Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
Cuộc chiến Việt – Chăm trong lịch sử và nghi vấn về sự tích Đế Minh Thần Nông
 
(11h: 02-04-2015)
Cuộc chiến Việt – Chăm trong lịch sử và nghi vấn về sự tích Đế Minh Thần NôngCác giả thiết khảo luận của Phan Lan Hoa về "DẤU TÍCH NHÀ NƯỚC VIỆT THƯỜNG THỊ VÀ VAI TRÒ NGHỆ AN TRONG DÒNG LỊCH SỬ VIỆT NAM"
***
Nguồn ảnh sưu tầm: baonghean.vn & baohatinh.vn


DẤU TÍCH NHÀ NƯỚC VIỆT THƯỜNG THỊ 

VÀ VAI TRÒ NGHỆ AN TRONG DÒNG LỊCH SỬ VIỆT NAM

***

Phụ lục 7: Cuộc chiến Việt – Chăm trong lịch sử và nghi vấn về sự tích Đế Minh Thần Nông

***

Có thể trong nội dung trình bày của tôi, chưa thể giải quyết ổn thỏa các mâu thuẫn. Nhưng tôi cần thiết phải nói cho hết các nghi vấn của mình. Bởi tôi nghĩ các nhà nghiên cứu về đề tài Văn hóa Lịch sử Việt Thường sau này cần có càng nhiều càng tốt những dấu hỏi, những giả thiết được đặt ra để truy vấn sự kiện một cách chủ thể và kỹ càng hơn.

Lắm lúc tôi rất phân vân về câu chuyện truyền thuyết chép trong Lĩnh Nam trích quái: “…Thần Nông tên là Đế Minh, sinh ra Đế Nghi, rồi đi nam tuần đến Ngũ Lĩnh, gặp được nàng con gái Vụ Tiên đem lòng yêu mến mới cưới về, sinh ra Lộc Tục, dung mạo đoan chính, thông minh túc thành. Đế Minh lấy làm lạ, cho nối ngôi vua; Lộc Tục cố nhường cho anh, Đế Minh lập Đế Nghi làm tự quân cai trị phương Bắc, phong Lộc Tục làm Kinh Dương Vương cai trị phương Nam, đặt quốc hiệu là Xích Quỷ Quốc...”.

Khi xác định được Ngũ Lĩnh chính là Ngũ Mã, là nhánh Bắc của dãy Hồng Lĩnh, thì dấu hỏi đặt ra: Liệu có phải sự cắt chia này chính là chia giang sơn của Thần Nông thành hai quốc gia Việt -  Chăm? Bởi trên thực tế biên giới lâu đời của hai nước kể từ thời kỳ trước CN cho đến thế kỷ thứ nhất sau CN là núi Lĩnh Nam (Quỳnh Viên Nam Giới). Cách Ngũ Lĩnh một cửa biển nơi sông Hà Hoàng (cửa Sót) đổ ra. Cái bắc nam phân định ranh giới ở trong sử sách chép rõ ràng là bắc nam bờ sông Hà Hoàng, Hà đồ cũng là nhìn thấy trên sông Hà Hoàng, chứ không phải sông Hoàng Hà như người ta mới hiệu chỉnh gần đây. Mà tên sông Hà Hoàng thì cả thế giới chỉ có một duy nhất ở Hà Tĩnh thôi. Và như các chương trước tôi có nói rằng hai dân tộc Chăm – Việt có cùng một tổ tiên ở thời tiền sử, cụ thể là kết quả khảo cổ cho thấy đều là chủng người Australoid. Sự kiện này rõ ràng khác hẳn với nghi vấn tổ tiên người Việt ở sông Dương Tử. Bởi vùng sông Dương Tử thuộc chủng người Mongoloid, không trùng với kết quả khảo cổ của vùng lõi Đông Sơn cho thấy đại đa số di cốt là chủng người Australoid. Chưa hết, không chỉ là tôi nghi vấn các vị vua Hùng sinh ra trên đất thủy tổ của người Chăm, mà trên thực tế lịch sử chứng minh về sau, nhiều vị vua Việt cũng được sinh ra trên đất thủy tổ của người Chăm như Mai Hắc Đế, Bố cái đại vương Phùng Hưng, Ngô Quyền, Lý Nam Đế, vv… Hơn thế nữa, vùng đất cư ngụ của người Chăm trong lịch sử cũng nhiều lần được hiểu là đất Việt Thường?

                            

Thời tiền sử rõ ràng là anh em ruột thịt. Khi thành quốc gia thì quyền lực lấn át tình nghĩa nên xảy ra đánh nhau. Chuyện anh em tranh giành đất đai của nhau không có gì lạ, cũng xảy ra nhiều lắm trong lịch sử loài người. Nhưng cái khác của hai dân tộc Việt – Chăm là sau những xung đột, rốt cuộc lại quy về một mối như ngày nay. Kết cục có hậu này “âu cũng nhờ tổ tông linh thiêng lặng thầm phù trợ” chăng?

Những địa danh và những cái tên nhân vật được nhắc đến trong Lĩnh Nam trích quái đều quy tụ một cách đầy đủ ở vùng đất dưới chân núi Hồng Lĩnh. Kết quả này, bờ sông Dương Tử không thể nào có được. Đặc biệt là hiện tượng trùng khớp giữa truyền thuyết với kết quả khai quật của các nhà khảo cổ học. Giả thiết này của tôi đi đến một kết luận:

- Đế Minh Thần Nông là bố đẻ của hai tộc người Việt – Chăm!

Vị Thủy tổ kính yêu của hai tộc người Việt - Chăm có lẽ vẫn còn đó nguyên sơ xương cốt, là một trong những hình hài được nhìn thấy ở hang Đồng Trương, hang Rú Bò, thuộc huyện Anh Sơn tỉnh Nghệ An? Quả là phúc đức thiên hạ khó suy bì, trải qua gần 5000 năm thăng trầm lịch sử, đất mẹ linh từ vẫn âm thầm bảo tồn di chứng vật chứng để chứng minh cội nguồn tổ tông!

Khi sáng tỏ được vấn đề, tộc Việt, tộc Chăm sẽ có cơ sở đòi lại các thành tựu văn hiến vĩ đại, những trang sử hào hùng bị tráo trở, bị bán rẻ, bị đánh cắp...

                       

                                              

Cuộc chiến dành độc lập của Lý Nam Đế (503-548):

Hiện lịch sử ghi chép không thống nhất quê quán Lý Nam Đế ở đâu? Nhưng cuộc khởi nghĩa dành độc lập của ông được khởi đầu trên đất An Tĩnh. Sách An Tĩnh cổ lục - HIPPOLYTE BRETON, ( tr.251) chép:“…Đầu thế kỷ thứ VI, một người An Nam tên là Lý Bôn (Lý Nam Đế) chỉ huy quân đội của Cửu Đức (An Tĩnh) kêu gọi đồng bào nổi dậy đánh đổ ách đô hộ của người Tàu. Năm 544, Lý Bôn xưng Nam Việt Hoàng đế, tức là Hoàng đế của Nam Việt (Nam Việt gồm có Đàng Ngoài và miền Bắc Trung Kỳ) và lập nên triều Tiền Lý (544-602) và đặt tên nước là Vạn Xuân.”

Biên giới phía nam của nước ta đến thời Tiền Lý vẫn giữ nguyên là núi Quỳnh Viên Nam Giới.  Khi quân nhà Lương tháo chạy, Lý Nam Đế đã đuổi ráo riết đến gần Phiên Ngung, thì hay tin quân Lâm Ấp quấy phá biên giới phía nam Vạn Xuân. Lý Nam Đế bèn vội kéo quân về đánh đuổi. Thừa thắng, Lý Nam Đế đuổi quân Lâm Ấp qua khỏi đèo Ngang và ấn định biên giới phía Nam của nước Vạn Xuân tại đó.

Cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan (713-722)

An Tĩnh cổ lục- HIPPOLYTE BRETON, (tr.252) chép:  “…Trong thế kỷ VII, người mà quân Tàu đặt tên là "Vua Đen" (Mai Hắc Đế) đã gây ra một cuộc chống xâm lược quy mô lớn và đóng đô ở Hoan Châu (An Tĩnh) nhưng cũng không được bao lâu. Vị Hoàng đế ấy giữ ngôi một thời gian ngắn. Ông quê ở Hà Tĩnh ngày nay và có lẽ là gốc người Champa…”

Suy đoán Mai Thúc Loan là người Chăm Pa của ông Le Breton là có cơ sở, bởi lịch sử Việt Nam cũng ghi chép rằng, khi Mai Thúc Loan khởi nghĩa, đã được người Lâm Ấp, Chân Lạp hưởng ứng nhiệt liệt. Mai Thúc Loan quê ở làng Mai Phụ, dưới chân núi Quỳnh Viên thuộc dãy núi Nam. Nhưng ông lớn lên ở đất Nam Đàn, nên khi cầm quân khởi nghĩa, đã lập kinh đô là Vạn An ở dưới chân núi Đụn thuộc đất Nam Đàn.

Ở đây cần phải nói thêm một sự nhầm lẫn trong lịch sử Việt Nam: Đồng hương với Mai Thúc Loan còn có Bố cái đại Vương Phùng Hưng  và Ngô Quyền mà các ghi chép hiện nay cho rằng quê ở làng Đường Lâm – Phong châu (Ba Vì – Hà Tây)? Gần đây, tác giả Lê Thanh Tùng trong bài “Thạch Hà quê hương của ba vị vua” đã chứng minh bố của Phùng Hưng là Phùng Hạp Khanh từng  tham gia khởi nghĩa Mai Thúc Loan ở Nghệ An. Và ở thời đó, tên làng Đường Lâm ở Ba Vì chưa có. Phả tộc của họ Phùng và họ Ngô cũng chứng minh hai họ này từng mấy đời nối nhau làm châu mục ở Đường Lâm – Phúc Lộc (Thạch Hà – Hà Tĩnh ngay nay).

          (An Tĩnh cổ lục - HIPPOLYTE BRETON, tr.251) chép: “…Đầu thế kỷ III, ba lần khác nhau, người Champa đã xâm nhập vào Nhật Nam và Cửu Chân. Tài liệu của Trung Quốc có nói đến một lãnh chúa của Tây Quyền đã xưng vương ở Nhật Nam (Quảng Bình – Quảng Ngãi). Nhưng lãnh chúa này đã bị đánh lùi về phía Nam sông Lam.”

Đến Triều Hậu Lý (1009 – 1225). Chiến tranh Việt Nam chủ yếu xảy ra với người Chăm Pa. Lúc này đèo Ngang là biên giới phía Nam của Đại Việt. Suốt thời kỳ này cho đến đời nhà Trần, đất Hồng Lam có khi thuộc về Đại Việt, nhưng cũng có khi bị quân Chăm Pa chiếm giữ. Lý Nhật Quang, con trai thứ 8 của Lý Thái Tổ (1010- 1225), em trai của Lý Thánh Tông được cử làm tri châu Nghệ An, hiệu là Uy Minh Vương. Vị này được người An Tĩnh coi trọng và thờ phụng như một vị vua thực thụ. Bởi cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn liền với vùng đất này, nhiều làng mạc ở hai bên bờ sông Lam trước kia nằm trong thái ấp của Lý Nhật Quang (nay thuộc xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, Nghệ An) đều tôn ông là thành hoàng làng. Vùng này có ngôi đình Hoành Sơn thờ Uy Minh Vương mà ông Le Breton cho là hoa văn kiến trúc đẹp nhất Việt Nam. Đình này có những chi tiết thuộc về phong tục tập quán mà tôi sẽ phải nhắc đến ở mục ”Việt Thường phong tục”.

Làng Trung Cần chính là ngôi làng do Lý Nhật Quang khai khẩn lập nên. Khi ông mất, dân làng tôn ông làm Thành hoàng làng và phong hiệu Bụt cho ông là Tam Tòa. Tên này xuất xứ từ sự kiện đóng quân của Lý Nhật Quang dưới chân núi Tam Tòa ở Quảng Bình; còn Tứ vị  là tên hiệu gọi chung gồm một vị cung phi vợ vua Tống Đế Bình (Trung Quốc) và ba người hầu gái. Câu chuyện về Tứ vị như sau: Tương truyền thời Tống Đế Bình, nhà Tống suy yếu, quan thần làm loạn, bà phi này bị truy sát phải bỏ trốn theo đường biển và bị lật thuyền chết trên biển Đông, xác trôi vào cửa biển Hội Thống, khi nhân dân vớt được trên thi thể còn nguyên trang phục phượng bào, biết là bậc vương phi nên đã đem chôn cất thờ phụng. Vì không biết tên là gì, vợ vua nào, nên nhân dân lấy hiệu chung là Tứ Vị. Đời vua Lê Hiến Tôn (1740 - 1786). Khi đem quân đi đánh Chiêm Thành, qua đây gặp bão phải ghé vào bờ tránh bão, được bà Tứ Vị hiện lên báo mộng là sẽ phù hộ nhà vua để tạ ơn nhân dân nước An Nam đã chôn cất thờ phụng bà tử tế. Sau đó vua đi đánh trận thắng lớn, khi quay về đã ghé vào làm lễ tạ ơn, phong là Thánh Mẫu, rồi ra chiếu chỉ dành một khu đất rộng để xây đình. Từ đó nhân dân vùng này tôn hai vị Tam Tòa và Tứ Vị làm thành hoàng làng, cùng thờ chung trong một ngôi đình. Hàng năm, vào dịp tháng 6 âm lịch, dân làng tổ chức dâng rượu và các đồ tế phẩm lên vong linh của Tam Tòa và của Tứ Vị. Như vậy, từ hai vị Tam Tòa và Tứ Vị thánh mẫu Nghệ An, bị nhà Phật hiểu nhầm ra thành Tam Tòa là ba vị Thánh mẫu, Tứ Vị là bốn phủ công đồng, rồi đổi ngôi thứ thành Tam Tòa thánh Mẫu và Tứ phủ công đồng. Thật ra trong giới Phật Giáo Ấn Độ làm gì có chức vị thánh mẫu? Chỉ có chức vị quán âm bồ tát mà thôi. Hiềm nỗi quán âm trong Phật giáo là nam giới giả gái, bởi trong hệ tu hành của Phật giáo chỉ có trai giới, không có nữ giới (xem thêm ở  Phụ lục 1: Trúc Lâm là một loại hình tôn giáo bản quyền  riêng của Việt Nam, không thuộc sở hữu của Phật giáo).

Như vậy, họ Lý ở Nam Đàn, Đô Lương là hậu duệ của họ Lý ở Thăng Long có nguồn gốc từ Bắc Ninh.

(An Tĩnh cổ lục - HIPPOLYTE BRETON, tr.254) chép: “…Năm 1377 người An Nam đã tổ chức một cuộc phản công nhưng thất bại. Vua An Nam là Trần Duệ Tông bị giết ở Đồ Bàn (thuộc tỉnh Bình Định ngày nay) và hoàng tử Húc (hay Huế) bị cầm tù rồi đầu hàng và kết hôn với một người em gái của vua Champa. Chế Bồng Nga vượt biển đi về hướng Bắc Trung Kỳ và Đàng Ngoài và tàn phá hai nơi này. Năm 1378, Bồng Nga dẫn hoàng tử Húc đến An-Tĩnh và cho làm vua ở đó. Khi lên ngôi Húc lấy hiệu là Ngự Cầu Vương… Sau khi Húc bị thất thế (1390), người An Nam đã gọi Húc bằng danh từ khinh miệt Lồi Vương (Vua của những người mọi rợ), và từ đó thủ phủ của y mới mang tên là Lồi Vương Thành” (Lồi Vương Thành ở dưới chân núi Lam Thành, thuộc địa phận TP Vinh ngày nay). Núi Lam Thành, hiện thuộc địa phận thành phố Vinh, là một ngọn núi nhỏ mang hình hài một con gấu, nên còn có tên là Hùng Sơn. Núi này còn được gọi là núi Đồng Trụ, theo sự tích cột đồng Mã Viện ở thế kỷ I như tôi đã nhắc tới ở phụ lục 4: “Thực hư của “Cột đồng Mã Viện” và “Tấu thư Cao Biền”.

Kỳ sau: Phụ lục 8 - Những di chỉ, di cốt trong các hố khai quật ở Nghệ Tĩnh nói lên điều gì?

 ********************************************


Để gửi ý kiến nhấp vào đây

Các tin khác:
 Những người con yêu nước, nhưng đối lập về tư tưởng đường lối cứu nước của đất Hồng Lam trong thời kỳ chống Pháp (1884 – 1954). (22h: 09-03-2015)
 Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ - Hai con chim đầu đàn, có công lớn trong việc phát triển và bảo tồn hai di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại: Ca trù và Ví dặm. (12h: 13-02-2015)
 Thực hư của “Cột đồng Mã Viện” và “Tấu thư Cao Biền” (15h: 17-01-2015)
 Các nàng hằng nga tái thế ở La Giang làm thống lĩnh công tác hậu cần trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh của vua Lê Lợi (11h: 15-01-2015)
 Sự tích “Cá gáy hóa rồng” ở thác Vũ Môn liên quan đến lịch sử hai lần khởi đánh quân Nguyên Mông của nhà Trần. (00h: 11-01-2015)