Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
NGUỒN GỐC PHẬT GIÁO CÓ TỪ VIỆT NAM. Kỳ 2 : Phật Thích Ca được sinh ra, lớn lên và giác ngộ trên đất Việt Nam
 
(18h: 28-02-2017)
NGUỒN GỐC PHẬT GIÁO CÓ TỪ VIỆT NAM. Kỳ 2 : Phật Thích Ca được sinh ra, lớn lên và giác ngộ trên đất Việt NamBài viết của Phan Lan Hoa
***

Kỳ này và kỳ tới, tôi sẽ bàn tới 3 vấn đề tưởng chừng khó tin, nhưng là ghi chép của lịch sử, nghĩa là tôi đang “nói có sách” hẳn hòi. Mà sách ở đây là lịch sử Việt Nam, lịch sử Trung Quốc và lịch sử Phật giáo. Ba vấn đề đó là:
1 - “Nghĩa Túc Kinh” là trí tuệ Bụt Đạo Việt Nam;
2 - Thích Ca được sinh ra, lớn lên, giác ngộ trên đất Việt Nam;
3 - Từ đầu tới cuối, điểm xuất phát của con đường truyền giáo sang phương Bắc và thế giới vẫn là thành Luy Lâu (Bắc Ninh, Việt Nam).

 

  

NGUỒN GỐC PHẬT GIÁO CÓ TỪ VIỆT NAM

Kỳ 2:

Phật Thích Ca được sinh ra, lớn lên và giác ngộ trên đất Việt Nam

***

Kỳ này và kỳ tới, tôi sẽ bàn tới 3 vấn đề tưởng chừng khó tin, nhưng là ghi chép của lịch sử, nghĩa là tôi đang “nói có sách” hẳn hòi. Mà sách ở đây là lịch sử Việt Nam, lịch sử Trung Quốc và lịch sử Phật giáo.

Ba vấn đề đó là:

1 - “Nghĩa Túc Kinh” là trí tuệ Bụt Đạo Việt Nam;

2 - Thích Ca được sinh ra, lớn lên, giác ngộ trên đất Việt Nam;

3 - Từ đầu tới cuối, điểm xuất phát của con đường truyền giáo sang phương Bắc và thế giới vẫn là thành Luy Lâu (Bắc Ninh, Việt Nam).

***

Nước Thiên Trúc ở đâu?

Trước hết là bàn về tên chữ trong Hán Kinh:

- Khi nói về nước Ấn Độ cổ, Hán Kinh dụng chữ 身毒 (thân đốc), hoặc 涓毒 (quyên đốc);

- Khi nói về 35 tổ Thiên Trúc, thì tên chữ Thiên Trúc là (thiên độc);

- Còn trong trích dẫn mô tả cảnh sinh hoạt của các thiền sư ở thành Luy Lâu (đã nói ở bài 2), thì chữ là (ấn độ), Chữ ấn trong pháp ấn, chữ độ trong trường hợp này có lẽ nên dịch nghĩa là sư.

Lời bình:

         Tôi không thể hiểu nổi, dịch thuật kiểu gì mà 3 cụm chữ khác nhau này lại được truy thành một là “Ấn Độ” hết cả vậy?

Bài 1 tôi có nói rằng đảo lộn lịch sử Ấn Độ, chả thấy có địa phương nào tên Thiên Trúc trong lịch sử. Nay nói thêm, cho đến ngày nay, Ấn Độ giáo chính thống là Hindu (Hinduism), chiếm tới 80% tôn giáo Ấn Độ và Phật giáo giường như mờ nhạt ở đất nước này?

Bài 1 tôi cũng đã trích dẫn lịch sử Trung Quốc nói rằng Giao Châu đường thông Thiên Trúc”. Nay trích dẫn thêm để làm rõ hơn vấn đề: "Thiên trúc... vào năm Diên Hy thứ hai (158) và thứ tư (160) đời Hoàn đế đã từng từ ngoại vùng Nhật Nam đến cống". Chư di truyện của Lương thư 54 và Di mạch truyện của Nam sư 78 cũng viết: "Các nước biển Nam, đại để ở trên các đảo biển lớn phía nam và tây nam Giao Châu... Đời Hoàn đế nhà Hậu Hán, Đại Tần Thiên Trúc đều do đường đó sai sứ đến cống". Và không chỉ đến cống, Lương thư 54 còn ghi thêm về nước Đại Tần là "người nước đó làm nghề buôn bán, thường đến Phù Nam, Nhật Nam và Giao Chỉ"... ( Trích dẫn được rút từ Tổng tập VHPGVN – Lê Mạnh Thát) 

Tôi xin gửi vào đây bản đồ địa lý quận Giao Châu từ thời Đông Hán (nguồn: vi.wikipedia.org), gồm 9 quận là: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Đam Nhĩ, Châu Nhai (Đam Nhĩ và Châu Nhai nay thuộc đảo Hải Nam), Nam Hải,  Hợp Phố, Uất Lâm, Thương Ngô (nay thuộc Quảng Tây và Quảng Đông). Trị sở ban đầu là thành Luy Lâu (Bắc Ninh).

Nhìn vào bản đồ Giao Châu, địa danh Ấn Độ sẽ ở xa xôi về hướng Tây Bắc và cách biền biệt với Giao Châu chứ không liên thông như sử chép? Đường bộ không thể đi vì phải tới hàng vạn dặm, qua rất nhiều nước lớn nhỏ, rừng núi, sa mạc hiểm trở. Đường biển thì càng không thể, vì cho đến nay, tàu thuyền đã rất hiện đại, Việt Nam và Ấn Độ cũng không thuộc dạng dễ dàng thông thương? Như vậy, vị trí địa lý nước Thiên Trúc ở trong cụm các nước “nam và tây nam Giao Châu” thì cần khẳng định, không thể là Ấn Độ ?

Vậy nước Thiên Trúc ở đâu?

Sử chép rõ ràng ở trong cụm các nước “phía nam và tây nam quận Giao Châu”, những lại chép rõ thêm "ngoại vùng Nhật Nam". Nhật Nam ở thời Đông Hán là xứ Diễn Châu, tức gồm huyện Diễn Châu, Yên Thành và Quỳnh Lưu của tỉnh Nghệ An ngày nay. Phía Đông giáp biển Đông, bắc giáp Giao Châu, vậy thì truy ra Thiên Trúc ở phía tây, hoặc phía nam quận Nhật Nam? Có nghĩa Thiên Trúc hoặc là nước Lào, hoặc là vùng đất cổ của nước Lâm Ấp thuộc nên văn hóa Sa Huỳnh? Đường Tam Tạng sau này được chép là đi Thiên Trúc thỉnh kinh, chứ không phải đi Ấn Độ (Hindu) thỉnh kinh. Lại được Tôn Ngộ Không hộ tống để đưa kinh sách về Đường triều, thì rõ ràng đường đi ấy phải thông qua Giao Châu để đến Thiên Trúc? Căn cứ vào chuyện thiền sư Ngưỡng Quang tu hành trên núi Quỳnh Viên ở thời vua Hùng thứ ba, vị trí ngọn núi này thuộc huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay, vậy thì khả năng nhất nước Lâm Ấp có lẽ là Thiên Trúc?

Ở đây tôi đặt một dấu hỏi khác mà tôi cho rằng các nhà nghiên cứu lịch sử phải nghiên cứu lại một cách cẩn trọng mối liên kết: Văn hóa Sa Huỳnh - Lâm Ấp - Chăm Pa. Bởi sử chép: "Sau khi Khu Liên qua đời, chữ Phạn trở thành chữ viết chính thức của các triều vương. Các bi ký tìm được trong giai đoạn này đều khắc bằng chữ Phạn. Quốc thư trao đổi của Lâm Ấp với Trung Quốc thời đó được viết bằng "Hồ tự" (tức chữ Phạn) thay vì chữ Hán. " (đoạn trích dẫn rút từ vi.wikipedia.org). Ý tôi muốn nhấn mạnh chữ "Phạn" (), cũng đọc là "phạm". Vua đời thứ hai của Lâm Ấp là cháu ngoại Khu Liên, khi nối ngôi lấy hiệu là Phạm Hùng, cho nên chữ Phạn (Phạm) cần phải được nghĩ tới là trí tuệ Lâm Ấp mới đúng? Đồng thời cho thấy người Hồ, người Phạn (Phạm) và người Chàm là một, đều là hậu duệ của nền Văn hóa Sa Huỳnh. Mà trong "Đi tìm dấu tích Nhà nước Việt Thường Thị" tôi có nghi ngờ  Văn hóa Sa Huỳnh là anh em một cha của Văn hóa Đông Sơn ? 

Để đi tới bàn luận về quê hương của Phật Thích Ca ở đâu, tôi xin kể một câu chuyện mà những ai tò mò thì có thể kiểm chứng những câu chuyện truyền khẩu địa phương vùng Bắc Ninh và các huyện lân cận Bắc Ninh.

Năm ấy tôi về thăm nhà chồng ở xứ Hải Dương, một vùng quê bên sông Phả Lại, giáp Bắc Ninh, trúng vào dịp đài truyền hình đang chiếu phim “Tôn Ngộ Không” (hình như là năm 1992?). Sau thì có theo mẹ chồng và bà nội chồng cùng các cụ bà trong làng đi lễ chùa Côn Sơn và lễ đền Trần Hưng Đạo. Khi các cụ tụng kinh, tôi ngồi đằng sau cố lắng nghe xem các cụ tụng cái gì và tôi nghe được 3 câu đầu như sau:

Nam mô A Di Đà Phật

Con kính lạy đại thánh Tôn Hành Giả

Con kính lạy Đại thánh Trần Hưng Đạo

Thấy lạ, nên khi về nhà rồi tôi mới đem thắc mắc hỏi bà và mẹ. Chú em chồng nghe lén được bèn chọc ghẹo mẹ chồng tôi:

- Chắc bà với mẹ xem phim “Tôn Ngộ Không” rồi mê tín con khỉ Trung Quốc chứ gì?

Mẹ chồng tôi mắng liền con trai:

- Ăn nói hồ đồ! Phỉ phui cái miệng! Tôn Hành Giả là người Việt Nam, được liệt vào hàng thánh của dân tộc ta đấy.

Bà nội chồng vốn là người tĩnh lặng ít nói, khi ấy bà không nói gì. (Sau này tôi được các cụ trong làng kể thì biết bà nội chồng là thủ lĩnh của các cụ trong làng, tuy không xuất gia, nhưng vẫn là người trụ trì chùa làng. Các cụ kể rằng năm cải cách, người ta đập phá chùa chiền, các cụ trong làng kéo đến nhà khóc quỳ lạy cụ đứng ra bảo vệ uy linh Phật – Thánh – và Thành hoàng làng. Với tư cách mẹ của anh hùng QĐNDVN, cụ bèn vác dao ra trụ sở Việt Minh dọa chém những kẻ phá hoại chùa chiền. Sau đó thì đứng ra bảo vệ để các cụ trong làng dựng lại cái am nhỏ trên nền cũ, kê bát hương thờ phụng. Tất nhiên bố chồng tôi sau đó bị kiểm điểm vì có mẹ “mê tín dị đoan”). Cơm nước xong thì bà ra hiên ngồi nhai trầu. Tôi lẽo đẽo theo ra xin bà têm trầu, ngồi một lúc thì bà bảo:

- Bà bảo cho mà hay, sau này chúng tao có đi theo Tề Thiên rồi, chúng mày ở lại còn biết đường mà thưa tụng. Rồi câu chuyện bà kể như sau:

“Ông Thích Ca và ông A Di Đà là hai người khác nhau, cùng tu thành chính quả ở một thời điểm. Ông Thích Ca đến từ Bắc phương, ông A Di Đà là người Việt Nam ta. Nhưng khi chính quả thì vì hai phật không thể chung một trời, nên phải phân chia bắc nam để trị vì. Song ai cũng muốn làm chủ phương Nam nắng ấm, hoa lá cỏ cây vận vật tốt tươi, không ai ham muốn phương bắc lạnh lẽo, nên mới xảy ra cuộc tỉ thí, hai vị cùng cầm bông sen ngồi thiền, nếu sen ai nở trước thì sẽ được trị vì phương Nam trước. Bông sen của ông A Di Đà nở trước, nhưng ông Thích Ca gian xảo hơn, hé mắt nhìn thấy bông hoa của ông A Di Đà nở bèn đánh tráo để dành phần thắng. Sau đó chiến tranh loạn lạc xảy ra ở đất phương Nam và nhân dân cho rằng tại Phật gian dối nên bá tính bắt chước (đoạn này có một phần trong phim “Tôn Ngộ Không”).

Thánh Tôn Ngộ Không thì là người của đời sau, quê bên Sơn Tây. Văn võ song toàn, đại tài nhưng hiếu động, nghịch phá, tu tập không tập trung, nên bị Bụt Già nhốt trên đảo Hoa Quả Sơn bắt phải chuyên tu. Khi Đường Tăng qua Tây Trúc thỉnh kinh thì được Bụt cử hộ tống kinh sách về Đường Triều...

Tuy trên bầu trời phương Nam ta bấy giờ là thời gian của Phật Thích Ca trị vì, nhưng bá tính không tuân phục, vẫn cứ khấn niệm Nam mô A Di Đà Phật, chứ không chịu Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật”. Tính đến năm 2001 đổ về sau rày, chúng bay không phải niệm ông Thích Ca nữa, vì ông Phật này đã hết nhiệm kỳ trị vì phương Nam theo giao ước của cuộc tỉ thí... ”.

Tôi tìm mãi chưa ra cuốn kinh kệ nào nói về mốc thời gian cũng như cuộc tỉ thí này, nên không biết bà nội chồng lấy chuyện đâu ra mà lại cụ thể được cả đến  năm 2001? Song xem cách sắp xếp thờ phụng ở chùa Kiến Sơ thì dường như câu chuyện là thật, là lịch sử ? Vì ở ngôi chùa này Phật A Di Đà được xếp ở ngôi thứ hai, dưới Tam Thế Phật. còn Phật Thích Ca Mâu Ni thua hai bậc, ở hàng thứ tư. Tôi bỗng cảm thấy hối tiếc, vì lúc đó trẻ người, lại sinh ra ở đất “xô viết” được giáo dục vô thần nên nghe chuyện mà hững hờ không thật sự quan tâm. Cả như bây giờ thì tôi cần phải hỏi xem vì sao lại có mốc năm 2001? Cuộc tỉ thí ấy quy định bao nhiêu năm, thì đã có thể truy được mốc lịch sử để tìm hiểu sâu hơn rồi.

Quê hương thực sự của Phật Thích Ca ở đâu?

Theo sách “Mâu Tử lý hoặc luận” (năm 189), chép rằng có người hỏi Mâu Tử: (trích đoạn)

“- Phật từ đâu sinh ra? Có tổ tiên và làng nước gì không? ...

Mâu Tử đáp:

...Bởi nghe công trạng giáo hóa của Phật, tích chứa đạo đức, hàng ngàn ức đời. Nhưng khi sắp thành phật thì sinh ở Thiên Trúc, mượn hình nơi vợ vua Bạch Tĩnh... đến tháng tư mồng tám, Phật theo sườn bên phải mẹ mà sinh, đặt chân xuống đất, đi bảy bước dơ tay phải lên, nói: Trên trời dưới trời không có gì hơn ta...

Hỏi:

- Sao chính gọi là Phật? Phật có nghĩa là gì?

Mâu Tử đáp:

- Phật là hiệu thụy vậy, như gọi ba vua thần, năm đế thánh...”

Phật là hiệu thụy”, tức danh hiệu do con người phong tặng cho bậc trí tuệ. Và như đã nói ở bài 1, “phật” là phiên âm của từ “bụt” () trong tiếng Việt, nghĩa là sức mạnh vô thường. Người Việt Nam vốn từ thuở khai sơ đã có Bụt già trong tiềm thức, đã quen với việc mỗi khi gặp khó khăn thời kêu Bụt già (Bụt đà) hiện lên giúp đỡ.

Có tam sao thất bản truyện về Phật Thích Ca, nhưng “Mâu Tử lý hoặc luận” có vẻ là dạng sách sớm nhất và rõ ràng về nội dung, rõ ràng thời điểm lịch sử (189), tác giả cũng rõ ràng về lai lịch.

Chốt lại, Phật Thích Ca quê ở Thiên Trúc, mà Thiên Trúc đường thông Giao Châu; hoặc “phía Nam, hoặc Tây Nam Giao Châu”. Cho nên ngài ấy phải là người của một trong các tộc người Việt Nam, hoặc Lào vậy? 

         Xét về chặng thời gian tu hành của phật Thích Ca, được chép rằng  ban đầu tu tập trong nước, sau thì thấy chưa đủ nên trốn đi học “ngoại đạo”. Như vậy phải hiểu trong nước tức Thiên Trúc, vậy ngài Thích Ca đi học ngoại đạo là học ở đâu? Phải chăng chính là do sự “thông đường” đã sang Luy Lâu? Hơn thế nữa, truyện kể về ngài Thích Ca cũng chứng tỏ sau khi giác ngộ, ngài ấy không truyền đạo trong nước, mà chỉ về quê hai lần: Lần thứ nhất do vua cha mời về; lần thứ hai là lúc vua cha hấp hối. Vậy thủ phủ Phật giáo thực chất ở đâu? Phải chăng cũng chính là Luy Lâu? Trước sau, mọi thứ, phân tích chán chê thì cũng không thể chối cãi, cả A Di Đà và Thích Ca đều đã tu thành chính quả trên đất Lạc Việt! Tình tiết nhấn mạnh ở đây là tranh chấp trị vì trời Nam với A Di Đà, nhưng khi vua cha hấp hối vẫn về kịp thì không thể là Ấn Độ (Hindu)?

       ***

         Kỳ sau: Chữ Phạn là trí tuệ Chăm Pa

 

 

Ý kiến bạn đọc:
Nguyễn thị Bích Liên

Con chào cô, con quê ở Hải Dương và thường theo dõi những luận điểm của cô. hôm nay đọc bài này con giật mình nhớ đến 1 cuốn kinh chép tay của ông Nội con để lại. theo mọi người trong nhà thì có một thầy Pháp cao tay kết giao với ông Nội con và cho ông cuốn kinh gọi là kinh Di lạc. CUốn kinh có nói đến việc hai vị Phật ngồi thiển để ai xuống hạ giới trước nhưng lại có khác một chút. Đó là Phật Thích Ca và Phật Di Lặc trong đó phật Di lặc là anh. hai người cắm 2 cây tích trượng và ngồi t hiền xem hoa trên cây trượng của ai nở trước và kết quả hoa trên cây trượng của ngài Di Lặc nở trước, tuy nhiên Phật Thích ca vì nóng lòng muốn xuống trần cứu độ nên đã lén bẻ hoa trên gậy của Phật Di lặc và gắn lên gậy của mình. khi đó Phật Di lặc nói với đệ tử rằng em ta vì nóng lòng muôn xuồng trần mà phạm lỗi nên cõi đó sẽ có trộm cướp và chúng sinh lầm đường lạc lối..............còn ta sẽ phải xuống sau để còn cứu độ chúng sinh và hoằng pháp chân chính.mà thời của phật di lặc là 3000 năm sau.Hiện cuốn kinh chép tay đó cháu cũng ko dám đọc hay phân phát cho ai. ko biết có mối liên hệ gì với lịch sử ko ạ. Rất mong cô sẽ cho cháu và mọi người được biết đâu mới là chính đạo. XIn cảm ơn cô ạ.

Phlanhoa phản hồi:

Nếu đó là cuốn kinh bằng chữ Nôm hay chữ Hán thì là tài liệu quý, còn kinh tiếng Việt thì chắc mới đây, có thể đã tam sao thất bản. Theo kinh sách nhà Phật thì Di Lặc là vị Phật đại diện cho kiếp tương lai, nên câu chuyện là phật Thích Ca. Nếu cháu về Hải Dương thì có thể ghé Bắc Ninh thăm những ngôi chùa cô kể tên trong bài viết. Tại chùa Kiến Sơ người ta bài trí như sau:

Nội điện tôn trí bảy hàng tượng. Lớp trên cùng là tòa điện chính, có bàn thờ xây cao áp vào vách,

Hàng cao nhất là tôn trí bộ Tam Thế Phật, có niên đại thế kỷ XVII. Ba pho thể hiện ba đại kiếp của Như Lai (quá khứ, hiện tại, vị lai) được tạo tác khá giống nhau, tóc xoắn ốc, mặt tròn đầy phúc hậu ngồi trong tư thế tham thiền trên ba tòa sen. Bộ Tam thế được làm từ chất liệu đất thó, sơn son thiếp vàng.

Hàng 2 thờ Phật A Di Đà

Hàng 3 gồm năm pho tượng, Di Lặc ở giữa

Hàng 4 là pho Quan Âm Nam Hải, 

Hàng 5 là Thích Ca

Hàng 5 tượng Ngọc Hoàng,

Hàng 7 có tòa Cửu Long.

Bên phải nội điện thờ năm vị Diêm vương


Để gửi ý kiến nhấp vào đây

Các tin khác:
 PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC TỪ VIỆT NAM. Kỳ 1: Nguồn gốc chữ Phật (11h: 14-02-2017)