Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
Hậu bàn của bài : “Đối nghĩ cùng 30 điều triết lý của thiền sư Thích Nhất Hạnh”
 
(17h: 26-07-2016)
Hậu bàn của bài : “Đối nghĩ cùng 30 điều triết lý của thiền sư Thích Nhất Hạnh”P/s: 1. Vì lý do ý kiến bàn luận của bạn đọc cuả bài “Đối nghĩ cùng 30 điều triết lý của thiền sư Thích Nhất Hạnh” quá dài, nên Phan Lan Hoa cắt thành entry mới cho tiện theo dõi.
***


Lời mở đầu:

1. Vì lý do ý kiến bàn luận của bạn đọc cuả bài “Đối nghĩ cùng 30 điều của ngài Thích Nhất Hạnh” quá dài, nên Phan Lan Hoa cắt thành entry mới cho tiện theo dõi.

2. Vì phần ý kiến của mọi người phải giữ nguyên văn, nên phần phản hồi của Phan Lan Hoa (O Ví) cũng phải nương theo hành văn hội thoại.

3. Bài viết của tôi gói gọn trong nội dung 30 điều của ngài Thích Nhất Hạnh, mà tôi đọc thấy nhiều chỗ không tâm phục. Nhưng có vẻ như xưa nay ở Việt Nam ta ít ai dám động đến nhà Phật, bây giờ có người cả gan động đến, thì các đệ tử nhà Phật lập tức động lòng, nên ý kiến phản ứng bung ra bao trùm cả nhiều vấn đề của Phật giáo? Quý vị chụp mũ rằng tôi không hiểu gì về triết lý Phật giáo. Xin thưa, tôi không là đứa trẻ “còn bú mớm” như cô giáo Lam nói, mà là người nhớ kỹ lời răn dạy của cha ông mình “uốn lưỡi chín lần trước khi nói; suy nghĩ chín lần trước khi hành động”. Cho nên bất kể là giáo lý của Phật, hay hiến pháp nước Mỹ thì tôi cũng sẽ phải soi xét ở mức độ phù hợp về nội dung hay không? Tuyệt đối không cắm mặt để nghe rao giảng những điều khó hiểu, thậm chí là vô nghĩa. Nay vì quý vị đã có lời bàn, nên tôi tiện việc phải bàn rộng thêm. Âu cũng là cơ hội để tôi bày tỏ rằng tôi đã dày công nghiên cứu khá nhiều về lý thuyết Phật giáo, thì mới có cơ sở so sánh mọi bề. Vậy dưới đây là lời bàn tiếp theo của tôi cùng anh Tín Nhiệm...       

        Cô em thân mến!

Anh định chấm dứt trao đổi với em vì đã 2 cảm nhận trong một entry này cũng khá đủ, dù không bàn đến nội dung chi tiết em đưa ra nhưng bàn nhiều đến câu mở đầu của em do em ghi rõ nhà phật nói. Em cũng có ý định không bàn nữa ở phần cuối gợi ý cho mọi người. Nhưng sáng nay anh lại thấy em trích thêm một đoạn kinh và hỏi xem có minh triết không. Phần này khá quan trọng nên anh lại phải nói.

Qua liệt kê những gì em đã đọc, xem ra em đọc nhiều hơn anh và em phát hiện những bất hợp lý nhiều hơn anh. Vấn đề ở chỗ em quy tất cả lỗi lầm ấy là cho Thích Ca. Anh vẫn thấy những sai lầm ấy, dù ít hơn em, vì anh đâu đủ sức đọc nhiều vậy, nhưng anh không quy cho Thích Ca. Với anh Thích Ca là người giúp ích để tìm ra cách giảm bớt khổ đau cho nhân loại và mang cuộc cách mạng tri thức đến cho loài người. Người đó không thể có những lập luận ngây ngô được.

Vậy vấn đề nắm ở chỗ nào? Nếu nói thật chỗ này sẽ có rất nhiều đụng chạm, tất nhiên không phải đụng chạm với em, vì có đụng với em anh không ngại và em dù đọc nhiều kinh nhưng không phải là phật tử. Vấn đề là đụng chạm đến hàng triệu phật tử từ lâu đã xem đạo phật là một tôn giáo và nguyện tin răm rắp những hiểu biết qua kinh phật.

        Vậy anh bắt đầu từ kinh kệ nhé. Em biết rõ sau khi thành đạo phật giảng dạy bằng lời nói, đệ tử ngài cũng truyền nhau những lởi dạy của ngài qua trí nhớ của mình. Thậm chí ngay sau khi ngài qua đời. Các đê tử thân gần nhất triệu tập cuộc họp để nhớ lại những lời dạy của ngài cũng qua trí nhớ bắt đầu tôi nhớ là…họ sợ quên nên phải tập trung lại để học thuộc lòng rồi truyền cho đời sau cũng bằng lời nói. Qua vài thế hệ thì những lời truyền ấy đã bị biến dạng và họ đã thấy một số điều bất hợp lý và thấy những điều có lý hơn thế họp nhau hai lần nữa để chỉnh lý. Khi chỉnh lý thì những vị nào có lý lẽ thì đưa thêm những điều mới và lượt bớt những điều không tùy ý mình. Đợt chuyển những lời dạy của Phật ghi ra chữ viết theo phái Nguyên thủy thì khoảng 500 năm sau khi Thich Ca qua đời, nhưng những nhà sử học căn cứ sử liệu đôi khi cho thấy từ khoảng 800- đến 1000 năm sau được ghi trên lá khô. Đó mới là tóm tắt kinh kệ của một nhánh tu gọi là nguyên thủy. Đạo phật còn một nhánh tu nữa gọi là Đại Thừa, cũng gồm 3 tạng kinh nhưng nguồn gốc rất không rõ ràng. Khi qua tới Trung Quốc nhánh này lại du nhập và xáo trộn đủ thứ gồm cả Ấn độ giáo, Lão giáo và tạo thêm hàng trăm tông phái, trong đó có thêm Mật Tông và Kim Cang thừa với những lối tu rất lạ lùng nhưng đầu cho rằng do Thích ca dạy. Nhánh này có những giáo phái lớn như Tây Phương Cực Lạc của A Di Đà gọi là tịnh độ tong, và nhiếu tông nữa như Hoa Nghiêm Tông, Thiên Thai Tông, Trung Quán Tông, Duy Thức Tông….đều có kinh sách riêng và hầu như không ai dùng và chấp nhận kinh sách của tông phái khác. Đó là lý do vì sao Thiên chúa giáo từ đầu đến cuối chỉ một bộ kinh thánh duy nhất ghi lại "lời dạy nguyên văn từng chữ từng câu trực tiếp từ Thiên Chúa được ghi chép lại bằng cách thông linh qua tín đồ". Trong khi đó Phật giáo có hàng ngàn vạn kinh sách khác nhau. Nói chung kinh là lời truyền dạy của Phật Thích Ca (và có khi của các Phật khác, các Tổ khác) đã được ghi chép và diễn giảng lại bởi tín đồ. Những gì trong kinh Phật không phải là nguyên văn lời dạy trực tiếp của Thích Ca. Đó là điều cần khẳng định đấy em ạ.

        Vậy làm sao để biết những gì Thích Ca đã dạy. Đấy chính là nhiệm vụ của người nghiên cứu. Và nếu đọc kỹ ta vẫn thấy những nhánh lớn tuy dùng nhiều kinh kệ khác nhau nhưng đều nhắc tới “vôi ngã” “Vô thường” “tứ diệu đế” đấy có thể là những lời nói ra từ THích ca. Còn nếu cho rằng không đúng nữa thì tốt nhất khỏi nghiên cứu cho mắc công.

        Cái quan trọng là Thích Ca thấy khổ đau và tìm cách hiểu rõ khổ đau và cách diệt khổ rồi hướng dẫn cho mọi người đã là hoàn thành sứ mệnh rồi. còn thêm “Đầu thai”;“Tây phương Cực lạc”; “luân hồi” "kiếp sau" để hưởng cực lạc…là khá xa lạ với Thích Ca. Mà nếu có những thế giới đó thì tu chi cho mệt, chỉ cần ngồi tụng mãi sẽ thành thôi? Nói cách khác, khi cầm bất cứ quyển kinh Phật hiện hành nào mà tuyên bố “Phật dạy rằng…” hay “Đây là Phật chánh pháp…” thì cái xác xuất “đúng” của câu phát biểu đó là rất nhỏ

        Do phật có dạy mà anh hay tóm ý là hãy tin sau khi đã hiểu còn nói theo văn chương có thể trích Thích Ca nói “Đừng tin điều gì hết, bất kể con đọc nó ở đâu hay nghe ai nói, kể cả ta nói, trừ khi lý trí và lý lẽ thực tế của chính con đồng ý với điều đó” và “… Ta là Phật đã thành, chúng sanh là phật sẽ thành” người đã có chủ trương như vậy thì không thể là một giáo chủ đầy huyền năng được, và người truyền đó chỉ nên gọi là bậc đạo sư là người dẫn đường cho đúng nghĩa.

        Thôi anh tạm dừng Có thể không bàn thêm ở đây nữa

        Chúc nhiều thành công

***

Phan Lan Hoa hồi đáp

Anh Tín Nhiệm kính quý

Ý kiến lần này của anh mâu thuẫn với ý kiến đã thảo luận trước của anh ở chỗ dưới đây:

- Ý kiến trước anh Tín Nhiệm phê bình O Ví là trích dẫn "chưa đúng mực" và em trả lời làm gì biết được nội dung bản kinh Phật nào là đúng mực, toàn tam sao thất bản. Bây giờ chính anh cũng thừa nhận kinh Phật không còn nguyên văn?

Anh TN viết:

“Ngài có tình yêu, có vợ rồi có con. Khi thấy nỗi khổ của chúng sanh ngài tìm hiểu nguyên nhân gây đau khổ, rồi tìm cach diệt khổ. Khi tìm được rồi ngài truyền cho mọi người.”

“Những gì trong kinh Phật không phải là nguyên văn lời dạy trực tiếp của Thích Ca. Đó là điều cần khẳng định đấy em ạ.”

“Đợt chuyển những lời dạy của Phật ghi ra chữ viết theo phái Nguyên thủy thì khoảng 500 năm sau khi Thich Ca qua đời, nhưng những nhà sử học căn cứ sử liệu đôi khi cho thấy từ khoảng 800- đến 1000 năm sau được ghi trên lá khô.” 

Để bàn luận được thấu đáo, đoạn chữ in nghiêng màu nâu này là O Ví trích nguyên văn từ trang thông tin điện tử chính thống của Phật Giáo:

“Nhận ra bốn tướng khổ ở đời (trích Lược sử đức Phật Thích Ca Mâu Ni - http://phatgiao.org.vn)

Một hôm, nhân ngày lễ Hạ điền, Thái tử theo vua cha ra đồng xem dân chúng cày cấy. Cảnh xuân, mới nhìn qua, thật là đẹp mắt, nào hoa lá tốt tươi, muôn chim đua hót; nào bầu trời quang đãng, gió xuân phơi phới. Cảnh tượng có vẻ thái bình, an lạc lắm. Nhưng tâm hồn Thái tử không phải là một tâm hồn hời hợt, xét đoán một cách nông nổi. 

Trái lại, Ngài nhìn sâu vào trong cảnh vật và đau đớn nhận thấy rằng cõi đời không đẹp đẽ an vui như khi mới nhìn qua. Ngài thấy người nông phu và trâu bò làm việc một cách cực nhọc dưới ánh nắng thiêu đốt, để đổi lấy bát cơm, nắm cỏ. Chim chóc tranh nhau ăn tươi nuốt sống côn trùng đang giãy giụa trên những luống đất mới cày. 

Cũng trong lúc ấy, trong bụi rậm người thợ săn đang nhắm bắn những con chim kia, và trong khu rừng gần đấy, bọn hổ báo đang rình bắt người thợ săn. Thật là một cảnh tương tàn tương sát, không phút giây nào ngừng! Chỉ vì miếng ăn để sống mà người và vật dùng đủ mọi phương kế để giết hại lẫn nhau không biết gớm. Ngài nhận thức rõ ràng sự sinh sống là khổ.  

Một hôm khác, Ngài xin phép Vua cha đi dạo ngoài bốn cửa thành để được tiếp xúc với thần dân. Ra đến cửa Ðông, Ngài gặp một ông già tóc bạc, răng rụng, mắt lờ, tai điếc, lưng còng, nương gậy lần từng bước ngập ngừng như sắp ngã. 

Ðến cửa Nam, Thái tử thấy một người đau nằm trên cỏ, đang khóc than rên siết, đau đớn vô cùng. 

Ðến cửa Tây, Ngài trông thấy một cái thây chết nằm giữa đường, ruồi lằng bu bám, và sình lên, trông rất ghê tởm. 

Ba cảnh khổ già, đau, chết, cộng thêm vào cái ấn tượng tương tàn trong cuộc sống mà Thái tử đã nhận thấy khi đi xem lễ cày ruộng, làm cho Ngài đau buồn, thương xót chúng sinh vô cùng. 

Một hôm khác nữa, Ngài ra cửa Bắc, gặp một vị tu sĩ tướng mạo nghiêm trang, điềm tỉnh thản nhiên như người vô sự đi ngang qua đường. Thái tử thấy trong lòng nảy sinh một cảm mến đối với vị tu sĩ. Ngài vội vã đến chào mừng và hỏi về ích lợi của sự tu hành. Vị Sa môn đáp rằng: "Tôi tu hành là quyết bỏ dứt mọi sự ràng buộc của cõi đời, về cầu cho mình khỏi khổ và thành chính giác để phổ độ chúng sinh đều được giải thoát như mình"  

Lời giải đáp trúng với hoài bão mà Thái tử đang ấp ủ bấy lâu, nên Ngài khôn siết vui mừng. Ngài liền trở về cung xin vua cha cho mình xuất gia. Vua Tịnh Phạn không nhận lời. Thái tử yêu cầu vua cha bốn điều nếu vua giải quyết được thì Ngài hoãn việc đi tu, để trở lại lo chăn dân, trị nước. Bốn diều này là:  

1. Làm sao cho con trẻ mãi không già 

2. Làm sao cho con mạnh mãi không đau 

3. Làm sao cho con sống hoài không chết 

4. Làm sao cho mọi người hết khổ 

Bốn điều này làm cho vua cha bối rối, không giải quyết được điều nào cả.” 

...

Sau khi vứt bỏ khỏi cuộc đời vương giả, Thái Tử đi vào vùng sdsâu *tìm Ðạo. 

Ban đầu Ngài đến ở tu với các vị tu khổ hạnh. Nhưng hạng người này sống một cách kham khổ, nhịn ăn nhịn uống, dãi nắng, dầm sương, hành thân hoại thể một cách ghê rợn. Thấy cách tu hành như thế không hiệu quả, Ngài khuyên các vị đó nên bỏ phương pháp tu hành ấy, nhưng họ không nghe. 

Ngài lấy làm thương họ, nên tìm đi nơi khác để tu hành. Ngài đi hết chổ này đến chổ khác, ở đâu nghe có một vị tu hành đắc đạo thì Ngài tìm đến học; nhưng đến đâu thì Ngài thấy đạo của họ vẫn còn hẹp hòi, thấp thỏi, không thể giải thoát cho con người hết được. Từ đấy Ngài * chốn tu tập một mình, đêm ngày nghiền ngẫm đến đạo giải thoát, quên ăn bỏ ngủ thân hình mỗi ngày mỗi tiều tụy. Một hôm Ngài kiệt sức, nằm ngã liệt trên cỏ, và được một người chăn cỏ đến đổ sủa cho Ngài tỉnh lại.

Từ đó Ngài nhận thấy nếu muốn có kết quả, cần phải bổ dưỡng thân thể cho được mạnh khỏe, chứ không bỏ quên nó đi được.

Khi thấy mình đủ sức khỏe để chiến đấu trong trận cuối cùng với bóng tối si mê và dục vọng, và đem lại ánh sáng giác ngộ, Ngài đến ngồi nhập định dưới gốc cây Bồ Ðề và thề rằng: "nếu ta không thành đạo thì thịt nát sương tan, ta cũng quyết không rời chỗ này." 

 

Chỗ này O Ví xin được đưa lời bàn như sau:

Không phải ngài Thích Ca tìm cách diệt khổ? Theo em ta nên dùng chữ “thoát khổ” thì mới đúng. Tư tưởng ban đầu của đạo giáo Ấn Độ thời đó là “phải tận khổ mới đạt đạo”. Ngài Thích Ca ban đầu là tuân thủ triết lý đó nơi quê hương ngài. Nhưng tận khổ rồi mà vẫn không đạt được gì, nên ngài ấy đi tìm con đường mới và chân lý của ngài Thích Ca là không nhất thiết cần phải “tận khổ” vẫn có thể đạt đạo. Điều đó không có nghĩa là “diệt” được khổ?

Ngài Tất Đạt Đa quyết định ăn uống trở lại sau khi:”... Ngài kiệt sức, nằm ngã liệt trên cỏ, và được một người chăn cỏ đến đổ sữa cho Ngài tỉnh lại...”, nhưng không bình thường, mà là ăn chay. Nghĩa là ngay thời khắc ngồi dưới gốc bồ đề, tư tưởng tận khổ vẫn chưa hoàn toàn được rửa sạch trong đầu ngài. Dù sao thời của ngài cũng đang chìm sâu trong thế giới đầy rẫy duy tâm, cho nên quan niệm về tiền kiếp còn rất nặng nề. Mục đích hỏa thiêu thân thể để được siêu thoát ngay không phải qua kiếp trần ai thứ hai ở dưới đất cũng vậy, cũng là sự thể hiện quan niệm mới của ngài, không cần phải tận khổ vẫn có thể siêu thoát. (Vấn đề nên thiêu hay chôn thân thể người qua đời, O Ví đã có đặt dấu hỏi bàn tới ở bài “linh hồn” và năm 2018 sẽ xin bàn  lại thông qua những gì em đọc được trong trời đất nước Nam).

Như vậy thì sự việc đã khá rõ ràng. Ngài Tất Đạt Đa cũng chỉ như bao vị vua và thái tử, cũng như người đứng đầu các dòng đạo khác trên thế giới, mong mỏi tìm cách làm cho dân mình ấm no hạnh phúc và mỗi người đều vì dân mà tự tìm ra một đường lối giúp dân thoát khổ khác nhau. Vị vua, giáo chủ sẽ được coi là minh chủ khi đường lối của mình đem hạnh phúc cho bá tính. Vấn đề giác ngộ để thoát khổ đến nay chưa ai đủ tài chứng minh được? Vấn đề tiền kiếp, hậu kiếp có hay không chỉ là ảo ảnh, cho nên mọi lý thuyết về thoát khổ của ngài Thích Ca vẫn chỉ là sự mập mờ hư thực? Vậy thì làm sao anh Tín Nhiệm và các đệ tử nhà Phật giám khẳng định rằng: “Thích Ca là người giúp ích để tìm ra cách giảm bớt khổ đau cho nhân loại và mang cuộc cách mạng tri thức đến cho loài người.”?

Vậy mà hiếng con mắt vào thực tế để lấy làm chứng minh ta lại thấy, những nước thịnh về Phật giáo đang là những nước nghèo nàn lạc hậu trên thế giới. Đồng thời những người tu hành vẫn đang tận khổ hơn so với người bình thường?

Còn ở nước Nam, những điều thất đạo ngày càng nhiều và đang treo lơ lửng họa hại trên đầu vạn vật: độc tố, tham nhũng, án oan, âm mưu hủy diệt văn hóa lịch sử dân tộc Việt, cướp biển, vv... Rứa mà nhiều lắm, dân Việt đang đội Phật lên đầu đấy, đội đến mức u mê quên cả Tiên – Sư, mải mê "nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật" mà có thoát khổ, thoát thảm họa được đâu ?

Bởi vậy, điều O Ví muốn nói với các đệ tử nhà Phật là: Đừng thổi phồng quá quắt mọi điều về Phật ?! Cốt lõi đáng bàn trước mắt là nhà Phật dạy bá tính hướng thiện, vậy thì đệ tử chính thống của Phật trước hết phải là người chân thành từ tâm, không dối lừa bá tính chứ nhỉ?

Tuy nhiên căn cứ vào lịch sử có thể nói rằng thời của ngài Thích Ca đã có chữ Phạn, và trong bản dịch, em đọc thấy nói rõ các pháp luân mà em kể tên trên là do chính tay ngài Tất Đạt Đa viết). Trên lá cây, hay ở đâu thì cũng là viết vậy.

Anh NH nói: Vậy làm sao để biết những gì Thích Ca đã dạy.”?

Vậy thì làm sao ta chắc chắn được: “Thích Ca là người giúp ích để tìm ra cách giảm bớt khổ đau cho nhân loại và mang cuộc cách mạng tri thức đến cho loài người.”?

Anh TN nói: “Vấn đề ở chỗ em quy tất cả lỗi lầm ấy là cho Thích Ca? “

Đây là câu chụp mũ đổ tội mà em Ví đã phản ứng ở lời bàn trước rồi? Trong tất cả các bài viết có nhắc đến Phật giáo, chưa có câu nào O Ví nói rằng “lỗi tất cả là tại Thích Ca”?

Em xin phép lại bàn thêm về các phái, mà em có cảm tưởng khi được ngợi ca thì các đệ tử của Phật nhận phần về mình, còn khi có phản ứng thì lại phủi đi theo kiểu “đó là các tông phái sao nhái?”: Theo Mật tông kinh, Phật giáo chính thống chỉ có hai phái : Thai Tạng giới và Kim Cang giới. Mỗi phái đều được bố trí theo sơ đồ TW và 4 phương nam bắc đông tây.

Năm phương Phật trong Thai Tạng Giới là:

Trung ương Đức Tỳ-lô-giá-na.

Đông phương Bảo Tràng Như Lai.

Nam phương Khai Phu Hoa Vương Như Lai.

Tây phương A-di-đà Như Lai

Bắc phương Thiên Cổ Lôi Âm Như Lai và các chư tôn Bồ-tát.

Năm phương Phật của Kim Cang Giới là:

Trung ương Đức Đại Nhật Như Lai.

Đông phương A-súc-bệ Như Lai.

Nam phương Bảo Sanh Như Lai.

Tây phương Vô Lượng Thọ Như Lai.

Bắc phương Bất Không Thành Tựu Như Lai và các chư tôn Bồ-tát

Như vậy có khi lại hay. Bởi khi bàn vào một cách cẩn thận, lại thì lộ ra rõ ràng hơn vấn đề  mà O Ví đã đưa thắc mắc tại bài “Viếng chùa Am đâu hoài Lạc Đạo” rằng: nhiều giáo pháp ở Việt Nam không phải của Phật giáo?

Rứa thì vấn đề O Ví lên án là gì?

- Xin thưa là chữ “tham” lớn hơn trời của giới Phật giáo Việt Nam. Cái tham nằm ở đâu O Ví đã nói rõ trong bài “Viếng chùa Am đâu hoài Lạc Đạo”.

Cần phải phân biệt các phái Thiền tông và Phật giáo là hai khái niệm khác nhau. Phật giáo và Đạo giáo cũng là hai dòng giáo lý khác nhau. Cho nên ta không thể gọi gộp các phái thiền là của Phật giáo? Cũng như không thể gộp Đạo giáo và Phật giáo thành một như cách gọi “Đạo Phật?” của anh TN và nhiều người hiện nay vẫn gọi? Tên chính thống của Phật giáo VN là “Hội Phật giáo Việt Nam”, ban lãnh đạo được gọi là “Trung ương hội Phật giáo Việt Nam” không có chữ Đạo anh à. Sự khác nhau về quan niệm Đạo và Đức giữa tam giáo ở Việt Nam, em đã có bàn luận sơ sơ tại ý kiến của nhà báo CN rồi ạ.

Theo sử sách Trung Quốc thì thiền và khí công Trung Hoa xuất phát từ Đạo Lão. Song theo sử sách của Việt Nam thì thiền của VN có từ thời Hùng Vương thứ III, thông qua câu chuyện “Tiên Dung – Chủ Đồng Tử”. Trong câu chuyện đó, Tiên Dung  - Công chúa con vua Hùng thứ III đã cùng với Chử Đồng Tử theo Thiền Quang Đạo sư tu thiền thành tiên trên núi Quỳnh Viên.

Điều đáng nói là Lão Tử sống ở thời nhà Chu, sớm hơn so với Phật Thích Ca trên dưới 400 năm; Trong khi thời Hùng Vương Thứ III lại sớm hơn Lão Tử trên dưới 700 năm. Nghĩa là các phép thiền có từ nhiều nơi trên thế giới trước khi Phật Thích Ca ra đời. Từ đó có thể kết luận, xuất xứ thiền không phải của Phật giáo?

Song với thuyết “Duy tâm tông” (Duy thức tông), thì có vẻ mức độ đạt cảnh giới của Phật Thích Ca quả là cao hơn so với các thiền sư khác chút đỉnh. Chỉ hiềm nỗi đệ tử của ngài về sau có lẽ không quán tâm được bằng ngài, nên không cảm xúc và diễn giải hết được ý nghĩa của phép “tam thân” trong thuyết này của Phật. Nhưng như thế cũng không đồng nghĩa “Phật là giác ngộ, giác ngộ là Phật”? Bởi ở Việt Nam trước Phật chí ít có 3 người đã giác ngộ, đó là Thiền Quang đại sư, Chử Đồng Tử và Tiên Dung? Nếu gọi ba vị thiền sư Việt Nam là Phật, thì hóa ra xuất xứ của Phật giáo là từ Việt Nam ư? Còn nếu không phải thế thì chứng minh điều O Ví nói đúng: Giác ngộ không hẳn là Phật !?

Câu trích dẫn của anh TN: “… Ta là Phật đã thành, chúng sanh là phật sẽ thành”.

Câu này là một chân lý. Nhưng phải hiểu cho đúng tư tưởng lời răn dạy này: nếu tất cả chúng sinh rồi sẽ thành Phật được hết, thì ý nghĩa chữ phật có lẽ đơn thuần chỉ là linh hồn siêu thoát? Còn giác ngộ nghĩa là người có công năng sử dụng được linh hồn của mình ngay khi còn sống. O Ví cho rằng nhà ngoại cảm nằm trong trường hợp này, duy thức của họ đã được giác ngộ và họ đã kết nối được với linh hồn, với thế giới tâm linh.

Vậy thì rõ rồi, người Việt không gọi linh hồn siêu thoát là Phật, mà được nhân dân phong thành nhiều cấp độ tôn kính khác nhau:

- Linh hồn của bậc quân vương hiền đức thì tôn vinh là Bụt (Lý Thánh Tông được tôn là Bụt Đà)

- Linh hồn của bậc tướng hiền đức thì được tôn vinh là Thánh (Đại thánh Hưng Đạo Vương)

- Linh hồn của các bậc vương mẫu hiền đức thì được phong là Thánh Mẫu

- Linh hồn của các trinh nữ hiền đức thì được phong là Linh từ công chúa

- Linh hồn của người dân lương thiện được gọi là ma

- Linh hồn của kẻ ác được gọi là quỷ

Hay nói cách khác, cùng một khái niệm về cảnh giới giác ngộ, song có nhiều tên gọi khác nhau. Cho nên khái niệm Phật  chỉ là một khái niệm có giới hạn trong giáo giới Phật giáo. Còn như O Ví thì khẳng định chắc như đinh đóng cột rằng: Sau này thác xuống, qua trình làm ma dưới lòng đất mẹ, khi linh hồn siêu thoát O Ví sẽ thành tiên (chữ tiên trong tiên tổ) theo tập quán người Việt. Cho nên ngay từ bây giờ, duy thức tâm của O Ví là “Việt Tiên” ở trong dòng xoáy tâm linh, chứ không phải Phật!

Trong quá trình thiền định, bản thân O Ví thấy rằng trong tâm mình chứa đựng điều gì sâu nặng, điều ấy chính là duy thức của mình trên con đường giác ngộ.

"Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn - Nhất thiết thế gian sinh lão bệnh tử "

Các đệ tử nhà Phật dịch nghĩa là: "Trên trời dưới đất chỉ có bản ngã cho là duy nhất", “kiếp này là kiếp cuối cùng"...

Song O Ví đọc được sự giải thích trong trời đất nước Nam hoàn toàn khác hơn rằng: Con người chỉ có một kiếp sinh ra trên trần gian duy nhất thôi. Qua chu kỳ sinh - lão - tử thì sẽ trở thành nguyên khí, siêu thoát vào một trong 9 đường Lạc Đạo và vĩnh viễn đi vào vô thường. Khi ta sinh ra trên đời thành một đứa bé con, thực chất đã là ngày cuối cùng của chu kỳ sinh và bắt đầu chu kỳ lão; còn sau khi ngưng thở chỉ mới là bắt đầu của chu kỳ "tử". Thể xác đã cạn kiệt, nhưng linh hồn thì còn quẩn quanh, do đó mà nhân dân quan niệm rằng người mới mất nhu cầu ăn uống, tiêu pha vẫn còn như người trần tục vẫn còn, nên sinh ra cúng giỗ và tục vàng mã. Tùy vào cách thức lìa trần và sự quan tâm của người thân, sự siêu thoát của một linh hồn có thể đến lâu mau.

Từ đó O Ví nghĩ rằng có lẽ Phật Thích Ca từ lọt lòng sinh ra đã có khả năng ngoại cảm? Ngài thật ra đã giác ngộ ngay từ khi lọt lòng. Tiếc thay đệ tử duy trì sự nghiệp của ngài không có ai có khả năng của ngài, thành ra hiểu biết khác đi cho đến ngày nay?

Việc à uôm hết các phái thiền và kinh sách của các chùa chiền cổ ở VN thành kinh Phật, rồi từ đó lấy cớ đem tượng ông Thích Ca vào đặt chễm chệ ăn trên ngồi trốc trong chùa lịch sử của người Việt, là sự hỗn xược với linh hồn Tiên Tổ các tộc người ở Việt Nam. Và O Ví đả kích vào cái sự hỗn xược đó. Khẳng định O Ví nói là nói chuyện đó. Tiếc thay là nhiều người do “nam mô” rồi, đụng đến cái là tự ái to hơn trời, cự nự mà không cần đọc kỹ xem O Ví nói gì???

O Ví không bài xích vấn đề tư tưởng giáo phái, mà kêu gọi tỉnh ngộ. Trong bất kỳ trường hợp nào, thì đạo nghĩa chính là nhớ công ơn cội nguồn. Với phong tục tập quán người Việt Nam thì bao gồm cả thờ phụng. Sự thờ phụng ấy xưa nay chỉ có: Tiên – Sư – Cha là trên hết, là tối thượng! Theo sự ngu muội của O Ví, thì em hiểu: Tiên là Tiên tổ giống nòi; Sư là thầy, bao gồm cả thầy dạy chữ và tổ nghiệp; Cha là đấng sinh thanh ra mình.

Động chạm đến ngài Thích Ca hay không, do chính các đệ tử của ngài gây chuyện. Đó âu cũng là quy luật cuộc sống. Nếu đệ tử của ngài không hỗn xược với Tổ tiên tôi, tôi đâu có cớ gì...

 

 


Để gửi ý kiến nhấp vào đây

Các tin khác:
 Đối nghĩ cùng 30 điều triết lý của thiền sư Thích Nhất Hạnh (00h: 06-07-2016)
 “ĐỪNG IM LẶNG” CŨNG CHÍNH LÀ “TRÁCH NHIỆM” ! (17h: 01-06-2016)
 Thế nào gọi là minh bạch và văn minh? (12h: 29-04-2016)
 NHỮNG BỨC XÚC TRONG VẤN ĐỀ RUỘNG ĐẤT HIỆN NAY (16h: 19-04-2014)
 Bàn luận về ý nghĩa câu chữ trước cổng Đền Hùng. (18h: 08-04-2014)
 Bạn nhìn thấy gì ở vụ việc Nick Vujicic đến Việt Nam ? (14h: 25-05-2013)
 Thư gửi Cựu Nhà giáo ưu tú Lê Hiền Đức (12h: 28-09-2012)
 Mua dâm - bán dâm là gì hở anh? (15h: 16-06-2012)
 Viết từ nỗi niềm của một người mẹ chiến sĩ (13h: 10-07-2011)
 Luận về 'Trung dung' (22h: 18-04-2011)