Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
Viếng chùa Am đâu hoài Lạc Đạo ?
 
(22h: 10-03-2016)
Viếng chùa Am đâu hoài Lạc Đạo ?Bài và ảnh của Phan Lan Hoa

VIẾNG CHÙA AM ĐÂU HOÀI LẠC ĐẠO

Phan Lan Hoa

Chiều cuối năm Ất Mùi, về quê trong tiết đại hàn lất phất mưa bay. Lối vào chùa Am còn đang tu sửa. Chợt nghe tiếng “nam mô a di đà Phật” dội vào tâm can một nỗi niềm xót đau, đâu hoài Lạc Đạo?

Còn kia rõ ràng bia mộ của 10 đạo sĩ đời Trần – Lê cơ mà? Chùa Am là một ngôi chùa lịch sử, do chính tay ba vị công nương đời Trần – Lê lập lên để tu hành (Hoàng hậu Bạch Ngọc vợ vua Trần Duệ Tông, hoàng hậu Trịnh Thục vợ vua Lê Lợi và Trang Từ công chúa con gái vua Lê Lợi). Sau khi ba bà mất đi, chùa Am trở thành nơi thờ tự các bà và 10 đạo sĩ phò tá của các bà. Trong chùa xưa nay vốn không hề có bóng dáng của Phật Thích Ca, cớ sao kinh cầu hôm nay lại sảy miệng thành “nam mô bổn sư Thích Ca mâu ni phật”?

Sẽ thử làm một khảo cứu nho nhỏ về tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam qua các thời Lý - Trần – Lê – Nguyễn, để xem việc “mô Phật” ở chùa Am và trong nhiều chùa thờ tự các công thần nước Việt khác nữa có là chuyện bình thường hay không?

                              

Xin bắt đầu từ vị sư tổ Trúc Lâm đầu đà Trần Nhân Tông, làm một cuộc hành trình ngược thời gian:

- Tiền bối của Trần Nhân Tông là Đạo Viên. Vị này đồng thời là Quốc sư trong triều Trần;

- Đạo Viên thiền sư là đệ tử của Hiện Quang thiền sư;

- Hiện Quang (現光, ? – 1221, hậu Lý), tên tục là Lê Thuần, sinh trưởng ở kinh đô Thăng Long, là một đệ tử thuộc đời thứ 14 phái thiền Vô Ngôn Thông, đạt đạo tại chùa Uyên Trừng (Nghệ An). Sau già yếu lui về Yên Tử, được cho là vị khai sơn chùa Hoa Yên  núi Yên Tử. Đồng thời là vị tổ khai sơn phái thiền Trúc Lâm Yên Tử . Tư tưởng của Vô Ngôn thông là:

一切諸法皆從心生
心無所生法無所住
若達心地所住無礙
非遇上根慎勿輕許

Nhất thiết chư pháp giai tòng tâm sinh
Tâm vô sở sinh pháp vô sở trụ
Nhược đạt tâm địa sở trụ vô ngại
Phi ngộ thượng căn thận vật khinh hứa.

Tạm dịch:

Tất cả các pháp đều từ tâm sinh
Tâm không chỗ sinh, pháp không chỗ trụ
Nếu đạt chân tâm
,
chỗ trụ không ngại
Không gặp thượng căn
, dè dặt chớ dạy

Rõ ràng là triết lý của Đạo giáo. Như vậy, trước tiên cần xác định tư tưởng của Trần Nhân Tông chịu ảnh hưởng bởi sự dạy dỗ của một vị thiền sư Đạo giáo, hiệu là Đạo Viên.

Hãy lắng nghe tiếng lòng của Trúc Lâm Đầu Đà Trần Nhân Tông để hiểu Ông hơn:

Cư Trần Lạc đạo thả tuỳ duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Ðối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền.

Tạm dịch:

Cư sĩ đời Trần thả căn duyên Lạc đạo

(chữ Lạc ở đây theo tôi hiểu là Lạc Việt)
Ðói thì ăn, mệt thì ngủ
Của báu sẵn trong nhà khỏi tìm kiếm
Ðứng trước cảnh vật mà vô tâm thì hỏi thiền làm gì
.

Câu đầu Trần Nhân Tông tự xưng là “cư sĩ”, một cách gọi khác của  Đạo sĩ. Còn câu cuối thể hiện tư tưởng thiền của Trần Nhân Tông khác biệt so với tư tưởng thiền của Phật giáo. Đồng thời rõ ràng Trần Nhân Tông đã duy trì và phát triển Giáo thiền Trúc Lâm từ vị tổ khai sơn Hiện Quang thiền Đạo.

Lại tiếp tục ngược dòng lịch sử về thời hậu Lý, để xem thử thời kỳ này nước ta có những dòng đạo nào?

Theo sách An Nam chí lược của Lê Tắc. Năm Kỷ Dậu (1069), vua Lý Thánh Tông đem quân chinh phạt Chiêm Thành, bắt được một số tù nhân đem về kinh thành Thăng Long làm nô dịch. Về sau phát hiện trong số nô dịch có một thiền sư, vua Lý Thánh Tông vốn là người sùng đạo, bèn cho vời lên để đàm đạo. Thấy vị thiền sư đến từ nước Chiêm Thành tinh thông kinh điển, lại đức độ, thiền học có những nét mới lạ, khác so với hai thiền phái đương thời là Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông,  bèn phong làm Quốc sư (1069) và bổ nhiệm làm sư trụ trì chùa Khai Quốc. Thiền phái Thảo Đường được lập thành từ đó. Như vậy có thể coi Lý Thánh Tông là người chủ trương sáng lập ra Thiền phái Thảo Đường.  Đồng thời đây có lẽ cũng là lý do khi khai quật kinh thành Thăng Long, mang khá nhiều dấu ấn văn hóa Chăm. Sau này đem quân đi chinh phạt Chiêm Thành, do thường xuyên qua lại đất Hà Tĩnh, Lý Thánh Tông đã cho xây chùa Bụt Đà ở đây để tiện việc tu hành, hiệu của ông là Lý Đạo Thành. Tên hiệu chứng tỏ tư tưởng Đạo giáo của Lý Thánh Tông.

Khuynh hướng tư tưởng của Thảo Đường là trí thức và thi ca, lấy Đức kinh nhân học làm thiền học (Hữu thường), nên cư sĩ không nhất thiết phải tu trong chùa và vẫn được phép xây dựng gia đình và hành đạo tại gia. Bằng chứng là trong số 19 vị thiền sư của Thảo Ðường được ghi chép ở sách Thiền uyển tập anh, ta thấy có tới 9 vị không xuất gia, trong đó 6 vị là vua quan trong triều: (vua Lý Thánh Tông, vua Lý Anh Tông và vua Lý Cao Tông, quan tham chính Ngô Ích, quan thái phó Ðỗ Vũ, quan quản giáp Nguyễn Thức). Do trí tuệ uyên bác, nên học thuyết của Thảo Đường không chỉ thu hút được giới trí thức hưởng ứng mạnh mẽ, mà còn gây ảnh hưởng đến tư tưởng của hai giáo phái còn lại là Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông. Nhưng cũng vì giáo học của phái này lựa chọn bác học nhân học, nên không phù hợp để phát triển lực lượng đạo sĩ rộng rãi được nhiều tới tầng lớp quần chúng lao động. Đổi lại, thuyết học của phái Thảo Đường là nền tảng của ngành giáo dục học, hay nói cách khác là tinh hoa của Giáo dục học Việt Nam từ thế kỷ thứ XI. Suy luận tới đây, lộ thêm một dấu hỏi lớn:

- Dòng tri thức mà người Việt Nam gọi là “Nho giáo”, người khai sáng thực chất là ai? Khổng Tử? Hay chính Lý Thánh Tông đã cùng vị Quốc sư của ông tạo lập nên?

Bởi tôi xem thì thấy sách do chính Khổng Tử viết thực chất chỉ có Ngũ Kinh mà thôi? Thiết nghĩ cần có một hội thảo cho vấn đề này để bàn luận thêm.

Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Phật giáo) có nguồn gốc từ Ấn Độ, người khai sáng là Tất Đạt Đa.  Theo “Thiền uyển tập anh” thì dòng giáo phái này được du truyền vào nước ta từ thời Tiền Lê (TK X), do vị tăng thích tên hiệu là Ma-hà thuộc thế hệ thứ X của phái giáo Tì-ni-đa-lưu-chi. Tư tưởng giáo học theo khuynh hướng Vô thường, tiêu chí tu hành là tẩy trừ tham, sân, si và mục đích tu hành là mong cho bản thân sớm siêu thoát để được thoát khổ trong kiếp thứ hai. Tổ chức tu hành tuy chặt chẽ, nhưng tư tưởng giáo học đầy rẫy ảo mộng, mê tín. Chức danh của Phật giáo cao nhất là Phật, rồi tới quán âm, tăng thích, tất cả đều trai giới, không thâu nạp nữ giới, kể cả Bồ Tát cũng là nam giới giả gái. Đệ tử của Phật giáo phải ăn chay trường và không được lập gia đình. Chùa của Phật giáo thường có tháp xá lị 7 tầng, trong tháp thờ ngọc xá lị là những viên xương sót lại sau hỏa thiêu thi hài Phật Thích Ca. Chỉ một yếu tố bắt buộc của tín ngưỡng Phật giáo là “trai giới” thôi, đủ để xác minh 10 vị phò tá của ba vị công nương thời Trần – Lê không phải là các thích sư, bởi lịch sử Việt Nam thể hiện họ là các vị tướng lĩnh, là những người có gia đình, vợ con. Còn căn cứ vào dòng đạo thịnh hành của đời Trần thì rõ ràng 10 vị phò tá của ba vị Thánh mẫu, Thánh nương ở chùa Am là các đạo sĩ.

Tiếp tục hành trình ngược thời gian.

Vô Ngôn Thông, tức một kiểu tu hành không để lại lý thuyết, mục đích tu hành là rèn luyện khả năng phi phàm của con người trong vũ trụ. Đạo sĩ thường tu hành đơn chiếc, dựng am trong rừng thẳm, ẩn dật trong hang núi, nơi được cho là năng lượng vũ trụ phát tán cao. Do không có ghi chép về mặt lý thuyết, nên pháp thuật của Vô Ngôn Thông mãi là bí ẩn không lời giải. Pháp thuật phù thủy được cho là có xuất xứ từ dòng đạo này. Nhiều ghi chép ở nước ta cho rằng Vô Ngôn Thông có nguồn gốc từ Đạo Lão, thời nhà Chu. Tuy nhiên sách “Đạo giáo nguyên lưu” của An Thiền (TK XIX) viết về các nhà sư thời Hùng Vương, trong đó có câu chuyện Thiền Quang truyền đạo cho Chử Đồng Tử ở núi Quỳnh Viên (Nam Giới) ở kỷ Hùng Vương thứ III, thì lại thể hiện dòng đạo này có nguồn gốc từ dân tộc Chăm Pa của Việt Nam. Đông thời mô tả hình ảnh Thiền Quang với cây gậy và chiếc nón lá chứng tỏ vị này là đạo sĩ. Một số sách và bài viết hiện nay do thiếu suy luận một cách cẩn trọng về các dòng tín ngưỡng của Việt Nam, à uôm cả tam giáo gộp vào Phật giáo, cho rằng Thiền Quang thuộc Phật giáo đến từ Ấn Độ là không đúng, bởi ở thời vua Hùng thứ III, Phật Thích Ca chưa sinh ra đời, Ấn Độ bấy giờ làm gì đã có Phật phái?

Trong khi ở Hà Tĩnh, ngoài câu chuyện Tiên Dung Chử Đồng Tử, còn có câu chuyện truyền thuyết lịch sử khác về hai vị sư tổ nghề muối và nghề ngư ở Nhượng Bạn tên là Dang Hùng và Đông Đạo, là những người có học thuật phù thủy cao siêu, cũng chứng minh Đạo giáo xuất xứ từ vùng đất này. Lĩnh Nam trích quái cũng vậy, chép rằng vua Hùng thứ 18 là một bậc thầy phù thủy có tài ảo thuật. Cả ba câu chuyện truyền thuyết lịch sử đều thể hiện Đạo giáo có sớm nhất ở xứ Nghệ. Cho đến ngày nay, trong dân gian của vùng đất Thạch Hà, Cẩm Xuyên còn lưu truyền nhiều câu chuyện về pháp thuật của các thầy phù thủy. Ví dụ như ở Thạch Linh có câu chuyện thầy phù thủy làng này dùng pháp thuật trộm nguyên cả ngôi chùa làng kia khênh về trong đêm; hay ở Quán Độ Đen có chuyện ba bà đi cấy bị thầy phù thủy trêu ghẹo, cá chép quẫn dưới chân cả ngày không cấy được bụi lúa nào, vv...

Sử liệu Nghệ An cho thấy vào cuối đời hậu Lý, đầu đời Trần, thường xảy ra những cuộc tranh tài gay cấn giữa ba giáo phái. Tỳ-ni-đa-lưu-chi yếu thế nhất, gần như không đậu lại được trên đất Hồng Lam, trong khi thiền phái Thảo Đường của vua Lý Thánh Tông lại chiếm ưu thế. Đến đời nhà Trần, quốc sư trong Triều là Đạo Viên, nên có thể suy ra nền tảng giáo dục cơ bản vẫn là Đạo đức giáo. Bài khấn cổ còn lưu lại ở chùa Hương Tích Hà Tĩnh:

Càn Đà La

Lý Thánh Tông

Trần Nhân Tông

Nhị tổ Pháp Loa

Tam tổ Huyền Quang

Càn đà la, chữ đà này có lẽ là đà long ()nghĩa là rồng, cho nên tôi suy đoán nghĩa của Càn đà la Hoàng Thiên Hậu Thổ nước Nam. Dưới Càn Đà La tới Lý Thánh Tông, chứng tỏ Trần Nhân Tông chú trọng tiếp nối Đạo học của Thiền phái Thảo Đường đời Lý và rõ ràng là không có Thích Ca Mâu Ni trong bài khấn?

Ngoài chứng cứ Đạo Viên là quốc sư triều Trần, thì việc phong hiệu thụy cho Trần Quốc Tuấn là Hưng Đạo Đại Vương, cũng chứng tỏ Đạo giáo là Quốc đạo triều Trần. Đến thế kỷ thứ XIX, hiệu của Phan Huy Ích là Bảo Chân đạo nhân; hiệu của Nguyễn Đạm (Nguyễn Hành) là Hải Điền đạo nhân; còn hiệu của Nguyễn Du là Hồng Ngự cư sĩ, chứng tỏ họ đều là các đạo sĩ. Sử liệu thể hiện văn nhân chí sĩ đất Hồng Lam từ triều Lý – Trần – Lê – Nguyễn đều là cư sĩ của Đạo giáo, các ngôi chùa trên núi Hồng Lĩnh đều là chùa Đạo.

Như vậy có hai vấn đề cần kết luận:

- Một là lý thuyết của Thiền phái Thảo ĐườngThiền phái Trúc Lâm là sự tích hợp Đạo Đức giáo, chứ không hề là Phật giáo. Là thứ tôn giáo học có nền tảng lâu đời từ Văn minh Đông Sơn, do vua Việt biên soạn để giáo dục dân Việt, bản quyền chính thống của dân tộc Việt Nam, chứ không phải là thứ di truyền từ Phật Thích Ca ở nước Ấn Độ như ngày nay vẫn tuyên truyền? Từ đó cần suy luận rằng Lý Thánh Tông, hay  Trần Nhân Tông chưa bao giờ là đệ tử dưới trướng của Thích Ca Mâu Ni?Các Ngài là Bụt Đà và Trúc Lâm Đầu Đà của dòng Việt Đạo chính thống có nguồn gốc bản địa từ hai dân tộc Việt và Chăm.

- Hai là phụ nữ Việt Nam thời phong kiến được giáo dục “xuất giá tòng phu” cho nên không lý nào tư tưởng giáo lý của triều Trần là Đạo Đức giáo mà ba vị hoàng hậu, công chúa lại theo Phật giáo được cả? Mà có muốn theo cũng không được vì Phật giáo quy định chỉ có trai giới mới là đệ tử?

Xét về năng lực linh thần trong tín ngưỡng thờ cúng, hai trong ba vị công nương là Quốc từ mẫu của nước Đại Việt, với ngôi vị và công trạng đó, khi siêu thoát hai bà sẽ hiển linh Thánh Mẫu, còn Trang Từ công chúa là Thánh Nương trong lòng dân. Linh hồn ba bà là linh khí dân tộc, còn Phật Thích Ca dẫu linh thiêng cỡ nào thì vẫn chỉ là linh hồn ngoại tộc, tư cách làm sao sánh bằng ba bà đây?

Chùa Đạo trên đất Hồng Lam thường là nơi có thần khí rất mạnh, linh thiêng vì năng lượng nguyên khí quốc gia tụ hội ở đây. Bằng chứng là bất kỳ triều đại nào trong lịch sử, thì vùng đất dưới chân núi Hồng Lĩnh luôn là cái nôi sản sinh, dạy dỗ nên, hoặc là nơi bảo hộ an lành cho những con người phi thường tên tuổi của nước Nam. Những nơi như thế ngoại đạo không được phép thâm nhập.

Nay đem kinh Phật vào “nam mô a di đà” ở chùa Am, hay bất kỳ ngôi chùa nào thờ cúng các công thần nước Việt e rằng đều hỗn đạo?

Chuyện một dòng tín ngưỡng lan truyền từ nước này sang nước nọ là bình thường không có gì đáng phải xì xào bàn tán. Phật giáo, hay Thiên Chúa giáo đều nên tôn trọng. Với điều kiện đã gọi là dạy đạo và học đạo thì phải thể hiện tôn ti trật tự của đạo lý. Truyền đạo và theo đạo là quyền tự do công dân, nhưng hành xử không đúng với lẽ đạo thì việc cầu nguyện không đem lại hiệu quả. Hậu duệ của Việt tộc hôm nay cần tỉnh trí để mà hiểu rằng: Chẳng thà vô thần thì khỏi bàn, nhưng mỗi khi trong lòng đã có đức tin vào thần linh, thì đức hiếu đễ, lòng thủy chung của người sùng đạo nằm trong câu cửa miệng truyền đời: “Tổ - Sư – Cha”! Gọi là xưa, nhưng chỉ mới gần đây thôi, khoảng từ thập kỷ 70 đổ về trước của thế kỷ XX, người Việt luôn có án thờ ba đấng tối cao này trong nhà. Đối với văn miếu, chùa, đình, thì Hoàng Thiên Hậu Thổ, thành hoàng bản địa và linh hồn các chư vị công thần mới là đấng tối cao nhất trong tín ngưỡng của người Việt. Phật Thích Ca chỉ là ngoại đạo và không hề là duy nhất thống lĩnh thế giới tâm linh, mà đơn thuần chỉ là người sáng lập một dòng tư tưởng tín ngưỡng trong nhiều dòng tư tưởng tín ngưỡng của loài người trên thế giới mà thôi. Huống hồ chi Đại Việt ta vốn từ xưa đã có Thảo Đường, Trúc Lâm làm chính đạo? Linh hồn của Bụt Quang, Chử Đồng Tử, Lý Thánh Tông, Trần Nhân Tông và các vị Tổ khai sinh ra 54 dân tộc của nước Việt Nam không hề thấp kém về năng lực phù trợ hơn bất kỳ Giê Su, hay Thích Ca. Đặc biệt là Thần Nông Việt Thủy Tổ - Người đã để lại cho loài người cả một nền tảng Văn hóa Đông phương đặc sắc thì năng lực là cao siêu vô bờ!

Vì sao phải nhấn mạnh điều này?

Bởi vì người Việt hôm này đang bị nghe quá nhiều đệ tử của Phật dọa dẫm rằng không niệm Phật là vô thần? Khiến cho dân chúng dao động, hoảng loạn, u mê, lao như thiêu vào chỗ có đệ tử của Phật trụ trì để bái lạy, để lễ lạt tiền bạc tốn vô số kể, xã hội náo loạn chùa chiền chưa bao giờ là như bây giờ !?

Thiết nghĩ, giáo lý Phật giáo vốn nêu cao tinh thần tẩy trừ tham, sân, si. “Nam mô a di đà Phật” vào nơi thờ tự bậc quốc vương, quốc mẫu, quốc thánh, vốn là chốn linh thần tôn kính bậc nhất của nhân dân Việt Nam, lại là các đạo sĩ của Đạo giáo, há chẳng phải các đệ tử của Phật phái đang đi ngược tứ pháp giới của mình, phạm vào tham, si rồi sao ?  Đó là chưa kể đến mâu thuẫn trong hủ tục thờ cúng. Các đạo sĩ không chay tịnh như các thích sư, nên xưa nay trong các đền chùa Việt Nam, các chư vị Việt Thần Tiên vẫn được nhân dân dâng lễ có đủ cả xôi, gà, cá, thịt.  “A di đà Phật” vào nơi như thế, chả nhẽ đệ tử của Phật muốn thử thách Phật ư?

            

Ý kiến bạn đọc:
Nguyễn Xuân Hiếu

Đọc bài của Phlanhoa tôi thấy phần lý luận có vẻ đúng. Nhưng tôi còn phân vân ở chỗ nếu không “nam mô a di đà Phật” thì lấy kinh nào để cầu trong chùa bây giờ?

Phlan hoa phản hồi

Câu hỏi của Bác hay lắm. Nhưng Phlanhoa nghĩ không mấy khó để trả lời. Ví dụ như trong bài tôi có nói rằng lời khấn cổ ở Hương Tích là :

Càn Đà La

Lý Thánh Tông

Trần Nhân Tông

...

Không chỉ thế thôi đâu, chùa Hương Tích còn có nhiều kinh cũ như “Kinh Dược sư” để cầu sức khỏe cho bá tính chẳng hạn. Xin nhớ cho đây là kinh cũ của chùa, nhưng bây giờ hoặc do thiếu hiểu biết, hoặc do cố ý, sư trụ trì bỏ Càn Đà La / Lý Thánh Tông / Trần Nhân Tông đi và thế vào là “nam mô a di đà Phật”, nghĩa là râu ông nọ chắp cằm bà kia. Và trong cái sự chắp râu lộn cằm, các sư trụ trì đã để cho Thích Ca ăn trên ngồi trốc so với các vị vừa là vua, vừa là Đầu Đà của VN?

Nhiều chùa khác ở VN cũng còn lưu giữ kinh kệ riêng của chùa, nhưng cũng đã bị lắp ghép “nam mô a di đà Phật” một cách khiên cưỡng vào. Bởi thế tôi mới mong mỏi có một sự nghiên cứu nghiêm túc bao gồm cả hiệu đính và dịch nội dung kinh cầu thành chữ quốc ngữ, tiện cho dân chúng biết thần tiên trên đầu mình là ai...

 

Phạm Văn Tình

Nam mô Trúc Lâm Đầu Đà! Nam Mô Thần Tiên nước Việt!

Chí lý lắm cô à! Từ nay cháu sẽ nguyện câu này khi đi chùa

Phlanhoa phản hồi

Cảm ơn cháu giác ngộ.

Nhưng cháu tụng thế này "Đức lưu quang Thần tiên nước Việt" cô cá với cháu là linh nghiệm luôn,đặc biệt là giao thông đi đường, cứ câu ấy mà tụng sẽ thấy an lành

Duy Bến

TỪ KHI ĐỌC BÀI CỦA EM ( KHÔNG NAM MÔ...) KHÔNG NHỚ CỤ THỂ LÀ THỜI GIAN NÀO CHO ĐẾN HÔM NAY ĐỌC BÀI NÀY THẤY ĐÚNG, KHÔNG MƠ HỒ NHƯ ĐÃ THÀNH THÓI QUEN NAM MÔ A DI...ANH KHÔNG THEO ĐẠO NÀO NHƯNG CÓ ĐỨC TIN SAU HƠN NỬA ĐỜI TRẢI NGHIỆM. CÁM ƠN EM.

Phlanhoa phản hồi

Cảm ơn anh đã thấy đúng. Em rất mong mỏi sẽ có nhiều người VN thấy đúng để "Nam mô Thần Tiên nước Việt". Chỉ cần có nhiều người Nam mô Thần Tiên nước Việt thì linh khí nước Nam sẽ tăng lên...

Sáu Miệt Vườn

MÌNH CHỈ ĐỌC TỚI PHẦN "XEM THÊM" TỰ DƯNG MÌNH NHỚ TỚI LỜI CHA MÌNH NÓI "NHÂN HƯ CHỨ ĐẠO BẤT HƯ" MÌNH HIỂU TỪ "HƯ" Ở ĐÂY LÀ HƯ HỎNG, HƯ ĐỐN. THÀNH RA CÁI BÁT NHÁO NƠI CỬA THIỀN BẤY LÂU NAY LÀ DO NGƯỜI TẠO RA CHỨ KO PHẢI PHẬT O NHỈ.

Phlanhoa phản hồi

TBT cũng gọi các đồng chí của mình là "Bọn tham nhũng" một cách vô tư, giường như vua không bao giờ có tội í mà. Phật mà linh thì đâu có đến nỗi loạn đạo hả bạn? 

Trần Văn Thuyên

Lần đầu vào ĐẠI NAM LẠC CẢNH rất hoành tráng ở Bình Dương gần TP.HCM. Kim Điện gian giữa thờ:Trên cùng là Phật,thứ đến VUA HÙNG thứ ba là...Tôi có góp ý sao lại để dân tộc sau Phật.Theo thời gian thì vua Hùng có trên 4000 năm còn Phật mói 2.500 năm thôi.Về ý nghĩa thì có dân tộc,đất nước mới có Phật.Sau đó họ đã sửa...chán thế o ví ạ.Ôi các nhà văn hóa.Bây giờ cái gì không giải thích họ cho là tâm linh là xong hết.Bài viết của em rất hay,chúc em vui

Phlanhoa phản hồi

Họ đã sửa là quá tốt rồi anh à.

Thái Xuân Nguyên

Bài viết của em thật công phu và chí lý. Anh mới đi viếng các chùa ở Yên Tử về, Đang có sẵn ý nghĩ về Đạo giáo Việt Nam nên rất tâm đắc với bài viết này.

Cám ơn em.

Phlanhoa phản hồi

Nam mô a di đà phật hay không là tùy đức tin của mỗi người anh à. Nhưng với điều kiện là đến chùa Phật. Còn nơi Yên Tử thì chỉ nên "Nam mô Trúc Lâm Đầu Đà" chắc chắn sẽ không lo lỗi đạo.

Em cảm ơn anh ạ.


Để gửi ý kiến nhấp vào đây

Các tin khác:
 Lạm bàn cùng ông Hà Văn Thùy về bài viết: (17h: 19-02-2016)
 Dấu tích nhà nước Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam (08h: 24-12-2014)
 Phụ lục 8: Những di chỉ, di cốt trong các hố khai quật ở Nghệ Tĩnh nói lên điều gì? (18h: 12-04-2015)
 Cuộc chiến Việt – Chăm trong lịch sử và nghi vấn về sự tích Đế Minh Thần Nông (11h: 02-04-2015)
 Những người con yêu nước, nhưng đối lập về tư tưởng đường lối cứu nước của đất Hồng Lam trong thời kỳ chống Pháp (1884 – 1954). (22h: 09-03-2015)
 Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ - Hai con chim đầu đàn, có công lớn trong việc phát triển và bảo tồn hai di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại: Ca trù và Ví dặm. (12h: 13-02-2015)
 Thực hư của “Cột đồng Mã Viện” và “Tấu thư Cao Biền” (15h: 17-01-2015)
 Các nàng hằng nga tái thế ở La Giang làm thống lĩnh công tác hậu cần trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh của vua Lê Lợi (11h: 15-01-2015)
 Sự tích “Cá gáy hóa rồng” ở thác Vũ Môn liên quan đến lịch sử hai lần khởi đánh quân Nguyên Mông của nhà Trần. (00h: 11-01-2015)