Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC VIỆT NAM Kỳ 4: Nghĩa Túc Kinh là kinh sách đầu tiên của Ấn Độ giáo Việt Nam.
 
(18h: 19-03-2017)
PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC VIỆT NAM Kỳ 4: Nghĩa Túc Kinh là kinh sách đầu tiên của Ấn Độ giáo Việt Nam.Bài viết của Phan Lan Hoa
***

...Cho nên Căn cứ vào lời khấn ở chùa Hương Tích “Khâu Đà La – Lý Thánh Tông – Trần Nhân Tông”, thứ gọi là “Tam giáo quy nguyên” phải là: Phật giáo-Thảo Đường giáo – Trúc Lâm giáo quy về một cội nguồn là Ấn Độ giáo – Dòng giáo lý chính thống của chủng người Ân-đô-nê-diên (Indonesien) trên bán đảo Đông Dương. Có từ rất lâu đời, vào khoảng thế kỷ thứ mười một trước công nguyên (Thời vua Hùng Vương thứ ba).

 

 

PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC VIỆT NAM

Kỳ 4: Nghĩa Túc Kinh là kinh sách đầu tiên của Ấn Độ giáo Việt Nam.

Phan Lan Hoa

Tại kỳ 3 tôi đã trình ra được chứng cứ xứ Đông Dương mới là xứ Ấn Độ, còn nước mà Việt Nam đang gọi là Ấn Độ có tên là Hin-đu (Indus), tên tiếng Hán là Thân Đốc (身毒).

Trong hồi ký về “Xứ Đông Dương” của ngài Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer, chí ít có tới ba lần ngài ấy gọi xứ Đông Dương là xứ Ấn Độ. Trong đó có đoạn viết về nhân vật Đệ nhị phụ chính đại thần triều Nguyễn, đời vua Thành Thái là Nguyễn Trọng Hợp. Vị quan này được triều đình nhà Nguyễn cử đi sứ sang Paris năm 1894 và từng có một tập thơ 36 bài ca ngợi cảnh sắc Paris. Trong đó có bài ông đã viết khi chợt gặp mấy khóm tre nhiệt đới giữa trời Tây (trích dẫn nguyên văn theo sách “Xứ Đông Dương”):

“ Từ Ấn Độ qua châu Âu, khí hậu thay đổi rất rõ

         Thấy kỳ hoa dị thảo mọc lên um tùm rập rạp

Và ngạc nhiên thay giữa xứ sở gió lạnh buốt xương này

Ta vẫn gặp “người quân tử” hiên ngang vươn thẳng, xanh tươi giữa trời Tây”

Tác giả đã chú thích ở bài vịnh này như sau: “tại khu vườn nhiệt đới trong nhà kính, tôi thấy tám, chín khóm tre xanh tốt. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy loại cây này từ khi rời Ấn Độ...”

Tại chương hồi ký về “Cao Miên và Ai Lao”, ngài Paul Doumer viết:

“Xứ Đông Dương mang tính hai mặt như cái tên của nó, với một mặt quay về văn minh thế giới và Trung Hoa, mặt kia là các xứ Ấn Độ, nhất là người Ấn mà hiện thân là người Miên...”

Chú thích của sách: “Nguyên gốc tiếng Pháp: Indo-Chine, nghĩa là Ấn-Trung (Ấn Độ - Trung Hoa).

Như vậy đã lần tìm ra được nguồn gốc hai chữ Ấn Độ là từ tên gọi Indo (phiên âm là Ân-đô). Nguyên gốc từ này là Indonesien, được phiên âm theo tiếng Việt là Ân-đô-nê-diên. Là tên của một trong hai loại hình nhân chủng người Đông Nam Á cổ. Mà theo các bản báo cáo của các nhà khoa học khảo cổ, hai loại hình nhân chủng cơ bản, tạo nên lớp cư dân tầng nền bản địa của Đông Nam Á cổ, là Indonesien (Ân-đô-nê-diên)Vedoid (Vê-đô-ít). Các nhà nhân chủng học phương Tây gọi là người “Proto-Indochinoise” (Nguyên Đông Dương). Cụ thể, Đông Nam Á được coi là cái nôi sinh thành của đại chủng Australoid. Kết quả khảo cổ cho thấy ở thời kỳ Văn hóa Hòa Bình là chủng người Australoid. Đến các kỷ nguyên văn hóa Đông Sơn, nửa phần lục địa Đông Nam Á có sự hòa huyết giữa Australoid-Mongoloid tạo nên loại hình Ân-đo-nê-diên (Indonesien). Nửa phần bán đảo Đông Nam Á ít có sự hòa huyết hơn, được gọi là loại hình Vê-đô-ít (Vedoid). Việt Nam nói riêng và 3 nước Đông Dương nói chung, vị trí địa lý thuộc về nửa phần bán đảo. Cho đến thời kỳ Hậu Đông Sơn, kết quả khảo cổ cho thấy di cốt tìm được đa phần là “Australoid, có nét Mongoloid”. Tức là dòng máu Australoid vẫn là căn bản, gốc gác của xứ Đông Dương.

Tại kỳ trước tôi đã chứng minh rằng người khai mở dân tộc Chăm Pa là hậu duệ của Lạc Việt. Kỳ này tôi lại chứng minh người khai mở dân tộc Cao Miên (Campuchia) cũng là hậu duệ của Lạc Việt.

Truyền thuyết dựng nước của người Khơ-me chép rằng một đại sĩ Ấn Độ tên là Kambuvayambara đã đi đến vùng trung lưu sông Mê Kông và ở lại kết hôn với tiên nữ Mera, con gái thần Siva. Sinh ra dòng dõi Kampuja (viết tắt của Kampu và Mera). Đó cũng chính là nguồn gốc tên gọi dân tộc Campuchia bây giờ.

Như vậy mỗi khi đã xác định được người Ấn Độ (Ân-đô-nê-diên) là người Lạc Việt, thì ở đây phải hiểu ra rằng một nửa dòng máu người Khme là Lạc Việt. Điều này vô cùng quan trọng, cần phải được giới nghiên cứu làm rõ, bởi nó là đầu mối đoàn kết dân tộc giữa ba tộc người Việt – Chăm – Khme trên bán đảo Đông Dương nói riêng và Đông Nam Á nói chung, rằng dân tộc Chăm và dân tộc Khme là anh em ruột rà máu mủ nội tộc của dân tộc Việt. Điều đó có giá trị rất rõ ràng về cội nguồn huyết thống của một chủng tộc. Hoàn toàn khác với những sự hòa huyết mơ hồ, ít ỏi từ bờ sông Dương Tử, mà nhiều dòng họ người Việt đang ngỡ là gốc gác của mình hôm nay ?!

Tôi còn một việc cần làm trước khi mô tả về con đường truyền giáo từ Việt Nam sang Trung Quốc là xác định xem trung tâm Ấn Độ giáo ở đâu ?

Sẽ trở lại với các yếu tố tư liệu lịch sử đã nhắc đến ở các kỳ trước, đó là:

Yếu tố thứ nhất là lịch sử Trung Quốc: Đàm Thiên pháp sư dưới triều vua Tùy Cao Tổ (581-604) bên Trung Quốc đã nói với ông ta: "Một phương Giao châu, đường thông Thiên trúc, Phật pháp lúc mới tới, thì Giang Đông chưa có, mà Luy Lâu (Bắc Ninh) lại dựng chùa hơn 20 ngôi, độ tăng hơn 500 người, dịch kinh 15 quyển, vì nó có trước vậy. Vào lúc ấy, thì đã có Khâu Đà La, Ma La Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác tại đó. nay lại có Pháp Hiền thượng sĩ, đắc pháp với Tỳ Ni Đa Lưu Chi, truyền tông phái của tam Tổ, là người trong hàng Bồ tát, đang ở chùa Chúng Thiện dạy dỗ học trò. Trong lớp học đó không dưới 300 người, cùng với Trung quốc không khác. Bệ hạ là cha lành của thiên hạ, muốn bố thí một cách bình đẳng thì chỉ riêng khiến sứ đưa xá lợi đến, vì nơi ấy đã có người, không cần đến dạy dỗ...”

Yếu tố thứ hai là lịch sử Chămpa (thời gian sớm hơn gần 200 năm so với thời Tùy Cao Tổ): Năm 415, quân Lâm Ấp bắc tiến đánh cướp Giao Châu. Song vua của Lâm Ấp bấy giờ là Địch Chớn, vốn dĩ là người có đam mê văn hóa, gặp dòng thiền Ấn giáo ở Giao Châu, liền thấy đắc tâm, bèn tính chuyện nhường ngôi cho em là Địch Khải để sang Giao Châu sống những ngày cuối đời...

Yếu tố thứ ba là lịch sử Việt Nam (lùi thêm hơn 200 năm nữa so với Địch Chớn): Đại Việt sử ký toàn thư, có lá thư của một người Hán là Viên Huy gửi cho thượng thư Lịnh Tuân Úc (năm 207), trong thư kể rằng “thái thú Sĩ Nhiếp ở Giao Châu mỗi khi ra đường đều có các nhà sư Ấn Độ theo xe xông trầm đốt hương, đánh chuông khánh, thổi kèn sáo”

Yếu tố thứ tư là Khâu Đà La: Vị này như đã nói, trong kinh sách phái Đại Thừa được tôn xưng là Phật Việt Nam. Xét về thời điểm lịch sử của nhân vật, “Truyện Man Nương – Lĩnh Nam trích quái” chép rằng câu chuyện xảy ra ở “thời Hiến Đế nhà Hán...tại chùa Pháp Vân, thành Luy Lâu”, tức nay gọi là chùa Dâu, tại xã Khương Tự, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh . Như vậy, tức vào khoảng năm 189 – 220. Mốc lịch sử này phù hợp với lịch sử các ngôi chùa cổ ở Bắc Ninh như Pháp Vân, Kiến Sơ, đều được ghi chép là xây dựng vào năm 187. Mốc lịch sử năm 189 - 220 rất quan trọng cho việc truy xét nguồn gốc “Nghĩa túc kinh”. Bộ kinh sách này là kinh gốc nguyên thủy của Phật giáo, được ngài Thích Nhất Hạnh dịch là “Đạo Bụt nguyên chất”.

Như vậy đã rõ ràng, Ấn Độ giáo có nguồn gốc Đông Dương (Ân-đô-nê-diên), mà đến thế kỷ thứ II sau công nguyên, trung tâm thịnh giáo là thành Luy Lâu (Bắc Ninh). Đến đời Tùy Cao Tổ (581-604), Ấn Độ giáo ở Việt Nam thời đã có 15 quyển kinh như lịch sử Tung Quốc ghi chép. Đó chính là 15 kinh của “Nghĩa túc kinh”. Đồng thời cũng có thể đi đến khẳng định Ấn Độ giáo là khúc nôi và trí tuệ của tộc người Ân-đô-nê-diên trên bán đảo Đông Dương, mà Lạc Việt là điểm xuất phát. Người đạt đạo tối cao nhất Ấn Độ giáo được phong hiệu thụy là Bụt Đà (có lẽ là Bụt Già). Chữ Bụt được phiên âm tiếng Phạn (tiếng Chămpa) là Buddaha (Bụt Già) và tiếng Hán là Phật. Tên gọi Phật giáo từ phiên âm này mà có.

Cũng cần biết thêm, tôn hiệu của các quân chủ Champa được sử chép là khởi nguyên từ truyền thống Ấn Độ giáo, gồm có tiền tố, trung tố, hậu tố (tước, hiệu và thụy). Tiền tố gọi là tước. Ví dụ tước thường là Jaya (जय / 勝利) nghĩa là thắng lợi, Maha (महा / 偉大 ) là vĩ đại, Sri (श्री / ) là đấng. Như vậy, hậu duệ của Lạc Việt khi thiết lập vương quốc Lâm Ấp (tiền Chămpa) và vương quốc Kampuja (Cămpuchia) đã đem theo Ấn Độ giáo từ quê cha đất tổ tới vùng đất mới để làm nền tảng giáo dục nhân dân.

Cho nên căn cứ vào lời khấn ở chùa Hương Tích: “Khâu Đà La – Lý Thánh Tông – Trần Nhân Tông”, cái gọi là “Tam giáo quy nguyên” phải là: Phật giáo-Thảo Đường giáo – Trúc Lâm giáo quy về một cội nguồn là Ấn Độ giáo – Dòng giáo lý chính thống của chủng người Ân-đô-nê-diên (Indonesien) trên bán đảo Đông Dương. Có từ rất lâu đời, vào khoảng thế kỷ thứ mười một trước công nguyên (Thời vua Hùng Vương thứ ba).

Các đặc diểm để nhận biết “Nghĩa túc kinh” là kinh gốc của người Việt Nam

- Lịch sử Phật giáo chép, đó là bộ kinh cổ nhất của Phật giáo Ấn Độ và chúng ta đã chứng minh ở trên Ấn độ tức Ấn-đô-nê-diên (Indonesien);

- Chữ “Bụt” nói lên ngôn ngữ tiếng Việt. Đồng thời cả thế giới chỉ có Việt Nam có hình tượng Bụt mà thôi;

- Kinh sách chữ Phạn (tức chữ viết của dân tộc Chămpa) đề rõ mốc lịch sử “198”, tức nằm trong khoảng thời gian trị vì của vua Hiến Đế nhà Hán. Đồng thời cũng là mốc lịch sử nước Lâm Ấp ra đời. Lúc này ở Trung Quốc chưa có Phật giáo. Được dịch rải rác ra tiếng Hán trong khoảng từ thế kỷ thứ IX đến thế kỷ thứ X. Đây cũng là thời điểm Đường Tăng đi Tây Trúc thỉnh kinh. Trong khi bản kinh cổ nhất ở Pali được các nhà khoa học khảo cổ xác định là thế kỷ XI sau công nguyên. Dễ hiểu thôi, đã xác định Ấn Độ giáo là từ Việt Nam, thì dòng Phật giáo ở Pali có lẽ là từ Trung Hoa truyền sang ở thế kỷ XI, chứ không phải Pali truyền sang Trung Hoa như sách nhà Phật ghi chép hiện nay ?

- “Nghĩa túc kinh” hiện tại có 16 bộ kinh, nhưng trong đó có một bộ thứ năm trùng với quyển “Lục tập độ kinh” của thiền sư Khương Tăng Hội, như vậy  còn lại 15 bộ kinh gốc. Con số này trùng với ghi chép của lịch sử Trung Quốc đời vua Tùy Cao Tổ (581-604) rằng ở Giao Châu có 20 ngôi chùa, 15 quyển kinh và 500 thiền sư (như đã trích dẫn ở trên).

Nói như thế không có nghĩa là 15 bộ kinh này đều của các thiền sư ở thành Luy Lâu? Đã có sự trao đổi kinh sách từ Luy Lâu đến các kinh đô của Chămpa. Có đến bốn bộ đề là “Phạm Chí kinh”. Phạm Chí là một vị vua Chămpa trị vì quãng thời gian từ năm 572 – 629. Sử chép thời kỳ vua Phạm Chí trị vì “văn hóa Ấn Độ phát triển rực rỡ bao trùm Đông Nam Á”. Ngài Paul Doumer đã dành những lời khen nức nở cho dòng văn hóa Ấn Độ giáo và Khơ-me giáo. Ngài cho rằng dân tộc Khme là một dân tộc vĩ đại. Còn như chỗ nào nói đến người An Nam, thì ngài luôn kèm thêm hai chữ “thông minh” và khẳng định nhóm người Ấn Độ ở An Nam là nhóm người lãnh đạo ở Đông Dương. Nhận định của ngài ấy rất đúng với lịch sử phát triển Ấn Độ giáo từ Lạc Việt xuyên suốt Đông Dương.

         Lời bàn về “Nghĩa túc kinh” và sự thêm thắt của Phật phái Đại Thừa và bản dịch theo kiểu “đại ý” của ngài Thích Nhất Hạnh:

Trong bản dịch “Đạo Bụt nguyên chất” của ngài Thích Nhất Hạnh có nói rõ. Nội dung kinh gốc chỉ có phần kệ, tức kinh viết bằng thơ, mà cụ thể ở đây là thơ thất ngôn tứ tuyệt và thất ngôn lục bát. Phần “bối cảnh” là do Phật phái Đại Thừa thêm vào khi dịch sang tiếng Hán. Phần “Đại ý” là kiểu dịch nôm na của ngài Thích Nhất Hạnh.

Tôi thực sự khó chịu khi có người dịch một cuốn kinh lại chỉ là “đại ý”. Tôi cho đó là một sự thiếu tôn trọng đối với bậc tiền bối. Hơn nữa, phần “Đại ý” tôi thấy nhiều chỗ không khớp với nội dung các bài kệ. Có thể rồi chính tôi sẽ phải dịch lại 15 bộ kinh này chăng? Vì điều tôi giác ngộ từ Nghĩa túc kinh không giống với “đại ý” của ngài Thích Nhất Hạnh? Điều này quả là rất khó cho tôi vì sẽ mất khá nhiều thời gian.

Nhưng chuyện đó gác lại tính sau. Ở đây tôi muốn nói điều quan trọng hơn. Nhờ vào kinh sách, để biết được rằng từ những năm đầu công nguyên, người Việt đã có chữ viết và một dòng giáo lý rực rỡ, bao trùm Đông Nam Á về sau. Đồng thời những bài kinh kệ viết bằng thơ thất ngôn tứ tuyệt và thất ngôn bát cú nói lên rằng xuất xứ dòng thơ này ở Việt Nam. Có những nhầm lẫn tệ hại của lịch sử mà tôi cho là có kẻ đã cố ý gây nên? Sự lười nhác nghiên cứu của hậu bối đã để mình tự rơi vào cái bẫy tơ vò kẻ thù giăng sẵn rất khó bề gỡ rối! Liệu có phải vì Đại Thừa là phải lớn hơn, phải cổ xưa hơn Tiểu Thừa nên mới ra nông nỗi? “Tuyển tập thơ Đường” có rất nhiều bài viết ở thành Luy Lâu. Trong các sách văn học Phật giáo thường nhắc đến những biến động của xã hội Trung Quốc, khiến cho các văn nhân chí sĩ, tu sĩ phải lánh nạn, từ Trung Quốc kéo sang Giao Châu rất đông, kẻ học làm thơ, người học đạo (sẽ kể ở kỳ sau). Thành Luy Lâu suốt một quãng thời gian dài đến trên dưới ngàn năm là trung tâm văn hóa và trí tuệ không chỉ của Việt Nam, mà của cả Trung Hoa. Tiếc thay, đó là thời điểm nước ta bị thuộc địa, cho nên văn hóa bản địa bị gộp chung thành ra văn hóa của kẻ xâm lược. Đó là sự thật mà người Bắc Ninh nên tự hào và gìn giữ !

Danh mục 15 bộ kinh của Nghĩa túc kinh

TT

Tên kinh gốc

Tên kinh tiến Phạn

Tên trong bản dịch của ngài Thích Nhất Hạnh

1

Kiệt Tham Vương Kinh

Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ nhất, Đại Tạng Tân Tu 198

Tương đương với Kàma Sutta, Sutta-Nipàta 766-771

 

Kinh Nhiếp Phục Tham Dục

 

2

Ưu Điền Vương Kinh

Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ nhì, Đại Tạng Tân Tu 198

Tương đương với Guhatthaka Sutta, Sutta-Nipàta 772-779

 

Kinh Hang Động Ái Dục

 

3

Tu Đà Lợi Kinh

Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ ba, Đại Tạng Tân Tu 198

Tương đương với Dutthatthaka Sutta, Sutta-Nipàta 780-787

 

Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ

 

4

Ma Kiệt Phạm Chí Kinh

Nghĩa Túc Kinh, kinh  thứ tư, Đại Tạng Tân Tu 198

 

tương đương với Suddhatthaka Sutta, Sutta-Nipàta 788-795)

Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh

 

 

5

Kính Diện Vương Kinh

Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ năm, Đại Tạng Tân Tu 198

 

Tương đương với Paramatthaka Sutta,Sutta-Nipàta 796-803

Kinh Sự Thật Đích Thực

 

6

Lão Thiếu Câu Tử Kinh

Nghĩa Túc Kinh thứ sáu, Đại Tạng Tân Tu 198

 

Tương đương với Jarà Sutta, Sutta-Nipàta 804-813

 

Kinh Buông Bỏ Ân Ái

 

7

Di Lặc Nạn Kinh

Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ bảy, Đại Tạng Tân Tu 198

 

Tương đương với Tissametteyya Sutta, Sutta-Nipàta 814-823

 

Kinh Xa Lìa Ái Dục

 

8

Dũng Từ Phạm Chí Kinh

Nghĩa Túc Kinh thứ tám, Đại Tạng Tân Tu 198

 

Tương đương với Pasùra Sutta, Sutta-Nipàta 824-834

 

Kinh Buông Bỏ Ý Muốn Hơn Thua

 

9

Ma Nhân Đề Nữ Kinh

Nghĩa Túc Kinh thứ chín, Đại Tạng Tân Tu 198

 

Tương đương với Màgandiya Sutta, Sutta-Nipàta 835-847

 

Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni

 

10

Dị Học Giác Phi Kinh

Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ mười, Đại Tạng Tân Tu 198

 

 

Tương đương với Kalahavivàda Sutta, Sutta-Nipàta 862-877

 

Kinh Đạo Lý Duyên Khởi

 

11

Mãnh Quán Phạm Chí Kinh

Nghĩa Túc Kinh thứ 11, Đại Tạng Tân Tu 198

 

Tương đương với Cùlaviyùha Sutta, Sutta-Nipàta 878-894

 

Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi

 

12

Pháp Quán Phạm Chí Kinh

Nghĩa Túc Kinh, Kinh thứ 12, Đại Tạng Tân Tu 198

 

Tương đương với Mahàviyùha Sutta,Sutta-Nipàta 895-914

 

Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt

 

13

 

Đâu Lặc Phạm Chí Kinh

Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ 13, Đại Tạng Tân Tu 198

 

Tương đương với Tuvatake Sutta, Sutta-Nipàta 915-934

 

Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản

 

14

Tỳ Khưu Ni Liên Hoa Sắc Kinh

Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ 14, Đại Tạng Tân Tu 198

 

 

Tương đương với Sàriputta Sutta, Sutta-Nipàta 955-975

Kinh Phòng Hộ

 

15

Phụ Tử Cọng Hội Kinh

Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ 15, Đại Tạng Tân Tu 198

 

Tương đương với Puràbheda Sutta, Sutta-Nipàta 848-861

 

Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt

 

16

Duy Lâu Lạc Vương Kinh

Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ 16, Đại Tạng Tân Tu 198

 

Tương đương với Attadanda Sutta, Sutta-Nipàta 935-954

 

Kinh Chuyển Hóa Bạo Động và Sợ Hãi

 

 

Kỳ 5: Lịch sử con đường truyền giáo từ Việt Nam sang Trung Quốc.


Để gửi ý kiến nhấp vào đây

Các tin khác:
 PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC VIỆT NAM Bài 3: Chữ Phạn là trí tuệ của dân tộc Chăm Pa (15h: 06-03-2017)
 NGUỒN GỐC PHẬT GIÁO CÓ TỪ VIỆT NAM. Kỳ 2 : Phật Thích Ca được sinh ra, lớn lên và giác ngộ trên đất Việt Nam (18h: 28-02-2017)
 PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC TỪ VIỆT NAM. Kỳ 1: Nguồn gốc chữ (11h: 14-02-2017)