Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC TỪ VIỆT NAM. Kỳ 1: Nguồn gốc chữ Phật
 
(11h: 14-02-2017)
PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC TỪ VIỆT NAM. Kỳ 1: Nguồn gốc chữ PhậtBài viết của Phan Lan Hoa
***
Tôi đang dùng chính kho tàng “sách nhà Phật?” để nói chuyện với chư vị. Đặc biệt bài này tôi viết dành riêng cho tăng thích và phật tử đất Bắc Ninh. Vậy nên cảm phiền chư vị muốn ném đá tôi cho trúng thời phải đem tâm mà đọc kinh sách, sự đọc thời phải nên động não, phải ngẫm ngợi sâu, phải phân tích, phải logic các tình tiết lịch sử. Lời nói phải tôi sẽ tiếp thu để nghiên cứu tiếp. Dù sao tôi cũng đang một mình “ngược Lường”. Bạn đường của tôi chỉ là Việt Tiên Tổ trên đầu, nỗi lòng khôn tả....

  

PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC Ở VIỆT NAM

Kỳ 1: Nguồn gốc xuất xứ chữ “phật” 

                                                            Phan Lan Hoa

Tôi đang dùng chính kho tàng “sách nhà Phật?” để nói chuyện với chư vị. Đặc biệt bài này tôi viết dành riêng cho tăng thích và phật tử đất Bắc Ninh. Vậy nên cảm phiền chư vị muốn ném đá tôi cho trúng thời phải đem tâm mà đọc kinh sách, sự đọc thời phải nên động não, phải ngẫm ngợi sâu, phải phân tích, phải logic các tình tiết lịch sử. Lời nói phải tôi sẽ tiếp thu để nghiên cứu tiếp. Dù sao tôi cũng đang một mình “ngược Lường”. Bạn đường của tôi chỉ là Việt Tiên Tổ trên đầu, nỗi lòng khôn tả....

1. Nguồn gốc xuất xứ chữ “Phật”

Theo Tam giáo Việt Nam – Huệ Khải (sách của dòng đạo Cao Đài) cho rằng từ “phật” bắt nguồn từ chữ “bụt” ở Việt Nam, do phiên âm Hán Việt mà ra. Căn cứ theo Lĩnh Nam trích quái, Thiền uyển tập anh, Truyền đăng lục và nhiều kinh sách mang tính lịch sử khác, thì  nhận định này là rất đúng !

Thiền ở nước ta được ghi dấu sớm nhất từ thời vua Hùng thứ ba, thông qua câu chuyện Chử Đồng Tử - Tiên Dung được Thiền Quang trao pháp tu thành tiên trên núi Quỳnh Viên. Tuy nhiên câu chuyện “Man Nương” mới là câu chuyện có giá trị hiện thực và đi vào lịch sử thiền giáo Việt Nam và Trung Quốc. Sử tích và dấu vết để lại cho đến hôm nay khá rõ ràng.

Tuy nhiên Huệ Khải khi nhắc đến chi tiết trong Đại Việt sử ký toàn thư, có lá thư của một người Hán là Viên Huy gửi cho thượng thư Lịnh Tuân Úc (207), trong thư kể rằng “thái thú Sĩ Nhiếp ở Giao Châu mỗi khi ra đường đều có các nhà sư ấn độ theo xe xông trầm đốt hương, đánh chuông khánh, thổi kèn sáo”. Lại cho rằng hai chữ “ấn độ” tức nước Ấn Độ (Hindu) thì e là không phải? Vì trong lịch sử thời kỳ này xứ Hin-đu (Indus) chưa có tên nước Ấn Độ? Xem trong lịch sử giao thương thì cũng không hề có mối quan hệ nào gọi là Việt - Hindu ở thời kỳ này ? (Xin để ý dùm cho, tôi đang đi ngược lịch sử, cho nên những kết luận của các kỳ sau có thể tạm thời mâu thuẫn với kỳ trước, cho đến kết thúc đề tài mới tỏ tường mọi nhẽ của sự mâu thuẫn được).

Chữ ấn (), là con dấu, là pháp ấn. Lịch sử một số triều đại Trung Quốc thể hiện, con dấu từ các quan thân vương trở lên thì gọi là “bảo”; từ quận vương trở xuống thì gọi là “ấn”. Bảo có hình vuông, ấn có hình tròn. "Độ" ()có các nghĩa: hình tròn, độ chúng, nhưng cũng là từ chỉ các nhà sư không có tóc (nên nhớ, người Việt Thường trong sử sách nhà Chu mô tả là: đầu không có tóc, mình có hình xăm con rồng và chân đất). Kiểu dịch này không riêng tác giả Tam giáo Việt Nam, mà nhiều dịch giả khác cũng vô tư dịch như thế ?

Thảm hại ở chỗ, khi các dịch giả vô tư, sai một ly đi một dặm, dịch “Ấn độ” (度) thành nước Ấn Độ (身毒), tức khắc trí tuệ tôn giáo Việt Nam bị tráo trở thành ngoại đạo ?! Đọc kỹ một chút, động não một chút sẽ thấy có rất nhiều chứng cứ cho thấy các thiền sư Việt Nam truyền giáo sang Trung Quốc sớm hơn, từ thế kỷ thứ hai, so với phái Đại Thừa từ Trung Quốc đi xuống Việt Nam dễ đến cả ngàn năm (thế kỷ XI). Đặc biệt trong Thiền uyển tập anh, các cuộc hội thoại thể hiện rõ Thiền sư Việt Nam thường ở thế bề trên, là người giảng đạo; trong khi tăng luôn là người thụ động ở thế học trò (sẽ từ từ nêu chứng cứ ở trong nội dung các kỳ tới).

Vậy chữ “bụt” là ở đâu ra ?

Bụt, hay bụt đà (già?). Từ này các tác giả cũng cho rằng nguyên gốc là tiếng Phạn? Còn tôi lại thấy có nhiều chứng cứ gốc gác là của người Việt, được dịch ra tiếng Hán là “phật”, tiếng Phạn là buddaha, nghĩa là giác ngộ. Đồng thời có nhiều tình tiết cần suy diễn ngược lại, rất nhiều kinh sách là của người Việt được dịch ra tiếng Hán và tiếng Phạn, rồi được truyền bá sang phương Bắc xảy ra trước (vào khoảng thế kỷ thứ 2), so với việc phái Đại Thừa truyền Thích giáo vào Việt Nam (thế kỷ thứ 11)?

Vào khoảng thời kỳ đầu CN, Việt Nam đã một nền thịnh giáo, mà sau này Phật giáo gọi là Nam tông, hay Phật giáo nguyên thủy. Như đã nói trên, do các dịch giả nhầm lẫn ở hai chữ “ấn độ” cho nên nghĩ là sư nước Ấn độ truyền giáo sang Việt Nam? Thực chất những câu chuyện về Bụt được ghi chép nhiều trong Lĩnh Nam trích quái ở kỷ nguyên các vua Hùng dựng nước. Trong khi theo sử sách Phật giáo ghi chép thì Phật Thích Ca sinh ra trên đời vào thế kỷ thứ 6 TCN, truyền giáo được 49 năm, nhưng phải 1000 năm sau, đệ tử của phái Thích giáo này mới thực sự có kinh sách để truyền bá. Tính ra thì vào khoảng thế kỷ thứ chín sau công nguyên. Trong khi Truyền Đăng Lục, Cao tăng truyện, Thiền uyển tập anh đều có nhắc tới thiền sư Khương Tăng Hội, cha người gốc Thiên Trúc, mẹ người Giao Chỉ, sinh ra ở đất Giao Chỉ, đắc đạo ở đất Giao Chỉ. Năm 27 tuổi thì sang Trung Quốc truyền giáo, cả thảy được 30 năm. Một trong những học trò của Khương Tăng Hội là vua Ngô Tôn Quyền.

Có một “bé cái nhầm” to đùng và rất ngớ ngẩn, đó là không hiểu sao giới Phật giáo Việt Nam lại chép rằng nước Thiên Trúc là Ấn Độ ? Tôi dám cá có lộn ngược lịch sử Ấn Độ cả trăm lần cũng không có địa danh nào trong lịch sử của Ấn Độ có tên Thiên Trúc cả ?

Vậy Thiên Trúc ấy ở đâu?

Thiền uyển tập anh, quyển Thượng, có ghi chép đoạn hội thoại giữa quốc sư Thông Biện (Vị thiền sư thứ 8 thuộc phái thiền Vô Ngôn Thông) với bà Ỷ Lan, xin được trích dẫn một khúc sau đây:

"...Xét Đàm Thiên pháp sư truyện thì vua Tùy Cao Tổ gọi Pháp sư nói: "Trẫm nghĩ đến lời dạy từ bi của đức Điều Ngự, muốn báo đền công đức, không biết làm sao. Trẫm trộm làm bậc nhân vương, rộng giúp Tam bảo, đã khắp ban di thể xá lợi, đồng thời ở trong nước dựng bảo tháp phàm 49 cái để làm bến cầu giác ngộ cho đời, còn hơn 150 tự tháp ngoài do các xứ kiến lập mong tạo phước nhuận thấm tới đến cả thế giới đại thiên. Song xứ Giao Châu kia tuy đã nội thuộc, nhưng còn ky my, nên phải chọn những sa môn danh đức, đến các xứ của châu ấy để dạy dỗ, hầu khiến cho tất cả đều giác ngộ.

Pháp sư đáp: "Một phương Giao châu, đường thông Thiên trúc, Phật pháp lúc mới tới, thì Giang Đông chưa có, mà Luy Lâu (Bắc Ninh) lại dựng chùa hơn 20 ngôi, độ tăng hơn 500 người, dịch kinh 15 quyển, vì nó có trước vậy. Vào lúc ấy, thì đã có Khâu Đà La, Ma La Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác tại đó. nay lại có Pháp Hiền thượng sĩ, đắc pháp với Tỳ Ni Đa Lưu Chi, truyền tông phái của tam Tổ, là người trong hàng Bồ tát, đang ở chùa Chúng Thiện dạy dỗ học trò. Trong lớp học đó không dưới 300 người, cùng với Trung quốc không khác. Bệ hạ là cha lành của thiên hạ, muốn bố thí một cách bình đẳng thì chỉ riêng khiến sứ đưa xá lợi đến, vì nơi ấy đã có người, không cần đến dạy dỗ...”

Trong đoạn trích trên đây chứng minh nhiều điều:

* Khi Tùy Cao Tổ muốn truyền Phật giáo sang nước ta, thì nước ta bấy giờ tại Bắc Ninh đã có tới 20 chùa, 500 sư và 15 quyển kinh. Chứng minh Bụt giáo nguyên thủy có gốc gác từ Việt Nam.

* Ấn định một danh sách thiền sư Việt Nam từng truyền giáo trên đất Trung Hoa trước thời Tùy Cao Tổ. So với câu chuyện Huyền Trang đi lĩnh hội Thích Giáo ở Ấn Độ thì sớm hơn khoảng trên dưới ngàn năm.

* Ấn định địa danh nước Thiên Trúc là giáp biên giới Giao Châu (“Giao châu đường thông Thiên Trúc”). 

* Phái Đại Thừa truyền giáo sang nước ta chỉ truyền xá lợi, còn kinh sách đã có sẵn ở ta (sẽ còn bàn tiếp khi nói về con đường truyền giáo).

Trong bài về quốc sư Thông Biện còn chép rằng: “Thái hậu đã từng có bài kệ Ngộ đạo rằng: sắc là không, không tức sắc, không là sắc, sắc tức không, sắc không đều không bận, mới hiểu được chân tông”. Như vậy bản quyền đoạn kinh này không phải của Thích Ca, cho nên ai muốn sử dụng thời phải “Nam mô linh từ thái hậu Ỷ Lan” nhé.

Tôi lại phải dở thói quen đi ngược quá khứ, lần tìm, nhặt nhạnh các chi tiết lịch sử bị rơi vãi để chắp nối, xâu kết thông tin:

Vị sư già nhất của Bụt phái (Phật giáo nguyên thủy) là Già La Chà Lê trong sự tích “Man Nương” của bộ truyện “Lĩnh Nam trích quái”. “Già La” được phiên âm tiến Hán thành “Đà La”, pháp danh là Khâu Đà La, hay Khâu Ni Danh. Vị này trong kinh sách Trung Quốc được tôn kính gọi là Phật Việt Nam. Như vậy, có thể giải mã lời bài cúng ở chùa Hương Tích (Hà Tĩnh): “Khâu Đà La / Lý Thánh Tông / Trần Nhân Tông/...” chính là Già La Chà Lê trong truyện Man Nương. Song vị này vẫn chưa phải là tổ của tôn giáo nước ta, mà tổ có lẽ chính là các vị vua Hùng? Nhưng Khâu Đà La là người đưa tôn giáo Việt Nam vào quy củ và nâng tầm trí tuệ, có lớp học, có kinh sách hẳn hòi.

Câu chuyện “Man nương” được nhiều sử sách ghi chép, là xảy ra tại chùa Dâu (chùa Pháp Vân), tóm tắt như sau: Già La Chà Lê là sư trụ trì. Sau một tối giảng kinh về phòng mình thì chợt nhìn thấy Man Nương nằm ngủ hơ hênh giữa cửa. Hai người đã có quan hệ và sinh ra một bé gái. Vì sợ mọi người dị nghị nên đem để dưới một gốc cây lớn ở ngã ba đường thuộc làng Dâu (nay làng ấy thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Một ngày mưa bão, cây lớn kia đổ xuống sông, trôi về đến bến nước trước làng Cổ Châu thì mắc lại đó. Dân làng đem về tạc thành 4 pho tượng. Ngoài ra trong thân cây có một phiến đá xanh phát quang, được người đời cho là hiện thân của đứa bé hóa thạch, và phiến đá này được nhân dân cho là hiện thân của Bụt, nghiễm nhiên bà Man Nương thành Phật Mẫu. Tất cả được đem về chùa Dâu. Già La Chà Lê đặt tên cho 4 pho tượng là: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện. Bà Man Nương sau mất trong chùa ngày mùng 8 tháng tư âm lịch. Từ đó, nhân dân trong vùng cứ đến ngày đó hàng năm, lại đem 4 pho tượng và phiến đá xuống sông tắm gội sạch sẽ và làm lễ cúng phật, gọi là ngày “Phật đản”. 

Tôi tạm dừng kỳ 1 ở đây, vì nội dung cần bàn còn dài lắm, thời mọi người cũng cần thời gian để ngẫm. Và tôi muốn gửi gắm tới nhân dân Bắc Ninh vài lời từ sâu thẳm trong tâm, không nói ra e là tôi lỗi đạo với tổ tiên tộc người Lạc Việt.  Cha ông mình nói “Giấy rách phải giữ lấy lề”. Đất Bắc Ninh trước thì là nơi sinh ra Tổ mẫu U Cơ; Sau thời lại có Phật mẫu Man Nương và Bụt Đà hiện sinh độ chúng. Chứng tích, chùa chiền, kinh sách giường như còn đó cả chưa mất thứ gì, hà cớ lại “Nam mô Thích Ca bổn sư mâu ni phật” là cái cớ làm sao?

Kỳ 2:  Phật Thích Ca sinh ra, lớn lên và giác ngộ trên đất Việt Nam

 

 


Để gửi ý kiến nhấp vào đây