thứ hai, Hà Huy Tập – Tổng bí thư thứ ba, Hồ Chí Minh – chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Lý Tự Trọng, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Thị Quang Thái, vv… những chí sĩ yêu nước đã chọn được đường lối phù hợp với thời cuộc để đi đến giải phóng dân tộc - là những người phất lên ngọn cờ chiến thắng. Và hơn hết, họ là những người con của đất Hồng Lam…

          =========================================


Để gửi ý kiến nhấp vào đây

Các tin khác:
 Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ - Hai con chim đầu đàn, có công lớn trong việc phát triển và bảo tồn hai di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại: Ca trù và Ví dặm. (12h: 13-02-2015)
 Thực hư của “Cột đồng Mã Viện” và “Tấu thư Cao Biền” (15h: 17-01-2015)
 Các nàng hằng nga tái thế ở La Giang làm thống lĩnh công tác hậu cần trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh của vua Lê Lợi (11h: 15-01-2015)
 Sự tích “Cá gáy hóa rồng” ở thác Vũ Môn liên quan đến lịch sử hai lần khởi đánh quân Nguyên Mông của nhà Trần. (00h: 11-01-2015)