Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC VIỆT NAM. Kỳ 5: Phật A-di-đà và lịch sử con đường truyền giáo Việt Nam – Trung Hoa
 
(19h: 02-04-2017)
PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC VIỆT NAM. Kỳ 5: Phật A-di-đà và lịch sử con đường truyền giáo Việt Nam – Trung HoaBài viết của Phan Lan Hoa
***

Nay đã xác định xứ Ấn Độ là xứ Đông Dương, thì có nghĩa A Dục Vương là một vị vua Việt Nam! Và tôi nghĩ rằng vị vua này chính là Phật A Di Đà?

 

 

PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC VIỆT NAM

Kỳ 5: Phật A-di-đà và lịch sử con đường truyền giáo Việt Nam – Trung Hoa

***

                                                                                    Phan Lan Hoa

Khi đã tháo gỡ được nút thắt, thì việc gỡ rối vấn đề trở nên dễ dàng hơn. Tôi sẽ không sa đà vào dị truyện, cũng như đã nói ở kỳ 3 rằng tôi sẽ chỉ làm cái công việc của người “cắm biển báo” vào những chỗ cần hiệu chỉnh trong lịch sử Phật giáo mà thôi. Rằng khi đã xác định xứ ta mới là xứ Ấn Độ, thì tất yếu các nhà Phật học nên mau chóng quay hướng về ta mà nghiên cứu, mâu thuẫn của lịch sử ắt được giải quyết thỏa đáng.

Riêng tôi, thì tôi thấy rỡ ràng một sự thật rằng, sau khi phát hiện xứ ta mới là Ấn Độ, thì lịch sử truyền giáo từ Việt Nam sang Trung Quốc trở nên sớm hơn so với sự mộ đạo của Mâu Tử như các vị nghĩ. Nó phải là từ thời vua A Dục (273-232 TCN). Vị vua này sử nhà Phật chép là vua xứ Ấn Độ. Nay đã xác định xứ Ấn Độ là xứ Đông Dương, thì có nghĩa A Dục Vương là một vị vua Việt Nam! Và tôi nghĩ rằng vị vua này chính là Phật A Di Đà?  Có hai lý do để tôi khẳng định điều đó:

- Tên của vua A Dục trong Hán kinh là A-du-già (阿輸伽). A-du-già, cũng có thể phát âm là A-di-đà?

- Hơn thế nữa, A-du-già (A-di-đà) chính là người đã cho xây dựng tám vạn bốn nghìn tháp để thờ tám mươi tư ngàn xá lợi Phật cho công cuộc truyền bá Phật giáo. Mà như mô tả trong truyền thuyết thì truyền ra chín phương trời, bao trùm cả Đông Nam Á và Bách Việt. Bỏ qua tình tiết dị truyện, vua A Dục là một nhân vật lịch sử có thật. Hơn thế nữa, là một bậc quân vương tiếng tăm rất lẫy lừng, từng thu phục hàng trăm nước chư hầu và là một nhà truyền đạo xuất chúng. Có để lại di tích của mình (xem hình). Điểm tôi muốn nhấn mạnh là trong dân chúng mộ đạo Việt Nam, xưa nay hễ mở miệng là “A-di-đà-phật”, cũng là một bằng chứng chứng tỏ rằng A-di-đà là hiện thân tối cao nhất trong dòng Phật Việt Nam. Còn như câu chuyện mà tôi kể ở kỳ 2, Thích Ca trong lòng dân là một vị phật phản diện không được tôn kính bằng A-di-đà. Sự lười nhác kinh sách của tăng thích thời nay dẫn đến nhầm lẫn trong tôn kính và thờ phụng. Phật phản diện được đề lên ngôi cao hơn Phật chính đạo có lẽ là nguyên cơ tắc loạn bây giờ? Nữa là từ chỗ nhầm vị trí địa lý Ấn Độ từ Đông Dương sang Nam Á, cho nên nhiều tăng thích viết sử nhà Phật theo kiểu tự sướng, gán ghép đủ thứ tình tiết ly kỳ của sử Hindu vào nhân vật A Dục vương, khiến cho nó rối tung rồi mù cả lên.

- Câu chuyện về A-du-già còn có thêm một chi tiết để xác định Ấn Độ là Việt Nam: Vào khoảng năm 260 TCN, A Dục vương đã chinh phục nhà nước Kalinga, xây dựng đế chế Maurya. Linga và Yoni là biểu tượng thờ phụng thần Shiva và nữ thần Kali của Ấn Độ giáo. Đây chính là hai vị thần của Chămpa, nay vẫn còn dấu tích để lại (xem hình dưới).

Trong “Đi tìm dấu tích nhà nước Việt Thường Thị” tôi có đặt nghi vấn rằng sau khi bị An Dương vương cướp nước, hậu duệ của các vua Hùng đã vượt sông Hà Hoàng (tức sông Hộ Độ ở Hà Tĩnh ngày nay) tìm đến vùng đất Nhượng Bạn gầy dựng vương quốc mới. Như vậy Ấn Độ có vẻ là hậu Việt Thường và tiền Lâm Ấp, mà các nhà khảo cổ đã khó phân biệt giữa hai dòng văn hóa Sa Huỳnh và Đông Sơn, bởi vì nó là hai trong một. Hai chữ Ấn Độ nói lên kỷ nguyên thiền pháp thịnh hành ở nước ta. Song có điều đáng ngẫm ngợi lắm lắm. Dòng Ấn Độ giáo tiếng tăm  bao trùm Đông Nam Á và Trung Hoa, cho nên cái tên Ấn Độ (Indonesien) tồn tại ở bán đảo Đông Dương mãi tới thế kỷ 18-19 (thời Pháp thuộc). Như vậy lịch sử Phật giáo dường như chỉ mới bị tráo trở trong thế kỷ XX? Ai đã to gan lớn mật làm điều trái đạo đó?

Xin quay trở lại con đường truyền giáo Việt Nam – Trung Quốc. “Tục cao tăng truyện” chép:

“Các ông Thái Âm ... đến nước Nguyệt Chi, một lãnh thổ gần Thiên Trúc, gặp hai Phạm tăng là Ma Ðằng và Pháp Lan muốn dâng kinh tượng đến nước Trung Hoa, bèn cùng trở về phương Ðông. Niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ mười (67 TL) đến Lạc Dương. Ma Ðằng vào triều hiến kinh tượng. Vua rất vui truyền đến ở Hồng Lô Tự, Pháp Lan đi đến sau.

Niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ mười bốn (Kỷ Tỵ) (*) vua xuống chiếu ở ngoài cửa Tây Ung lập riêng một chùa, mời hai ngài đến ở. Vì Bạch Mã chở kinh đến nên đặt tên chùa là Bạch Mã. Vua đến chùa hỏi Ma Ðằng:

- Sau khi Phật ra đời vì sao không giáo hóa đến đây?

Ma Ðằng đáp:

- Nước Ca tỳ la vệ ở Ấn Ðộ, ba đời chư Phật trong tam thiên đại thiên thế giới, trăm ức nhật nguyệt đều ở đây xuất hiện. Thiên thần rồng quỷ có nguyện lực đều sanh ở đó nhận sự giáo hóa, ngộ đạo. Chỗ khác Phật tuy không đến, nhưng ánh sáng chiếu khắp mọi nơi. Một ngàn năm trăm năm đều có thánh nhân truyền lời dạy của Phật đến để giáo hóa.

Vua rất vui. Hai ngài hỏi tiếp:

- Phía Ðông chùa có quán gì?

Vua đáp:

- Xưa có đống đất tự nhiên nổi lên, dẹp đi lại nổi, đêm có ánh sáng lạ, dân gọi là mộ Thánh. Do đó thờ, nghi là thần Lạc Dương.

Ma Ðằng nói:

- Theo Kim Tạng ở Thiên Trúc ghi. Vua A Dục chôn Xá lợi Phật khắp thiên hạ tới 84.000 chỗ. Nay ở Trung Hoa có mười chín chỗ, đây là một.

Vua thất kinh liền đến lễ bái. Chợt có một vầng ánh sáng tròn hiện trên mộ, ba thân hiện trong ánh sáng. Thị vệ hô “Vạn tuế!”. Vua mừng nói:

- Nếu không gặp hai đại sĩ, đâu biết được Di hựu của Thượng Thánh.

Rồi xuống chiếu xây tháp lên trên theo cách thức của hai ngài. Tháp hoàn thành có chín tầng, cao hai trăm thước. Năm sau ánh sáng lại hiện, có cánh tay sắc vàng lộ trên đỉnh tháp ca thước như trong lưu ly thấy hương trời. Vua lại đến chiêm bái. Ánh sáng theo bước chân xoay vòng, từ ngọ đến giờ thân (3 giờ chiều) mới diệt.

Lược bỏ phần dị truyện, chỉ lấy cốt truyện, sẽ truy ra các mốc lịch sử quan trọng:

1. Trong lời của Ma Đằng rằng xứ Việt Nam ta: Một ngàn năm trăm năm đều có thánh nhân truyền lời dạy của Phật đến để giáo hóa...”. Như vậy tính đến năm 67 sau công nguyên, Phật giáo ở nước ta đã duy trì được Trên 1.500 năm. Tương ứng với lịch sử các triều đại vua Hùng trên đất Việt Thường. Điều này “Lĩnh Nam trích quái” chép ở phần truyện về “Chử Đồng Tử”.

2. Phật A-di-đà được sinh ra ở thế kỷ thứ III trước công nguyên. Trước A-di-đà là Phật tổ Như Lai. So với Phật Thích Ca tông tích không rõ ràng, thì A-di-đà là một vị vua lịch sử rất có tiếng tăm lẫy lừng, có bút tích để lại bằng chữ viết của người Chămpa (xem hình). Đồng thời xá lợi Phật từ Việt Nam do chính vua A Dục điểm tích dấu ấn truyền đạo vào Trung Hoa (273-232 TCN). Hơn 300 năm sau, đến năm 67 sau công nguyên thì Phạm tăng mới từ Việt Nam sang để truyền pháp giáo. 

3. Nói đi nói lại thì Phật giáo vẫn thể hiện có nguồn gốc từ Chămpa: “Các ông Thái Âm ... đến nước Nguyệt Chi, một lãnh thổ gần Thiên Trúc, gặp hai Phạm tăng là Ma Ðằng và Pháp Lan muốn dâng kinh tượng đến nước Trung Hoa, bèn cùng trở về phương Ðông”. Họ Phạm há chẳng phải là dòng họ đầu tiên lập nên nước Lâm Ấp sao? Phạm, hay là Lam (Già Lam)? Hay là Lãm (Sùng Lãm - tên cúng cơm của đức Việt tổ Lạc Long Quân)? Chỉ biết rằng nghe “Phạm tăng” thì biết chắc hai thiền sư người Việt. Ở bài: “Vấn đề nguồn gốc tộc người và sự hình thành loại hình nhân chủng Khmer", TS.Nguyễn Khắc Cảnh viết: “...So sánh về đặc điểm hình thái, người Indonesien cổ và Vedoid cổ giống nhau về các đặc điểm cơ bản: da sẫm màu, tóc thường uốn làn sóng, mũi rộng, môi dày, hình dạng hộp sọ dài hay trung bình, tầm vóc người thấp khoảng từ 155cm đến 158cm. Sự tương đồng về những đặc điểm hình thái cơ bản đó đã chứng tỏ hai loại hình này đều xuất phát chung từ một nguồn gốc...”. Mô tả này chẳng phải là rất giống tượng Phật A-di-đà hiện nay sao? Không chỉ A-di-đà, mà trong chùa Kiến Sơ, cả tam thế Phật và A-di-đà đều tóc xoăn làn sóng, mặt tròn, môi dày, mũi rộng... Cho nên, từ hình đúc tượng Phật có thể kết luận: Phật là đấng tiên linh của chủng người Ân-đô-nê-diên và Vê-đô-ít trên bán đảo Đông Dương. Lịch sử Phật giáo gắn liền với lịch sử Đông Dương. Nên tôi cho rằng, nếu tập hợp các kinh sách của Phật giáo lại, lược bỏ phần dị truyện, ta không chỉ quy y được lịch sử Bụt Đạo Việt Nam, mà còn hàn gắn được cả những quãng mờ, quãng đứt gãy của lịch sử Việt Nam (do kẻ thù và bọn bán nước nhiều lần cố tình phá hoại). Cũng như lịch sử dân tộc Chămpa sẽ được gầy dựng lại đầy đủ hơn!

4. “Truyền Đăng Lục” chép: “Phật Tổ từ trước gồm 30 quyển Cảnh Đức truyền đăng lục, từ 7 Phật đến pháp tự của dòng Pháp Nhãn có 52 đời...”. Tôi xem qua, chỉ có 5 tổ là của Trung Hoa, còn lại thì đều là các tổ Thiên Trúc. Vậy thì truy ra 7 Phật và 47 tổ Pháp Nhãn còn lại đều là của nước ta. Nực cười cho người Trung Hoa vỗ ngực Đại Thừa? Còn tôi, trước chưa tận hiểu, thời nghĩ rằng Trúc Lâm và Thảo Đường là của Việt Nam, nên bạo gan lên tiếng “đòi bản quyền”. Ngờ đâu vòm trời Lạc Đạo bất ngờ khai mở, rộng lớn vô biên, mới vỡ nhẽ ra rằng đâu chỉ có ngần ấy (Thảo Đường và Trúc Lâm), mà tất tần tật, dẫu cho trí tuệ của Đại Thừa, hay Tiểu Thừa chi chi cũng đều là trí tuệ Việt Nam, không phải trí tuệ Trung Hoa! Kinh sách hiện nay thuộc dạng kỳ kinh dị bản, cần phải bắt đầu Nghĩa Túc Kinh làm gốc mà chuẩn y lại cho đúng với tư tưởng của tổ tiên.

Tôi có thể tóm tắt một cách dễ nhớ nhất lịch sử Bụt Đạo Việt Nam như sau:

- Nguồn gốc Phật giáo có từ Việt Nam vào kỷ các vua Hùng. Chữ Phạn cũng là chữ viết chính thống của các vua Hùng trên đất Việt Thường (bao gồm hai dân tộc cùng anh em nội tộc: Việt – Chăm) 

- Chữ Phật có nguồn gốc từ chữ Bụt, vốn là hiệu thụy dành phong tặng cho các vị vua hiền đức, sùng đạo, đã thực sự giác ngộ được đạo và có công truyền đạo trong dân chúng An Nam. Người giác ngộ không ở hàng vua chúa thì được phong là Tổ, không gọi là Bụt. Bụt và Tổ là những người đã giác ngộ. Sử chép, đàn ông người Việt Thường cổ: chân trần, mình trần đóng khố, đầu gọt trọc, trên người chạm khắc hình con giao long. Mô tả này cho thấy tất cả đàn ông Việt Thường trước công nguyên đều là pháp sư.

- Phật tổ Như Lai còn được gọi là Già Lam. Tôi nghĩ đấy là Già Lãm, tức Lạc Long Quân Sùng Lãm, cha đẻ của chủng người Ân-đô-nê-diên (Indonesien) trên bán đảo Đông Dương.

-  Phật A-di-đà là vị phật tối cao nhất của tiền kiếp hiện tại. Là một vị vua An Nam rất có thế lực ở thế kỷ thứ III trước CN, tên là A Dục. Chính A Dục vương (Phật A-di-đà) là người cho làm tám vạn bốn ngàn chiếc hộp đựng xá lợi Phật, bỏ trong tám vạn bốn ngàn chiếc chum và đem chôn khắp đất Bách Việt và Đông Nam Á, bao gồm cả tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây Trung Quốc, đánh dấu lãnh thổ truyền đạo của Phật giáo từ thế kỷ thứ III TCN. 

- Hơn 300 năm sau thời đại A-di-đà vương đem xá lợ Phật tỏa ra chín phương trời, đến năm 67 sau CN, hai vị Phạm Tăng tên là Ma Đằng và Pháp Lan là người kế túc sự nghiệp truyền đạo, đã từ đất Việt Thường đem giáo pháp sang Trung Quốc truyền bá.

- Đời Hán Anh Đế có Già La Chà Lê (Khâu Đà La), cũng được tôn là Bụt, chủ trì Ấn Độ giáo tại thành Luy Lâu (Bắc Ninh). Nhằm thời loạn lạc, văn nhân chí sĩ từ Trung Quốc kéo đến Luy Lâu lánh nạn và học đạo rất đông. Còn đường truyền giáo sang phương Bắc phổ cập hơn chủ yếu từ đấy.

- Tính đến năm Cảnh Đức (đời Đường), ở Việt Nam cả thảy có 7 Phật và 52 tổ. Trong đó: Luy Lâu có 20 chùa, 15 kinh và 500 sư. Còn ở Thiên Trúc (Việt Thường-Chămpa) bấy giờ có khoảng trên dưới 3500 bộ kinh Phật, Đường Tăng đã đem về Trung Quốc 657 bộ kinh chữ Phạn và đã dịch ra tiếng Hán được 75 bộ (1335 quyển).

- Sau quãng thời gian học đạo 14 năm ở Việt Nam, Đường Tăng quay về Trung Quốc và lập nên Phật phái Đại Thừa ở Trung Quốc (Thế kỷ từ 7, đời Đường). Thích Ca có lẽ là ông ta? Nhưng Đại Thừa gian giảo đã đánh lận con đen lai lịch của Phật A-di-đà, tăng tuổi thọ Thích Ca lên 1000 năm tuổi, để hòng thống lĩnh thế giới Phật giáo, chiếm đoạt trí tuệ Việt Nam ? Song theo quy định của thế giới Phật giáo, người không thuộc hàng vua chúa chỉ được phong Tổ, không được phong Bụt, cho nên Đường Tăng mãi không phải là Bụt. Thích Ca trong lòng dân thành Luy Lâu là vị Phật phản diện không được tôn sùng.

- Chỉ có con đường truyền giáo từ Việt Nam sang Trung Quốc, không có chuyện truyền giáo ngược  lại. Phật giáo nguyên thủy ở Việt Nam lâu đời hơn Phật giáo Đại Thừa ở Trung Quốc khoảng trên dưới 2500 năm.

 

Việc giác ngộ chân kinh của tôi đến đâu sẽ bàn ở kỳ sau nữa. Còn như kỳ tới, tôi muốn nói một chút về sự nghiệp duy trì máu mủ dòng tộc; về linh hồn và nghiệp chướng sao cho phù hợp với lời truyền dạy của Phật. Nói chung tôi nhìn thấy sự nguy biến trong sự nghiệp duy trì dòng tộc  ở Việt Nam và muốn đưa lời cảnh báo. Cảnh báo của tôi như thế nào, kính mời đón đọc kỳ 6.

 

 

Ý kiến bạn đọc:
Thúy Tím

Đọc xong một seri bài mà hãi hùng về khả năng tổng hợp lô gic và khái quát của em. Viết tiếp đê, ủng hộ ủng hộ.

Góp thêm với em nỗi ngờ vực lâu nay của chị để em khảo cứu nhé: Làng Thổ Hà Bắc Ninh nằm cạnh sông Cầu có ngôi đình thờ Lão Tử. Dân làng hàng năm vẫn làm lễ rất to. Các cụ kể rằng Lão Tử là ng làng dạy học và trong đình còn nhiều dấu ấn của ngài. Theo các cụ già kể thì Lão Tử này chính là Lão Tử của TQ nên chị rất lạ tính dành thời gian tìm hiểu. Sau khi ông bạch nhật phi thăng dân làng tôn ông làm thành hoàng. Cách đó cỡ 1km là am của Khổng Tử. Điều đó rất lạ đối với với một làng nhỏ, rất cổ. Em có thể tham khảo về lễ hội làng Thổ Hà trên google.

Theo hiểu biết của chị thì Phật gia có 8 vạn bốn ngàn pháp môn. Phật Adi đà, Thích Ca, Dược sư... mỗi ông có thiên quốc riêng và (có lẽ) quản những pháp môn tu luyện riêng đều thuộc về Phật Gia( ko phải Phật giáo nhé)

Chị còn cho rằng thời cổ đại tôn giáo của Việt Nam chính là Mật Tông vì dấu vết thờ Linga- Jonia rất sâu đậm. Trong sử cũng chép rằng Mật Tông từ Ấn Độ truyền sang Trung Hoa vào đời Đường nên gọi là Đường Mật. Vì nó cổ súy cho nam nữ song tu ko phù hợp với văn hóa Trung Hoa nên bị cấm. Sau đó nó sang Nhật.

Ở Campuchia tiểu thừa vẫn thịnh hành và cũng đầy dấu ấn của mật tông. Còn Phật giáo Đại thừa hiện nay là văn hóa thờ đa Phật. Được đánh giá gốc gác từ Phật Thích Ca truyền ra. Hiện nay ở Việt Nam ng đi chùa vẫn ko phân biệt được: Tịnh Độ Tông, Thiền Tông, Mật Tông, Hoa Nghiêm Tông, Thiên Thai tông...khác nhau thế nào. Cứ đến chùa là Adi đà Phật. Thế nên mới là thời mạt pháp.

Phlanhoa phản hồi:

Chị kính quý.

Em rất vui vì thông tin của chị góp thêm bằng chứng chứng minh trí tuệ VN. Góp với em tiếng nói tố giác dã tâm người Hán. Cướp nước, ăn cắp kinh sách, rồi dã tâm đập phá chùa chiền, hủy diệt dân tộc để ăn quỵt thành quả trí tuệ VN.


- Đất Bắc Ninh là đất Tổ của nhiều cái Tổ ạ:
+ Nơi sinh ra mẹ U Cơ
+ Thủ phủ của Ấn Độ giáo
+ Trung tâm văn hóa Đông phương từ thời Hán đến thời Đường
+ Giờ chị nói về Lão Tử, có lẽ đúng luôn rồi, vì hình tượng Lão Quân cưỡi con trâu thì có vẻ đó là Việt Nam ta. 

Buồn nỗi Ta có "1000 năm nô lệ giặc Tàu", cho nên lịch sử của Lạc Việt bị đánh đồng vào lịch sử Trung Hoa và họ nghiễm nhiên nhận là văn hóa của họ. Ngày nay con cháu các dòng họ có thủy tổ Trung Hoa đang bị dật dây làm trò đồi bại với lịch sử, trong đó có lịch sử Phật giáo.

- Về Phật giáo: có thể hiểu thế này:

+ Bụt già, phiên âm tiếng Hán thành Phật gia. Bụt Đạo phiên âm tiếng Hán là Phật giáo

+ Tất cả các tông phái đều của Việt Nam cả Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Ở thời vua A Dục (A-di-đà), xứ Ấn Độ bao gồm lãnh thổ Giao Chỉ & Việt Thường. Song các nước chư hầu của A Dục Vương thì bao gồm cả Quảng Đông, Quảng Tây Trung Quốc và 9 nước Đông Nam Á. A-di-đà đã rất thông minh, đánh dấu lãnh địa cai quan của mình bằng tám vạn bốn ngàn chum xá lợi. Để làm được điều đó, có 9 phái đoàn Bụt Đạo (Phật giáo) tỏa ra chín phương. Mỗi phái đoàn tùy theo phong tục tập quán của địa phương họ đi đến mà chỉnh sửa giáo lý cho phù hợp, tự nhiên hình thành một tông phái, bao gồm cả Bà-la-môn giáo, Khơ-me-giáo.

Đó là ban đầu. Còn theo Truyền Đăng Lục, đến thời Đường có 52 tổ, tức tương ứng 52 tông phái. Ngoài cái chung, mỗi tông phái có những quy định riêng của họ. Song cơ bản đều là các tổ Thiên Trúc, tức nguồn gốc xuất xứ Việt Nam. Song nhiều tổ chỉ duy trì được một thời gian rồi mất, hoặc để tử tách riêng thành tông phái khác. Ví dụ như Vô Ngôn Thông được 11 đời, thì môn đệ của dòng thiền phái này chính là Trần Nhân Tông đã lập nên tông phái mới là Trúc Lâm; Hay Thiền phái Thảo Đường của Lý Thánh Tông được 25 đời rồi thôi. Những thiền phái có tên bây giờ từ Trung Quốc đều chỉ là các thiền phái sau thế kỷ 11.

 Cho nên "Nam mô A-di-đà Phật" mới là đúng đạo ạ. Vị này là tối cao nhất trong các vị Phật của Tiền kiếp hiện tại. Còn như Thích Ca trong lòng dân VN là phật Phản diện. Ở chùa Kiến Sơ - Bắc Ninh, Phật A-di-đà được thờ phung ở ngôi trên phật Thích Ca 2 bậc, chị có thể ghé thăm ạ.


Để gửi ý kiến nhấp vào đây

Các tin khác:
 PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC VIỆT NAM Kỳ 4: Nghĩa Túc Kinh là kinh sách đầu tiên của Ấn Độ giáo Việt Nam. (18h: 19-03-2017)
 PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC VIỆT NAM Bài 3: Chữ Phạn là trí tuệ của dân tộc Chăm Pa (15h: 06-03-2017)
 NGUỒN GỐC PHẬT GIÁO CÓ TỪ VIỆT NAM. Kỳ 2 : Phật Thích Ca được sinh ra, lớn lên và giác ngộ trên đất Việt Nam (18h: 28-02-2017)
 PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC TỪ VIỆT NAM. Kỳ 1: Nguồn gốc chữ Phật (11h: 14-02-2017)