Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
Phụ lục 8: Những di chỉ, di cốt trong các hố khai quật ở Nghệ Tĩnh nói lên điều gì?
 
(18h: 12-04-2015)
Phụ lục 8: Những di chỉ, di cốt trong các hố khai quật ở Nghệ Tĩnh nói lên điều gì?Các giả thiết khảo luận của Phan Lan Hoa về "DẤU TÍCH NHÀ NƯỚC VIỆT THƯỜNG THỊ VÀ VAI TRÒ NGHỆ AN TRONG DÒNG LỊCH SỬ VIỆT NAM"
***
Nguồn ảnh: baonghean.vn; baohatinh.vn; vanhoanghean.go.vn; Ảnh cung cấp của PGS Nguyễn Lân Cường

 

Vật được các nhà khảo cổ nghi ngờ là nỏ thần trong truyền thuyết, bảo vật duy nhất chỉ có ở Nghệ An - Nguồn ảnh: Báo Nghệ An

DẤU TÍCH NHÀ NƯỚC VIỆT THƯỜNG THỊ 

VÀ VAI TRÒ NGHỆ AN TRONG DÒNG LỊCH SỬ VIỆT NAM

***

Phụ lục 8: Những di chỉ, di cốt trong các hố khai quật ở Nghệ Tĩnh nói lên điều gì?

***

Nhà địa chất học Hippolite Breton đã viết trong An Tĩnh cổ lục: “Nhất thiết trong tất cả mọi lĩnh vực, cả về địa chất và địa lý, về tiền sử và lịch sử, "con đường thượng đạo" có một tầm quan trọng lớn lao. Chỉ có những người ít am hiểu mới ngờ vực điều đó. Toàn bộ quá khứ của An-Tĩnh đều hướng về xung quanh con đường này. Còn nói về quan hệ thương mại giữa người An Nam cư trú tại các đồng bằng duyên hải và thung lũng với những bộ lạc sinh sống dưới dãy núi Giăng Màn, thì "con đường thượng đạo" là "con đường muối". Muối là sản vật chủ yếu dùng để trao đổi hàng hoá. Chỉ về vấn đề này, con đường thiên nhiên và nhân tạo ấy đáng được trở thành đối tượng nghiên cứu của một luận văn đặc biệt. Đó là kết luận quan trọng nhất mà tôi rút ra từ bản "tiểu luận" đầu tiên của mình về sự khôi phục toàn diện An-Tĩnh cổ xưa”.

Vậy là đã có cái nhìn từ “con mắt tinh đời” của một nhà địa chất học người ngoại quốc từ gần trăm năm trước, nhắn nhủ về tương lai rằng, cần thiết phải khám phá “con đường thượng đạo” và dãy núi Giăng Màn của miền đất An Tĩnh.  Ông ấy đã nhấn mạnh rằng đó là “con đường muối” của tổ tiên người Việt Thường; rằng đâu đó trên con đường ấy vẫn còn lưu dấu chân Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và các vua Hùng từ thuở “mở mang trời đất”.

Nhưng sao mãi đến bây giờ, nơi ấy vẫn thiếu vắng bước chân của các nhà khảo cổ tìm đến?

Phải chăng nó cùng lý do với sự kiện xảy ra tại một hội thảo có tên gọi “Hội thảo quốc tế về văn hóa Đông Sơn”, nhưng lại không có bản báo cáo nào về vùng đang sở hữu phần lớn hầu hết các di chỉ thuộc nền văn hóa Đông Sơn là lưu vực sông Lam?

Cho dù vậy, cho dù “lối mòn tiên tổ” còn quanh co chìm trong mây phủ của đất trời và của lương tâm con người, còn chưa được khám phá, thì miền đất An Tĩnh cũng đã tìm thấy dễ đến hàng triệu chứng tích khác trong các hố khai quật. Những chứng tích biết nói, có thể giúp An Tĩnh khôi phục, biến những dòng truyền thuyết thành những trang lịch sử hào hùng.

Có thể nói, người dân An Tĩnh hiện nay đang sinh sống trên một nền di chỉ dày đặc, tiếp nối liên tục không hề gián đoạn các giai đoạn lịch sử hình thành của loài người từ:  Người vượn - Tiền Sử - Sơ sử - Tân sử. Tầng di chỉ gần như lộ thiên, có nơi dày tới hơn  2 mét như ở bãi Phối phối – Nghi Xuân. Có nơi diện tích khai quật phải mở rộng gần hết cả huyện như ở Quỳnh Lưu (Nghệ An), Thạch Hà (Hà Tĩnh). Ở đất Hồng Lam, cứ năm bữa nửa tháng lại thấy nhân dân thông báo lượm được xương thú hóa thạch, đồ đá, đồ gốm của người Tiền sử.  Lý do tìm thấy rất ngẫu nhiên, như khi làm vườn, đào ao, đào móng làm nhà, khi cày ruộng, hoặc sau một trận mưa lớn, người dân ra suối, ra ao đầm nơm cá, bắt ếch thì chợt thấy di chỉ trồi lên trên mặt đất. 

Tôi sẽ phải chọn lọc một ít tư liệu mang tính xác thực, để chứng minh cho điều đã nói trên. Tất nhiên là tôi có thể sử dụng văn ngữ của mình để tổng hợp các thông tin. Nhưng làm như vậy thật không khiêm tốn, bởi tôi không phải là các nhà khảo cổ học, cũng không hề là phóng viên có mặt tại hiện trường khi xảy ra sự kiện. Cho nên trong hoàn cảnh của tôi, trích đoạn nguyên văn của các tác giả có lẽ là tốt hơn.  Vậy tôi xin phép các tác giả, được tổng hợp một số thông tin quan trọng từ các bài báo cáo của các nhà khoa học khảo cổ về kết quả các hố khai quật ở Nghệ Tĩnh:

Sách “Hà Tĩnh – đất văn vật Hồng Lam” của NVH Thái Kim Đỉnh:

“Trong buổi bình minh của lịch sử, vào kỷ Cánh Tân (Pleistocènne), trên đất Nghệ Tĩnh đã có Người vượn (Homo Erectus – người đứng thẳng) cư trú. Chứng tích là răng Người vượn và nhiều xương thú hóa thạch đã được phát hiện ở hang Thẩm Ồm (Quỳ Châu, Nghệ An).

Đến văn hóa Sơn Vi, thuộc Hậu kỳ đá cũ, thì ở làng Vạc (Nghệ An) và Hương Sơn, Hương Khê, Nghi Xuân (Hà Tĩnh) đều đã tìm thấy dấu vết của Người hiện đại (Homo Sapiens – Người khôn ngoan).

Sang kỷ Toàn Tân (Holocènne), cách ngày nay một vạn năm, diễn ra cuộc cách mạng kỹ thuật, các mạng Đá mới, mà màn dạo đầu là văn hóa Hòa Bình. Ở Con Cuông, Tương Dương, Quỳ Châu (Nghệ An) và Minh Hóa, Tuyên Hóa (Quảng Bình) nhiêu di chỉ van hóa Hòa Bình đã được phát hiện trong các hang động đá vôi...”

Bài “La Giang Đức Thọ, mấy nét phác hoạ”, Thái Kim Đỉnh chép:

Các di chỉ khảo cổ học Rú Dầu, Cồn Bến Lội là chứng tích về sự có mặt của người tiền sử trên đất La Giang.  Đây là những di chỉ Đá Mới hậu kì thuộc Văn hóa Bàu Tró là rìu đá mài và gốm đáy tròn. Ở Hà Tĩnh không có loại đá tốt như ở Quảng Bình, nên người xưa dùng loại đá trầm tích biến chất tương đối mềm ở Rú Dầu, nằm giữa hai xã Đức Đồng, Đức Lạc, từ 1974 được phát hiện là một “xưởng chế tác đá”. Các nhà khảo cổ học cho rằng người tiền sử đã lấy đá Rú Dầu, chở đến nhiều nơi trong địa bàn tỉnh Hà Tĩnh bây giờ để chế công cụ. Di chỉ Cồn Bến Lội ở xã Đức Hòa cũng được phát hiện năm 1974 và được thám sát lần đầu năm 1983 với di vật tìm được là phác rìu có vai bằng đá trầm tích, mảnh rìu vỡ dọc bằng đá biến chất, mảnh vòng đá mài nhẵn và rất nhiều mảnh gốm hoa văn thừng, khắc vạch.

          Chứng tích văn hóa Đông Sơn – thời các vua Hùng – được phát hiện ở Đức Thọ là bộ công cụ và vũ khí bằng đồng thau độc đáo ở xã Đức Đồng. Đó là hai chiếc rìu có họng, lưỡi xòe rộng, mép lưỡi thẳng ngang; một chiếc rìu lưỡi xéo có họng hình bầu dục lưỡi khá rộng, gót nhọn ở cao; một chiếc dáo gãy phần mũi, hình búp đa, có sống nổi ở giữa,… đều là loại rất hiếm trong các di chỉ.

          Văn hóa Đông Sơn khác vùng sông Hồng, sông Mã. Dấu vết Đông Sơn còn được tìm thấy ở dăm Đồng Tới xã Đức Châu, dăm Tẩu xã Đức Tùng, mạn bắc sông La.

          Cùng với các cứ liệu khảo cổ học trên đây, nhiều hiện tượng văn hóa, xã hội có thể cho ta nghĩ là chứng tích của thời kì lịch sử xa xưa. Đó là những đơn vị cư dân có tiền tố “Kẻ”(cổ) trước một tên Nôm mà ở La Giang, Đức Thọ có rất nhiều: Kẻ Trổ, Kẻ Triềng, Kẻ Chay, Kẻ Nang, Kẻ Rạng, Kẻ Ngù… và tên huyện đầu thế kỉ IX là Cổ/ Kẻ La. Ngôn ngữ cũng là chứng tích thời gian. Đến nay dân Đức Thọ – Nghệ Tĩnh còn bảo lưu được nhiều tiếng cổ gốc Việt - Mường: Nác, rú, cuồi, phô… Lại còn dấu vết sinh hoạt cổ trong phong tục, tập quán: Tục thờ thần tự nhiên, tục chia phần khi săn bắt về… Đặc biệt trước năm 1945, ở Kẻ Chay, Kẻ Nang tiếng nói, giọng nói khác hẳn các nơi trong huyện và có tới 10% số dân có hai ngón chân cái giao nhau, truyền là người Giao Chỉ (?), nhiều cụ sống trên trăm tuổi.”

Sách “Văn hoá tiền sử Việt Nam” của Nhà khảo cổ học Bùi Vinh – Viện khảo cổ học – Viện KHXH Việt Nam chép:

* Di chỉ Quỳnh Văn (Quỳnh Lưu – Nghệ An): “Quỳnh Văn có thể có nhiều nguồn gốc hợp thành, nhưng trong đó kỹ nghệ Điều hiện lên như một nguồn hợp chủ yếu tạo nên văn hoá này. Như vậy, ngoài con đường Hoà Bình – Đa Bút, chúng ta lại phát hiện ra con đường đá mới hoá Điều – Quỳnh Văn và hơn nữa còn con đường phát triển nội tại trong các hang động Hoà Bình. So sánh giữa Quỳnh Văn và Đa Bút, ta thấy con đường đá mới hoá Đa Bút là quá trình “động”, cách tân từng bước và phát triển theo tuyến tính, thì Quỳnh Văn là con đường “tĩnh” bảo lưu truyền thống lâu dài, thích ứng tối đa với môi trường tự nhiên.”

* Quỳnh Văn - Phái Nam (Thạch Hà – Hà Tĩnh): “ Tài liệu khai quật năm 1963 – 1964, đã cho thấy Quỳnh Văn có đồ gốm đáy nhọn và mang những đặc điểm chất liệu, độ dày, màu sắc… của đồ gốm Phái Nam… đồ gốm Phái Nam giống với đồ gốm đáy nhọn đã biết ở bãi Phối Phối (Nghi Xuân), Cồn Lôi Mốt (Thạch Hà)”, Trại Ổi (Quỳnh Lưu). Đó là loại đồ đựng cò miệng thẳng đứng hoặc hơi loe, thân hình chữ U thắt vào đáy, dày, thô, có dấu hoa văn in đập ở hai mặt…” Về niên đại, Bùi Vinh chép: “Theo tác giả (Hà Văn Tấn 1969:189), văn hoá Bắc Sơn có thể cách ngày nay khoảng 10.000 – 8.000 năm. Như vậy văn hoá Quỳnh Văn ít nhất cũng đã tồn tại trước 8.000 năm cách ngày nay.”

* Bãi Phôi Phối (Nghi Xuân – Hà Tĩnh): “ đã có ý kiến chia địa điểm bãi Phôi Phối thành hai giai đoạn: giai đoạn sớm với số lượng ưu thế của đồ đá ghè đẽo và đồ gốm đáy nhọn; giai đoạn muộn với số lượng ưu thế đá mài và đồ gốm văn thừng. Hai giai đoạn này phát triển kế tiếp nhau…”

* Hang Đồng Trương (Anh Sơn – Nghệ An): “Hiện vật và di tích thu được trong hố khai quật gồm có đồ đá, đồ gốm, đất nung, đồ đồng, đồ sắt, đồ thuỷ tinh, thổ hoàng… xương răng động vật, dấu tích than tro bếp lửa và các mộ táng. Dựa vào đặc điểm loại hình và sự phân bổ của các di vật – di tích trong địa tầng có thể biết được chúng thuộc văn hoá của hai thời đại khác nhau…”

Và Nhà KCH Bùi Vinh kết luận:

Đồng Trương là một địa điểm khảo cổ học chứa di tồn văn hoá thuộc nhiều giai đoạn khác nhau, chủ yếu là hai nền văn hoá nổi tiếng nhất ở Việt Nam: Văn hoá Hoà Bình thời tiền sử và văn hoá Đông Sơn thời sơ sử. Vì vậy mà việc phát hiện ra địa điểm này có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Đây là lần đầu tiên phát hiện được “một Hoà Bình sơ khởi” đi kèm với các mộ táng của nó có thể thuộc giai đoạn hậu kỳ đá cũ với niên đại rất cổ xưa từ 1 đến 1,2 vạn BP (năm TCN). Những tài liệu thu được từ giai đoạn văn hoá này thuộc về lịch sử văn hoá – con người lâu dài của mảnh đất Nghệ An.

Việc phát hiện các di vật tiền Đông Sơn và Đông Sơn tại hang Đồng Trương mà niên đại ước đoán năm trong khoảng 2.300 – 3.000 BP, rõ ràng đã bổ sung cho nhận định: Lưu vực sông Lam là một trong ba trung tâm phát sinh và phát triển văn hoá của người Việt cổ thời các vua Hùng dựng nước.

              

Di cốt tại hang Đồng Trương ( ảnh do PGS Nguyễn Lân Cường cung cấp)

Bài đăng trên báo nghean.vn và hatinh.vn của hai tác giả: Phan Văn Hùng, Hồ Mạnh Hà, cũng có những tình tiết quan trọng không kém hang Đồng Trương:

“…Hang Bò là một địa điểm thời tiền sử, thuộc thời đại đá mới (văn hóa Hòa Bình). Những di vật đá ở đây có nhiều nét gần gũi với nhóm di vật lớp dưới hang Đồng Trương cách Hang Bò 3 km về phía Đông đã khai quật vào năm 2004. Rất có khả năng Hang Bò còn là một địa điểm khảo cổ học phản ánh quá trình phát triển lâu dài của người tiền sử, từ đá mới đến kim khí, có thể có mộ táng. Cùng với Hang Bò ở đây còn có cả một hệ thống hang động với nhiều mái đá rất thuận lợi cho người tiền sử cư trú, sinh sống... Tại đây đã có những phát hiện về rìu đá hình tứ giác mài toàn thân, cùng với đồ gốm thời đại Kim khí.

     Những hình khắc trên đá ở Hang Bò là do người tiền sử tạo ra với kỹ thuật sơ khai, thể hiện trình độ tư duy về thẩm mỹ của người tạo ra chúng. Việc xác định niên đại và nội dung của những hình khắc này đòi hỏi một quá trình nghiên cứu có tính hệ thống với sự tham gia của các nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau.

     Việc phát hiện tảng đá có ký tự cổ ở Hang Bò xã Hoa Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An là một phát hiện mới, lạ về khảo cổ học, vì từ xưa đến nay chưa có một phát hiện khảo cổ nào ở Nghệ An nói riêng, cả miền Trung nói chung có loại ký tự, hình khắc trên đá của người tiền sử như ở Hang Bò. Phát hiện mới, lạ ở Hang Bò góp thêm tư liệu về nghệ thuật cổ trên đá ở Việt Nam…”

     Cồn Sò: “Qua các đợt khảo cổ tại di tích, nhiều di vật đã được tìm thấy như công cụ sản xuất, vũ khí, dụng cụ sinh hoạt, đồ trang sức bằng đá, xương, hàng vạn mảnh gốm, đặc biệt có di cốt người cổ. Theo các chuyên gia, di cốt là của nam giới khoảng 40-50 tuổi, cao 155-160 cm, nhóm máu 0. Những bằng chứng này đã khẳng định sự có mặt của người Việt cổ trong niên đại hậu kỳ đá mới. Tầng văn hóa của di chỉ khá dày, trung bình khoảng 1,6m, chứng tỏ con người đã cư trú ở đây trong một thời gian rất dài. Hiện tượng cát vàng xen kẽ trong các tầng văn hóa có thể là di tích liên quan đến sự hình thành của các đồng bằng ven biển và cấu tạo của thềm lục địa vùng duyên hải miền Trung...”

Bài “Tọa đàm khoa học về di tích Phôi Phối - Bãi Cọi” của tác giả Bách Khoa, chép:

Tại buổi toạ đàm, các ý kiến của các GS, các nhà nghiên cứu đều tập trung xung quanh vấn đề Phôi Phối - Bãi Cọi mang đặc trưng của Văn hoá Đồng Sơn hay văn hoá Sa Huỳnh và các mối quan hệ của nó? Theo GS Phạm Minh Huyền, đồ gốm được phát hiện đều mang tính nổi bật của văn hoá Đông Sơn. Các loại hình  bình gốm con tiện, các vò gốm, các hiện vật đều giống đồ gốm và các hiện vật đã được phát hiện tại các địa điểm Thiệu Dương, núi Nấp (Thanh Hoá), Làng Vạc (Nghệ An), hoa văn trên gốm thuộc thuộc loại hình sông Mã. Niên đại khoảng thế kỷ III (sau công nguyên);  Giáo sư Diệp Đình Hoa  thì cần phải tách  phân nhiều giai đoạn để có những đánh giá cụ thể. Theo ông di tích Phôi Phối - Bãi Cọi thuộc nền văn hoá Đông Sơn có ảnh của văn hoá Sa Huỳnh; nhà nghiên cứu Nguyễn Chiều (Trường ĐHQG) thì có nhận xét: Đây là địa vực thuộc không gian của văn hoá Đông Sơn, tuy nhiên các đồ gốm và hiện vật (nắp chum nón cụt, vò gốm, khuyên tai 3 mấu, các dọi xe chỉ…) đều cho thấy yếu tố văn hoá Sa Huỳnh khá rõ, loại hình này phổ biến tại các di tích khảo cổ học thuộc văn hoá Sa Huỳnh khu vực nam trung bộ; TS Bùi Văn Liêm (Viện KCH) khẳng định: đây là di tích thuộc loại hình mộ táng văn hoá Đông Sơn.và  điều cần làm rõ là xác định mối quan hệ giữa hai vùng  văn hoá Đông Sơn - Sa Huỳnh. Còn GS Hán Văn Khẩn, TS Nguyễn Giang Hải (Viện KCH) và ông Võ Hồng Hải đánh giá vai trò quan trọng của di tích khảo cổ học Phối Phôí- Bãi Cọi và để có những kết luận khoa học cần tiếp tục  điều tra, khai quật mở rộng, phối hợp đa lĩnh vực: khảo cổ học, xã hội học, dân tộc học, ngôn ngữ học.v.v…để  nghiên cứu về địa điểm khá đặc  biệt,  quan trọng này.”

Di chỉ khảo cổ Làng Vạc ( Phan Lan Hoa tổng hợp các sưu tầm).

Làng Vạc, một ngôi làng cổ nằm bên bờ sông Hiếu, thuộc địa bàn xã Nghĩa Hòa, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Trên một diện tích khai quật rộng lớn 1.438m2, với dấu tích thành lũy hình tròn xoáy trôn ốc đắp bằng đất, 347 ngôi mộ cổ và 1.228 hiện vật. Các nhà khảo cổ học đã đi đến kết luận: Di chỉ làng Vạc thể hiện một Trung tâm Văn hóa Đông Sơn ở thời kỳ đồ đồng phát triển rực rỡ nhất.

Trống đồng được đánh giá là nơi phát hiện nhiều nhất và đẹp nhất, lớn nhất cho tới hiện nay: gồm 4 chiếc trống lớn và 4 chiếc nhỏ, chiếc trống được đặt tên Đông Hiếu phát hiện ở Nghĩa Tiến, có đường kính 90cm (chiếc lớn thứ 2 có đường kính 80cm là trống Mật Sơn ở Thanh Hóa). Niên đại của trống đồng Làng Vạc vào khoảng 2100 năm TCN.

Di chỉ làng Vạc thể hiện, thời kỳ này con người đã biết đúc các công cụ, Đồng được chọn để làm các công cụ sản xuất như rìu, đục, lưỡi cày, cuốc, xẻng, thuổng… chứng tỏ người Việt thời kỳ này đã biết trồng lúa và chăn nuôi một số gia súc như trâu, bò, lợn, gà… Trong một số ngôi mộ còn tìm thấy những chiếc răng trâu. Năng suất lúa nước thời kỳ này cũng đã cao hơn trước, con người đã có của ăn của để. Những chiếc thạp và âu ở làng Vạc đều có trang trí rất đẹp.

Ở đây, đồng còn được dùng làm đồ trang sức, loại thường gặp là khuyên tai và vòng đeo tay, bao chân bao tay có lục lạc, các loại trang sức bằng đá, thuỷ tinh được chế tác tinh xảo, các loại khuôn đúc, mảnh trấu thóc. Vòng ống chân là loại lần đầu tiên được phát hiện ở Làng Vạc mà  cho đến nay cũng chưa tìm được ở nơi nào khác trong cả nước.

Vũ khí gồm, rìu, dao găm cán tượng người phụ nữ, dao găm cán tượng người đàn ông bằng đồng, dao găm cán hình rắn quấn chân voi ... đặc biệt là lẫy nỏ và mũi tên đồng  như trong truyền thuyết nỏ thần mô tả là thứ vũ khí mà cho đến nay làng Vạc là nơi duy nhất phát hiện.

Nhận xét cá nhân:

Bài viết “Tọa đàm khoa học về di tích Phôi Phối - Bãi Cọi” của tác giả Bách Khoa chứng tỏ các nhà khảo cổ học đã rất lúng túng khi thảo luận về các di chỉ khảo cổ khai quật được ở Nghệ Tĩnh. Lúng túng vì di chỉ thường bị pha trộn giữa Đông Sơn và Sa Huỳnh, nên không biết nên xếp vào nhóm văn hóa Sa Huỳnh hay văn hóa Đông Sơn? Tôi thì tôi cho rằng sự lẫn lộn ấy là bởi hai dòng văn hóa Đông Sơn – Sa Huỳnh thực chất chỉ là một từ thời kỳ Tiền sử cho đến thời kỳ tiền Đông Sơn. Hay nói cách khác, văn hóa Sa Huỳnh là con đẻ từ văn hóa Đông Sơn.

Tôi đã có đặt vấn đề khảo luận ở “ chương I” rằng Quốc tổ Lạc Long Quân được sinh ra bởi hai dòng máu Việt – Mường, sau thì kết duyên cùng Quốc mẫu Âu Cơ là người của dân tộc Giao Chỉ, sinh ra trăm vị Việt tiên linh ở dòng thứ tư; và tại “phụ lục 7” tôi tiếp tục đưa ra nghi vấn Đế Minh Thần Nông là cha đẻ của hai tộc người Việt – Chăm.

Đã có thể xây dựng hệ phả tộc Việt như sau:

1 - Đế Minh Thần Nông thuộc dòng thứ nhất, có lẽ là một trong những hình hài di cốt ở hang Bò, hang Đồng Trương;

2 - Kinh Dương Vương Lộc Tục thuộc dòng thứ hai, là sự pha trộn hai dòng máu bắc nam bờ sông Hà Hoàng (Nghệ An – Hà Tĩnh);

3 - Lạc Long Quân Sùng Lãm thuộc dòng thứ ba, là sự pha trộn ba dòng máu Thanh – Nghệ - Tĩnh (Việt  - Mường, Việt Thường);

4 - 100 con trai của Lạc Việt thuộc dòng thứ tư, là sự pha trộn giữa hai dòng máu Việt Thường (Việt Mường) – Giao Chỉ.

5 – Từ đời thứ 5 đổ đi cho đến cuối đời nhà Tần, Lạc Việt tuy chia làm hai nhưng: Tây Âu (Giao Chỉ), nước của mẹ Âu Cơ, là một quốc gia hòa bình độc lập; Còn Việt Thường, nước của các vua Hùng thì mãi cho đến thời Âu Lạc (257 TCN), trải hơn 2600 năm không hề có chiến tranh gây hấn với phương Bắc. Điều đó nói lên rằng không có sự hòa huyết nào đáng kể giữa người Việt Cổ với các tộc người ở vùng bờ sông Dương Tử. Có chăng, chỉ xảy ra từ thời Nam Việt Triệu Đà hợp quốc mà thôi.

Trên thực tế những hố khai quật, các nhà khoa học khảo cổ đã đi đến kết luận ba lưu vực : Sông Lam – sông Mã – sông Hồng là “vùng lõi Đông Sơn”, tức cái nôi sinh ra tộc người Việt. Tuy nhiên, nói lưu vực sông Hồng là vùng lõi thì hơi quá rộng về khái niệm, di chỉ Đông Sơn chỉ tìm thấy tại khu vực từ Bắc Ninh đổ vào mà thôi. Còn các di chỉ từ Phú Thọ đến bờ sông Dương Tử rõ ràng là mang áo khoác văn hóa khác, rất hiếm di chỉ Đông Sơn?

Như vậy, tôi cho rằng các nhà khoa học khảo cổ nên gộp khu vực “vùng lõi Sa Huỳnh” vào với “vùng lõi Đông Sơn”, hoặc nên đặt tên là Đông Sơn – Sa Huỳnh cho dòng văn hóa Sa Huỳnh thì mới logic được vấn đề.

Sự phát hiện văn hóa đa dòng ở An Tĩnh, không chỉ thể hiện sự tồn tại một cách tiếp nối không hề dán đoạn lịch sử các thời kỳ phát triển của loài người, từ Người vượn cho tới Người hiện đại; và không chỉ có chủ yếu một vài dòng văn hóa đơn lẻ phát hiện ở hang núi hẻo lánh, hoặc thưa thớt ở đồng bằng như các vùng khác. Mà ở Nghệ Tĩnh, các điểm khai quật trở nên dày đặc chi chít khắp các huyện lỵ, từ miền núi đến miền biển. Điều này chứng tỏ tại vùng này, người tiền sử đã bắt đầu từ bỏ hang núi tiến xuống miền đồng bằng và miền biển, xóa bỏ cuộc sống bộ lạc để sống tập trung, khởi đầu sự nghiệp trồng lúa, đánh bắt cá thay vì săn bắt.

Tôi xin tóm lại các các đặc điểm nổi trội của di chỉ tại Nghệ Tĩnh như sau:

- Về mật độ di chỉ: Vùng khai quật rộng lớn gần như toàn tỉnh, kéo dài suốt từ Quỳnh Văn tới Phái Nam với chiều dài gần 200km. Mật độ các điểm khai quật gần nhau và trải đều khắp cả tỉnh, từ miền núi tới miền biển. Và tôi nghĩ sẽ còn kéo dài cho tới vùng Phong Nha Kẻ Bàng của Quảng Bình.

- Về đặc điểm: Đủ mặt các loại hình văn hoá của các dòng văn hoá trên khắp miền Trung và miền Bắc Việt Nam như: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Đa Bút, Cái Bèo, Đông Sơn, Sa Huỳnh. Hoa văn mang tính bảo thủ truyền thống (nhận xét của Bùi Vinh)

- Về niên đại: Gồm nhiều thời kỳ văn hoá duy trì nối tiếp liên tục, không bị gián đoạn như các vùng khác. Đa số các điểm khai quật đều nối tiếp liên tục hai dòng văn hoá Hoà Bình – Đông Sơn. Đặc biệt hang Đồng Trương thể hiện một cuộc sống lâu dài và liên tục không gián đoạn suốt từ thời kỳ hậu đá cũ, đá mới, tiền Đông sơn, Đông Sơn, hậu Đông Sơn… Ở Nghệ Tĩnh, các nhà khảo cổ còn tìm thấy khá nhiều xưởng chế tác đá, lò đúc đồng, lò luyện sắt trên vùng đất Việt Thường cũ.

- Đem so sánh ba trung tâm: Cái Bèo (Hạ Long), Đa Bút (Thanh Hoá – Ninh Bình) và Quỳnh Văn – Phái Nam ở Nghệ Tĩnh, thì Cái Bèo và Đa Bút đều thể hiện cuộc sống bị ngắt quãng, chỉ dừng lại ở văn hoá Hoà Bình, mà theo nhà KCH Bùi Vinh, thì do nước biển dâng. Riêng di chỉ ở Nghệ Tĩnh lại thể hiện sự duy trì một cuộc sống tập trung, lâu dài và liên tục suốt ±12.000 TCN của loài người không hề gián đoạn, từ Hậu kỳ đá cũ, Sơ kỳ đá mới, đến kỳ kim khí. Văn hoá Phùng Nguyên – Gò Mun – Đồng Đậu cũng không hề thể hiện được sự nối tiếp lâu dài này.

Như vậy di chỉ đã chứng minh cho sự ghi chép đúng của cổ sử rằng “Kinh Dương Vương lập quốc đầu tiên dưới chân núi Hồng Lĩnh (2879 TCN). Độ chính xác về năm thì có thể tương đối, nhưng niên đại của di chỉ thì lại rất khớp. Cho nên cần phải kết luận: “Khúc mở đầu” của văn hóa Đông Sơn (văn hóa Việt cổ) là lưu vực sông Lam. Cũng như nhóm người Việt cổ ở vùng sông Lam mới là người Việt Kinh (Kinh Dương Vương – Việt Thường). Tên gọi địa danh cùng di chỉ khảo cổ đã thể hiện rất rõ điều đó.

Bài “Văn hoá Đông Sơn và nguồn gốc dân tộc Việt”, ông Bùi Xuân Đính  viết: “Trong bốn tộc người trên, hai tộc Việt và Mường còn đậm dấu vết VHĐS nhất, thể hiện không chỉ ở tiếng nói, mà cả phong tục, tín ngưỡng, (nhất là tục và tín ngưỡng liên quan đến trống đồng), văn học dân gian.”

Cần phải có một khảo cứu kỹ càng về các phong tục tập quán vùng miền, sàng lọc xem những “tục tín ngưỡng” nào mới thực sự “liên quan đến trống đồng”? Có xuất hiện cùng thời với trống đồng tại một địa điểm hay không mới biết được? Ví dụ như trống đồng không hề thể hiện tín ngưỡng phồn thực?

Nhà KCH Bùi Vinh viết: Là một trong số di tích đa văn hoa cực hiếm hoi, lại nằm bên triền sông Lam, cạnh đường 7, nên Đồng Trương có đầy đủ những điều kiện thuận lợi để bảo tồn phục vụ cho công tác tham quan du lịch nhằm phát huy giá trị văn hóa lịch sử của địa phương và cả nước nói chung”.

Theo tôi, hang Đồng Trương cần phải được đánh giá giá trị toàn diện về mọi mặt để đi tới xác định là nơi cư ngự đầu tiên, đồng thời là nơi mộ phần chính thống của Việt Thủy Tổ! Quả là người Việt phúc phần lắm mới có được chứng cứ hùng hồn như thế, mà không phải dân tộc nào trên thế giới cũng có được điều đó. Cho nên, nếu Nghệ An – Hà Tĩnh mà họp bàn với nhau để nghĩ đến việc mở một tuyến du lịch với tên gọi “Tìm về Việt nguồn”, thì sẽ vô cùng đặc biệt không ở đâu bằng, gồm lăng mộ Việt Thủy Tổ, và hàng loạt điểm khai quật di chỉ khảo cổ, hàng loạt các đền thờ vua chúa, các anh hùng dân tộc, cũng như hàng loạt sự tích dân gian Việt Nam. Đi kèm với phát triển Ví Giặm, cần thiết phải sớm dựng lại hết các lễ hội truyền thống của các làng cổ. Đồng thời tôi cũng cho rằng, hai tỉnh Nghệ Tĩnh cần lập báo cáo khả thi để trình Chính phủ, đề nghị cần dành cho vùng đất Việt Thường xưa một chế độ đặc biệt về bảo tồn di tích. Bởi nơi đó mới đích thực là Nguyên Hồn Thần Tinh Nác Việt. Hang Bò, hang Đồng Trương sẽ đưa Việt Nam lên độ dài kỷ lục: ± 14.000 năm lịch sử!

Sớm trưng bày các hố khai quật cùng với di chỉ, di cốt khai quật được, là con đường sớm nhất đem lại niềm tin chắc chắn về lịch sử cội nguồn cho giới trẻ nước Việt; Là cơ sở tiên quyết để Việt Nam “thoát Trung” đi tới xây dựng một nền văn hiến độc lập về bản sắc.

Và điều cuối cùng tôi muốn nói cuối đề tài nghiên cứu của mình rằng : Lạc Việt là một đất nước có nền văn hiến rất rõ ràng trong lịch sử loài người! Bất kể ai có ý đồ hư cấu, giả mạo lịch sử; có ý đồ đem cội nguồn bán rẻ cho phương Bắc đều đã muộn màng. Bởi hôm nay đây, các nhà khảo cổ học thế giới đã lần theo dấu chân người tiền sử, đã đặt những bước chân khoa học đầu tiên lên giang sơn của Thần Nông gầy dựng từ 5000 năm xưa – Việt Thường - Nghệ An. Kết luận sẽ sớm rõ ràng thôi và tôi gửi niềm tin vào khảo luận của mình, một ngày không xa sẽ thành hiện thực!

***

Lời tâm nguyện cuối đề tài khảo luận:

Thưa các nhà nghiên cứu Văn hóa – Lịch sử - Khảo cổ học Việt Nam.

Trước sau tôi chỉ dám nhận mình là một độc giả yêu văn hóa Việt. Đọc thấy những lẫn khuất trong những trang viết của các vị mà mạnh dạn đưa ý kiến thắc mắc. Tôi muốn gửi tới các nhà nghiên cứu khoa học xã hội Việt Nam vài lời tâm nguyện của một độc giả:

- Dù là độc giả thì trên đầu cũng có bộ não biết suy nghĩ. Trong số những người làm độc giả của các vị cũng khá nhiều người thông minh để có thể xét đoán mức độ chân thực của bài viết. Đã quá rõ ràng các chứng cứ để có thể nói rằng cần chấm dứt những bài viết có nội dung đại loại như “Người Việt cùng dòng máu người Hán”; hay “Người việt có nguồn gốc từ Trung Hoa” vv... ? Cho dù các vị có ngược dòng lịch sử đến mười, mười lăm ngàn năm trước công nguyên, thì tổ tiên tộc người Việt vẫn lưu dấu ở hang Bò, hang Đồng Trương chứ không phải ở đâu khác.

Tôi mong các vị hãy dành một nốt lặng cho niềm riêng Tiên tổ. Hãy lắng nghe niềm oán than gửi vào ca dao của Nhân dân ta từ ngàn xưa rằng “Mồ cha không khóc, khóc bộng mối!”.

Và nếu quý vị muốn có tầm nhìn cho chính bản thân, muốn thành tựu cùng tên tuổi mình thực sự hiển danh đi vào lịch sử dân tộc, để đời sau không ai phán xét chỉ trích, mà ca ngợi, lưu truyền, thì nên sớm có hành động hiệu chỉnh. Hãy giúp nhân dân xóa bỏ những nấm mồ giả, sắc phong giả, ngọc phả giả… đã và đang gieo họa cho dân tộc Việt phải quỵ lụy “bộng mối” vô hồn; Hãy giúp nhân dân đòi lại những thành tựu văn hiến bị tráo trở, bị bán rẻ, bị đánh cắp...

Và tôi thấy cần có một sự hợp tác chặt chẽ giữa các ngành nghiên cứu Văn hóa – Lịch sử - Khảo cổ, để đi đến xây dựng một nền Văn minh văn hóa Việt Nam độc lập về bản sắc trong tương lai.

Kính chúc trí tuệ mạnh khỏe và lương tâm!

                               

==================================

 


Để gửi ý kiến nhấp vào đây

Các tin khác:
 Cuộc chiến Việt – Chăm trong lịch sử và nghi vấn về sự tích Đế Minh Thần Nông (11h: 02-04-2015)
 Những người con yêu nước, nhưng đối lập về tư tưởng đường lối cứu nước của đất Hồng Lam trong thời kỳ chống Pháp (1884 – 1954). (22h: 09-03-2015)
 Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ - Hai con chim đầu đàn, có công lớn trong việc phát triển và bảo tồn hai di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại: Ca trù và Ví dặm. (12h: 13-02-2015)
 Thực hư của “Cột đồng Mã Viện” và “Tấu thư Cao Biền” (15h: 17-01-2015)
 Các nàng hằng nga tái thế ở La Giang làm thống lĩnh công tác hậu cần trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh của vua Lê Lợi (11h: 15-01-2015)
 Sự tích “Cá gáy hóa rồng” ở thác Vũ Môn liên quan đến lịch sử hai lần khởi đánh quân Nguyên Mông của nhà Trần. (00h: 11-01-2015)