Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phản biện các nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC VIỆT NAM - Kỳ 4: Phật A-di-đà và lịch sử con đường truyền giáo Việt Nam – Trung Hoa
 
(19h: 02-04-2017)
PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC VIỆT NAM - Kỳ 4: Phật A-di-đà và lịch sử con đường truyền giáo Việt Nam – Trung HoaBài viết của Phan Lan Hoa
***

Nay đã xác định xứ Ấn Độ là xứ Đông Dương, thì có nghĩa A Dục Vương là một vị vua Việt Nam! Và tôi nghĩ rằng vị vua này chính là Phật A Di Đà?

  

PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC VIỆT NAM

Kỳ 4 - Phật A-di-đà và lịch sử con đường truyền giáo Việt Nam – Trung Quốc

***

                                                                                                                       Phan Lan Hoa

Tóm tắt lại các kỳ trước:

Bài 1: Ấn Độ là tên cổ của Việt Nam: Ấn Độ là tên gọi một chủng người có nguồn gốc nôi sinh tại bán đảo Đông Dương có tên khoa học là Indonesien. Tên tiếng Pháp và tiếng Anh đều là Indochine, chứ không phải Indochina như có bạn từng giải thích?

Bài 2: Thiên Trúc là Đông Nam Á mà Việt Nam là trung tâm: Lịch sử Trung Quốc thời Hán – Tùy Đường ghi chép: Các nước Thiên Trúc là “các nước biển đảo ở ngoại vi Nhật Nam”; Ở “phía Nam và Tây Nam Giao Châu”. Đồng thời khẳng định “Giao Châu đường thông Thiên Trúc”.

Bài 3: Chữ Phạn là trí tuệ Chămpa: Chính sử Việt Nam và Trung Quốc thời Hán – Tùy – Đường, cũng như Lịch sử Phật giáo đồng ghi chép: “Lâm Ấp khi dựng nước đã dụng Hồ tự để trao đổi với nhà Tùy, chứ không dụng chữ Hán”. Chính sử cũng thừa nhận, Hồ tự là tiền thân của Phạn ngữ sau này. Chỗ này có bạn thắc mắc : “Lâm Ấp mới ra đời sau CN dễ đến hai thế kỷ?”. Tôi xin trả lời: Để có được bộ chữ mà có thể trao đổi tầm ngoại giao, thì nó phải có ít nhất nghìn năm lịch sử hình thành và phát triển trước đó. Nghĩa là vùng đất trước khi Lâm Ấp ra đời đã có Hồ tự dụng làm chữ viết ước chừng trên dưới ngàn năm. Đồng thời tôi cũng chứng minh Chữ India cổ không hề là chữ Phạn.

Nay nói thêm: Có căn cứ lịch sử chứng minh nó là thứ chữ của nước Việt Thường Thị vào thời nhà Chu. Sử chép: “Năm 1110 TCN, Việt Thường Thị nghe nói nhà Chu có phương pháp canh nông tốt, nên đã cho sứ giả mang Lạc thư và chim trĩ trắng, rùa nghìn tuổi sang cống để xin học hỏi kinh nghiệm. Qua nhiều lần phiên dịch Chu Công mới hiểu được nguyện vọng của sứ giả. Tuy nhiên Chu Công phán rằng: Nước ấy là ngoại bang, không phải chư hầu, ta chưa từng gây hấn nên không tiếp nhận triều cống. Ra lệnh cho chép lại các ký tự trên mai rùa, rồi trả lại triều cống và tặng cho La bàn để về lại cố hương...”.

Đoạn ghi chép này của lịch sử có 3 điều đáng phải nhớ:

·       Điều thứ nhất: Lạc thư + Cửu tinh + Bát quái đồ sơ khởi là của Việt Thường Thị. Đất nước này lưu truyển tên tuổi trên dưới 3000 năm, ít nhất có thể xác định được là từ 2656 TCN đến thế kỷ thứ chín SCN dưới chân núi Hồng Lĩnh. Lúc thuộc về Đai Việt; lúc lại thuộc về Chămpa. Nay toàn bộ là lãnh thổ Việt Nam.

·       Điều thứ hai: Người Việt ở thời kỳ này đã bắt đầu khởi sử hình thành chữ viết

·       Điều thứ ba: Chính là Lịch sử truyền đạo từ Việt Nam sang Trung Quốc mà tôi sẽ trình bày trong kỳ này, dưới đây:

 

Kỳ 4: PHẬT A-DI-ĐÀ VÀ LỊCH SỬ CON ĐƯỜNG TRUYỀN GIÁO VIỆT NAM – TRUNG HOA

Câu chuyện Thiền sư Ngưỡng Quang (Phật Giáo gọi là Phật Quang), trao Pháp Ấn (  - ấn độ) cho Chử Đồng Tử - Tiên Dung vào kỷ vua Hùng thứ 3 tại núi Quỳnh Viên, cho thấy đồng thời kỳ với câu chuyện Việt Thường Thị đi sứ ngoại giao sang Chu Thị năm 1110TCN. Đồng thời nó cũng nhất quán với  ghi chép trong “Tục cao tăng truyện”:

“Các ông Thái Âm ... đến nước Nguyệt Chi, một lãnh thổ gần Thiên Trúc, gặp hai Phạm tăng là Ma Ðằng và Pháp Lan muốn dâng kinh tượng đến nước Trung Hoa, bèn cùng trở về phương Ðông. Niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ mười (67 TL) đến Lạc Dương. Ma Ðằng vào triều hiến kinh tượng. Vua rất vui truyền đến ở Hồng Lô Tự, Pháp Lan đi đến sau.

Niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ mười bốn (Kỷ Tỵ), vua xuống chiếu ở ngoài cửa Tây Ung lập riêng một chùa, mời hai ngài đến ở. Vì Bạch Mã chở kinh đến nên đặt tên chùa là Bạch Mã. Vua đến chùa hỏi Ma Ðằng:

- Sau khi Phật ra đời vì sao không giáo hóa đến đây?

Ma Ðằng đáp:

- Nước Ca-tỳ-la-vệ ở Ấn Ðộ, ba đời chư Phật trong tam thiên đại thiên thế giới, trăm ức nhật nguyệt đều ở đây xuất hiện. Thiên thần rồng quỷ có nguyện lực đều sanh ở đó nhận sự giáo hóa, ngộ đạo. Chỗ khác Phật tuy không đến, nhưng ánh sáng chiếu khắp mọi nơi. Một ngàn năm trăm năm đều có thánh nhân truyền lời dạy của Phật đến để giáo hóa.

Vua rất vui. Hai ngài hỏi tiếp:

- Phía Ðông chùa có quán gì?

Vua đáp:

- Xưa có đống đất tự nhiên nổi lên, dẹp đi lại nổi, đêm có ánh sáng lạ, dân gọi là mộ Thánh. Do đó thờ, nghi là thần Lạc Dương.

Ma Ðằng nói:

- Theo Kim Tạng ở Thiên Trúc ghi. Vua A Dục chôn Xá lợi Phật khắp thiên hạ tới 84.000 chỗ. Nay ở Trung Hoa có mười chín chỗ, đây là một.

Vua thất kinh liền đến lễ bái. Chợt có một vầng ánh sáng tròn hiện trên mộ, ba thân hiện trong ánh sáng. Thị vệ hô “Vạn tuế!”. Vua mừng nói:

- Nếu không gặp hai đại sĩ, đâu biết được Di hựu của Thượng Thánh.

Rồi xuống chiếu xây tháp lên trên theo cách thức của hai ngài. Tháp hoàn thành có chín tầng, cao hai trăm thước. Năm sau ánh sáng lại hiện, có cánh tay sắc vàng lộ trên đỉnh tháp ca thước như trong lưu ly thấy hương trời. Vua lại đến chiêm bái. Ánh sáng theo bước chân xoay vòng, từ ngọ đến giờ thân (3 giờ chiều) mới diệt...”.

Lược bỏ phần dị truyện, chỉ lấy cốt truyện, sẽ truy ra các mốc lịch sử quan trọng:

1. Trong lời của Ma Đằng rằng xứ Việt Nam ta: “Một ngàn năm trăm năm đều có thánh nhân truyền lời dạy của Phật đến để giáo hóa...”. Năm 67 sau Công nguyên mà nước ta đã có một nền Bụt Đạo lâu đời đến hơn 1.500 năm, thì tương đương với kỷ các vua Hùng dựng nước Việt Thường, đánh dấu một nền Văn hiến Việt tộc vĩ đại!

2. Nói đi nói lại thì Phật giáo vẫn thể hiện có nguồn gốc từ Chămpa: “Các ông Thái Âm ... đến nước Nguyệt Chi, một lãnh thổ gần Thiên Trúc, gặp hai Phạm tăng là Ma Ðằng và Pháp Lan muốn dâng kinh tượng đến nước Trung Hoa, bèn cùng trở về phương Ðông”. Họ Phạm há chẳng phải là dòng họ đầu tiên lập nên nước Lâm Ấp sao? Ở bài: “Vấn đề nguồn gốc tộc người và sự hình thành loại hình nhân chủng Khmer", TS.Nguyễn Khắc Cảnh viết: “...So sánh về đặc điểm hình thái, người Indonesien cổ và Vedoid cổ giống nhau về các đặc điểm cơ bản: da sẫm màu, tóc thường uốn làn sóng, mũi rộng, môi dày, hình dạng hộp sọ dài hay trung bình, tầm vóc người thấp khoảng từ 155cm đến 158cm. Sự tương đồng về những đặc điểm hình thái cơ bản đó đã chứng tỏ hai loại hình này đều xuất phát chung từ một nguồn gốc...”. Mô tả này chẳng phải là rất giống tượng Phật A-di-đà hiện nay sao? Không chỉ A-di-đà, mà trong chùa Kiến Sơ, cả tam thế Phật và A-di-đà đều tóc xoăn làn sóng, mặt tròn, môi dày, mũi rộng... Cho nên, từ hình đúc tượng Phật có thể kết luận: Phật là đấng tiên linh của chủng người Ân-đô-nê-diên và Vê-đô-ít trên bán đảo Đông Dương. Lịch sử Phật giáo gắn liền với lịch sử Đông Dương. Nên tôi cho rằng, nếu tập hợp các kinh sách của Phật giáo lại, lược bỏ phần dị truyện, ta không chỉ quy y được lịch sử Bụt Đạo Việt Nam, mà còn hàn gắn được cả những quãng mờ, đứt gãy của lịch sử Việt Nam (do kẻ thù và bọn bán nước nhiều lần cố tình phá hoại). Cũng như lịch sử dân tộc Chămpa sẽ được gầy dựng lại đầy đủ hơn!

3. Vua A Dục là một vị vua Thiên Trúc, chính xác là vua của đất nước có các Phạm tăng, cho nên không thể là vua của lịch sử India? Tôi xin chụp lại ý kiến của một Nghệ Nhân từng là du học sinh ở India, đề ở phần cảm nhận của kỳ trước, để bổ túc chi tiết xác minh lịch sử. Đồng thời kêu gọi Nghệ Nhân là du học sinh ở India nghiên cứu thêm. Nghệ nhân này nói, khi tham gia khóa “India and it’s culture”, người India đã từ chối, không thừa nhật Phật Thích Ca sinh ra trên đất nước họ (xem ảnh chụp dưới bài viết).

Vua A Dục điểm tích dấu ấn truyền đạo vào Trung Hoa là năm 273-232 TCN. Hơn 300 năm sau, đến năm 67 sau công nguyên thì hai Phạm tăng mới từ Việt Nam sang để truyền pháp giáo. Và tôi cho rằng vua A Dục và Phật A-di-đà là một người!

Ngoài sự logic có tính cột mốc lịch sử, còn có hai lý do khác để tôi khẳng định điều đó:

- Trùng tên: Tên của vua A Dục trong Hán kinh là A-du-già (阿輸伽), còn có thể phát âm là A-di-đà.

- A Dục vương là người có công đức lớn lao nhất trong lịch sử truyền giáo: A-du-già (A-di-đà) chính là người đã cho chôn tám vạn bốn nghìn hộp xá lợi Phật trong công cuộc truyền bá Phật giáo của Ngài. Mà như mô tả trong Lịch sử Phật giáo, thì truyền ra chín phương trời, bao trùm cả Đông Nam Á. Thời nhà Tùy được xác minh là “có 19 chỗ”, có lẽ là vùng đất Bách Việt xưa. Lịch sử Phật giáo Thái Lan, Cămpuchia, Lào, Miến Điện lại ghi chép rằng Phật giáo truyền vào nước họ do phái đoàn thứ tám của vua A Dục. Sách “Phật giáo Nam tông kinh Việt Nam – Thiện Hậu” chép: “Hai vị trưởng lão Sona và Uttara nhận trách nhiệm đi hoằng pháp ở xứ SuvannaBhùmi...”.  Suvannabhùmi, theo tài liệu của nhiều nhà khảo cứu thì nó kéo dài từ Miến Điện – Lào – Cămpuchia – miền Trung Thái Lan – Việt Nam ngày nay”.

Bỏ qua tình tiết dị truyện, vua A Dục là một nhân vật lịch sử có thật. Mẹ của A Dục vương là một nữ nhân nghèo thuộc bộ tộc Bà La Môn – Một trong những bộ tộc thuộc nước Lâm Ấp trong chính sử ghi chép. Ngài là một bậc quân vương tiếng tăm rất lẫy lừng, từng thu phục hàng trăm bộ tộc quy hợp thành quốc vương của mình và là một nhà truyền đạo xuất chúng. Vị vua này ban đầu từng là một vị vua khét tiếng tàn bạo. Nhưng trong một lần xử tội chết một thiền sư bằng hỏa thiêu. Với nét mặt và giọng nói bình thản, những câu trăng trối cuối cùng của một người giác ngộ đã lay động vị vua ngừng tay chém giết, quay về con đường hành đạo, cuối cùng công đức to lớn trong công cuộc truyền giáo đã biến Ngài thành đức Phật cao quý!

A Dục vương có để lại di tích của mình bằng chữ Phạn (xem hình). Điểm tôi muốn nhấn mạnh là trong dân chúng mộ đạo Việt Nam, xưa nay hễ mở miệng là “A-di-đà Phật”, cũng là một bằng chứng chứng tỏ rằng A-di-đà là hiện thân tối cao nhất trong dòng Phật Việt Nam. Dòng Đại Thừa tại Trung Quốc, tôn thờ Phật Di Lặc nhiều hơn.

Đáng buồn là từ chỗ nhầm vị trí địa lý xứ Ấn Độ từ Đông Dương sang Nam Á, cho nên phần lớn các nhà nghiên cứu viết sử nhà Phật theo kiểu tự sướng, gán ghép đủ thứ tình tiết ly kỳ của sử Hinđu vào nhân vật A Dục vương, khiến cho nó rối tung ri mù cả lên. Song có điều đáng ngẫm ngợi lắm lắm. Dòng Ấn Độ giáo tiếng tăm bao trùm Đông Nam Á và Trung Hoa, cho nên cái tên Ấn Độ (Indonesien) tồn tại ở bán đảo Đông Dương mãi tới thế kỷ 18-19 (thời Pháp thuộc). Như vậy lịch sử Phật giáo dường như chỉ mới bị tráo trở trong thế kỷ 20? Ai đã to gan lớn mật làm điều trái đạo đó?

4. “Truyền Đăng Lục” chép: “Phật Tổ từ trước gồm 30 quyển Cảnh Đức truyền đăng lục, từ 7 Phật đến pháp tự của dòng Pháp Nhãn có 52 đời...”. Tôi xem qua, chỉ có 5 tổ là của Trung Hoa, còn lại thì đều là các tổ Thiên Trúc. Vậy thì truy ra 7 Phật và 47 tổ Pháp Nhãn còn lại đều là của nước ta.

Tổng sắp các mốc truyền giáo từ Việt Nam sang Trung Quốc:

- Năm 273-232 TCN, vua A Dục cho chôn tám vạn bốn ngàn xá lợi Phật khắp Đông Nam Á, có 19 chỗ trên phần đất Giao Châu cũ, này thuộc Quảng Đông Trung Quốc.

- Hơn 300 năm sau đó, năm 67 SCN, hai vị Phạm Tăng của nước Thiên Trúc tên là Ma Đằng và Pháp Lan là người kế túc sự nghiệp truyền đạo, đã từ đất Việt Thường đem giáo pháp sang Giang Đông (Trung Quốc ngày nay) truyền bá.

- Đời Hán Anh Đế có Già La Chà Lê (Khâu Đà La), cũng được tôn là Bụt, chủ trì Ấn Độ giáo tại thành Luy Lâu (Bắc Ninh). Nhằm thời bên Trung Nguyên loạn lạc, văn nhân chí sĩ từ Trung Quốc kéo đến Luy Lâu lánh nạn và học đạo rất đông. Còn đường truyền giáo sang phương Bắc phổ cập hơn chủ yếu từ đấy.

- Khương Tăng Hội (199 – 280): Vị này có cha là người của dân tộc Khương Cư đã lập cư nhiều đời tại Thiên Trúc. Căn cứ theo lịch sử hình thành Lâm Ấp, thì tộc người Khương thuộc vào khoảng tỉnh Quảng Bình ngày nay). Mẹ của Khương Tăng Hội quê ở Luy Lâu (Bắc Ninh ngày nay). Là một trong những dịch giả dịch Phạn Kinh sang chữ Hán để hoằng pháp tại kỷ nguyên vua Tôn Quyền cai trị (229-252).

- Ma-la-kỳ-vực (Mãrajĩvaka) 290 – 306 Tây lịch: Vị này quê ở Tây Trúc (một địa danh thuộc tỉnh Hòa Bình ngày nay). Ban đầu vị này tới Phù Nam truyền đạo, rồi qua Giao Châu, Quảng Châu, Lạc Dương. Khi Bắc phương có biến loạn, lại quay về Giao Châu.

- Chi Cương Lương (Kalyãnarũci): đời Tấn Vũ Đế (265 – 290), quê ở Nhục Chi (thuộc Thiên Trúc). Dịch Phạn Kinh sang tiếng Hán tại Giao Châu và Quảng Châu. Tên tuổi gắn liền với “Thập nhi du kinh”.

- Mâu Tử: Tác giả của “Mâu tử lý hoặc luận”. Vị này quê ở Thương Ngô, nhưng sống với thân mẫu (có lẽ người Luy Lâu) tại Luy Lâu và ngộ đạo tại đây. Đến năm 25 tuổi thì về Thương Ngô và hoằng pháp tại Thương Ngô.

Tổng kết:

Tính đến thời Đông Hán (25-220), Việt Nam có hơn 1500 năm lịch sử Bụt Đạo (Phật giáo). Tình tiết rõ nhất có thể điểm mốc cho lịch sử Bụt Đạo Việt Nam là thầy trò Thiền sư Ngưỡng Quang – Chử Đồng Tử trao pháp ấn cho nhau tại núi Quỳnh Viên, ở kỷ vua Hùng thứ ba (núi này tại Cửa Sót – Thạch Hà). Đây là mốc lịch sử dường như không có mốc nào trước hơn trong lịch sử Phật giáo thế giới được ghi chép cho đến ngày nay;

Riêng thành Luy Lâu (Bắc Ninh ngày nay) có 20 chùa, 15 kinh và 500 sư. Có người được phong Bụt là Khâu Đà La;  Còn nói rộng cả Thiên Trúc cả thảy có hơn 1000 Phật và 47 tổ (47 dòng đạo pháp); Còn ở Chămpa, tới năm Cảnh Đức đời nhà Đường, bấy giờ có khoảng trên dưới 3500 bộ kinh Phật, Đường Tăng đã đem về Trung Quốc 657 bộ/3500 bộ Phạn kinh. Nhưng chỉ dịch ra tiếng Hán được 75 bộ (1335 quyển). Năm ngoái có bài viết, người Chămpa nói là dân tộc họ bị cướp kinh? Trộm nghĩ: Cướp hay thỉnh không quan trọng, mà chỉ có 657 / 3500 bộ kinh được dịch ra tiếng Hán. Vậy thì thẩm thấu Bụt Đạo được chừng ấy thôi sao?

Sách “Phật giáo Nam tông kinh” chép rằng, ở thế kỳ 11, đời Đường, Đại Thừa từ Trung Quốc truyền sang, lấn án cả dòng Phật Giáo Nguyên Thủy ở miền Trung nước ta. Nền tảng Phật giáo nước ta từ đó mà hệ lụy. Cho đến thế kỷ 17 – 19, Phật giáo ở Việt Nam còn bị áp bức bởi người Pháp. Từng có những cuộc tàn sát chùa chiền tại phương Nam. Phật Giáo Nam Tông được bí mật gầy dựng lại, khởi nguồn từ Cămpuchia. Sau đó mới du nhập Phật Giáo Nguyên Thủy từ miền Trung. Như vậy Phật Giáo Nguyên Thủy há chẳng phải gốc gác miền Trung sao? Vậy thì suy luận của tôi Phật giáo có nguồn gốc Chămpa chẳng phải là logic sao?

Một câu hỏi cho những ai phản đối nghiên cứu của tôi: Tại sao Dòng Bụt Đạo miền Trung lại được gọi là Phật Giáo Nguyên thủy? Hai chữ “nguyên thủy” chẳng phải là để chỉ gốc gác cội nguồn sao?

Lặng đi! Những kêu gào của xác thịt khó khăn

Nguôi đi! Tiếng ồn ào của lòng kiêu hãnh

Đứt tung ra! Những xiềng xích buộc thân

Cởi mở ra! Những ràng buộc trói mình

Ôi hệ lụy! Ôi ảo hóa sạch sanh!

Chính nơi đây văng vẳng âm thanh

Âm thanh thuần nhất, duy tinh

Ấy là chân lý gọi mình xa xa

(Thơ thiền của một Ẩn sĩ ẩn danh)

Việc giác ngộ chân kinh của tôi đến đâu sẽ bàn ở vài ba kỳ sau nữa. Sẽ có kỳ nói về linh hồn và nghiệp chướng, nguyên lý xoay vần và hệ lụy của nó ra sao? Nói chung tôi nhìn thấy sự nguy biến trong sự nghiệp duy trì dòng tộc ở Việt Nam và muốn đưa lời cảnh báo...

***

Tài liệu tham khảo:

-        Phật giáo Việt Nam – Trần Văn Giáp (nguyên bản tiếp Pháp – Tuệ Sĩ dịch)

-        Phật giáo Nam kinh tông – Thiện Hậu

-        Cao tăng truyện

-        Thiền uyển tập anh

-        Phật giáo Việt Nam – Nguyễn Đăng Thục

-        Lịch sử Việt Nam, Champa, Trung Quốc thời Hán – Tùy – Đường

-        Văn học Phật giáo – TS Lê Mạnh Thát

-        Cùng nhiều tài liệu khác.

Kỳ sau: Phật Thích Ca là ai? Để lại kinh sách gì cho đời? Và Như Lai Cồ Đàm là vị Phật cuối cùng, vĩnh hằng không còn luân hồi nào khác nữa.

 ********

 

Ý kiến bạn đọc:
Thúy Tím

Đọc xong một seri bài mà hãi hùng về khả năng tổng hợp lô gic và khái quát của em. Viết tiếp đê, ủng hộ ủng hộ.

Góp thêm với em nỗi ngờ vực lâu nay của chị để em khảo cứu nhé: Làng Thổ Hà Bắc Ninh nằm cạnh sông Cầu có ngôi đình thờ Lão Tử. Dân làng hàng năm vẫn làm lễ rất to. Các cụ kể rằng Lão Tử là ng làng dạy học và trong đình còn nhiều dấu ấn của ngài. Theo các cụ già kể thì Lão Tử này chính là Lão Tử của TQ nên chị rất lạ tính dành thời gian tìm hiểu. Sau khi ông bạch nhật phi thăng dân làng tôn ông làm thành hoàng. Cách đó cỡ 1km là am của Khổng Tử. Điều đó rất lạ đối với với một làng nhỏ, rất cổ. Em có thể tham khảo về lễ hội làng Thổ Hà trên google.

Theo hiểu biết của chị thì Phật gia có 8 vạn bốn ngàn pháp môn. Phật Adi đà, Thích Ca, Dược sư... mỗi ông có thiên quốc riêng và (có lẽ) quản những pháp môn tu luyện riêng đều thuộc về Phật Gia( ko phải Phật giáo nhé)

Chị còn cho rằng thời cổ đại tôn giáo của Việt Nam chính là Mật Tông vì dấu vết thờ Linga- Jonia rất sâu đậm. Trong sử cũng chép rằng Mật Tông từ Ấn Độ truyền sang Trung Hoa vào đời Đường nên gọi là Đường Mật. Vì nó cổ súy cho nam nữ song tu ko phù hợp với văn hóa Trung Hoa nên bị cấm. Sau đó nó sang Nhật.

Ở Campuchia tiểu thừa vẫn thịnh hành và cũng đầy dấu ấn của mật tông. Còn Phật giáo Đại thừa hiện nay là văn hóa thờ đa Phật. Được đánh giá gốc gác từ Phật Thích Ca truyền ra. Hiện nay ở Việt Nam ng đi chùa vẫn ko phân biệt được: Tịnh Độ Tông, Thiền Tông, Mật Tông, Hoa Nghiêm Tông, Thiên Thai tông...khác nhau thế nào. Cứ đến chùa là Adi đà Phật. Thế nên mới là thời mạt pháp.

Phlanhoa phản hồi:

Chị kính quý.

Em rất vui vì thông tin của chị góp thêm bằng chứng chứng minh trí tuệ VN. Góp với em tiếng nói tố giác dã tâm người Hán. Cướp nước, ăn cắp kinh sách, rồi dã tâm đập phá chùa chiền, hủy diệt dân tộc để ăn quỵt thành quả trí tuệ VN.


- Đất Bắc Ninh là đất Tổ của nhiều cái Tổ ạ:
+ Nơi sinh ra mẹ U Cơ
+ Thủ phủ của Ấn Độ giáo
+ Trung tâm văn hóa Đông phương từ thời Hán đến thời Đường
+ Giờ chị nói về Lão Tử, có lẽ đúng luôn rồi, vì hình tượng Lão Quân cưỡi con trâu thì có vẻ đó là Việt Nam ta. 

Buồn nỗi Ta có "1000 năm nô lệ giặc Tàu", cho nên lịch sử của Lạc Việt bị đánh đồng vào lịch sử Trung Hoa và họ nghiễm nhiên nhận là văn hóa của họ. Ngày nay con cháu các dòng họ có thủy tổ Trung Hoa đang bị dật dây làm trò đồi bại với lịch sử, trong đó có lịch sử Phật giáo.

- Về Phật giáo: có thể hiểu thế này:

+ Bụt già, phiên âm tiếng Hán thành Phật gia. Bụt Đạo phiên âm tiếng Hán là Phật giáo

+ Tất cả các tông phái đều của Việt Nam cả Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Ở thời vua A Dục (A-di-đà), xứ Ấn Độ bao gồm lãnh thổ Giao Chỉ & Việt Thường. Song các nước chư hầu của A Dục Vương thì bao gồm cả Quảng Đông, Quảng Tây Trung Quốc và 9 nước Đông Nam Á. A-di-đà đã rất thông minh, đánh dấu lãnh địa cai quan của mình bằng tám vạn bốn ngàn chum xá lợi. Để làm được điều đó, có 9 phái đoàn Bụt Đạo (Phật giáo) tỏa ra chín phương. Mỗi phái đoàn tùy theo phong tục tập quán của địa phương họ đi đến mà chỉnh sửa giáo lý cho phù hợp, tự nhiên hình thành một tông phái, bao gồm cả Bà-la-môn giáo, Khơ-me-giáo.

Đó là ban đầu. Còn theo Truyền Đăng Lục, đến thời Đường có 52 tổ, tức tương ứng 52 tông phái. Ngoài cái chung, mỗi tông phái có những quy định riêng của họ. Song cơ bản đều là các tổ Thiên Trúc, tức nguồn gốc xuất xứ Việt Nam. Song nhiều tổ chỉ duy trì được một thời gian rồi mất, hoặc để tử tách riêng thành tông phái khác. Ví dụ như Vô Ngôn Thông được 11 đời, thì môn đệ của dòng thiền phái này chính là Trần Nhân Tông đã lập nên tông phái mới là Trúc Lâm; Hay Thiền phái Thảo Đường của Lý Thánh Tông được 25 đời rồi thôi. Những thiền phái có tên bây giờ từ Trung Quốc đều chỉ là các thiền phái sau thế kỷ 11.

 Cho nên "Nam mô A-di-đà Phật" mới là đúng đạo ạ. Vị này là tối cao nhất trong các vị Phật của Tiền kiếp hiện tại. Còn như Thích Ca trong lòng dân VN là phật Phản diện. Ở chùa Kiến Sơ - Bắc Ninh, Phật A-di-đà được thờ phung ở ngôi trên phật Thích Ca 2 bậc, chị có thể ghé thăm ạ.


Để gửi ý kiến nhấp vào đây

Các tin khác:
 PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC VIỆT NAM - Kỳ 5: Phật Thích Ca là ai? Để lại kinh sách gì cho đời? Như Lai Cồ Đàm là vị Phật cuối cùng, vĩnh hằng không còn luân hồi nào khác nữa. (03h: 24-10-2020)
  PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC VIỆT NAM - Kỳ 6: Đạo và Đức, linh hồn và nghiệp chướng (09h: 20-04-2017)
 PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC VIỆT NAM - Kỳ 7: Tâm pháp là gì? (19h: 11-05-2017)
 Lạm bàn về chuyện bức thư của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đề nghị cấm đốt vàng mã tại chùa. (17h: 23-02-2018)