Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC VIỆT NAM - Kỳ 9: Rốt cuộc thì Phật giáo nguyên thủy ở đâu ?
 
(11h: 01-04-2018)
PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC VIỆT NAM  - Kỳ 9: Rốt cuộc thì Phật giáo nguyên thủy ở đâu ?Bài viết của Phan Lan Hoa
***
Các kỳ trước tôi có nói về tục phong hiệu thụy của vua nước ta. Tôi cũng đã chứng minh Phật A-di-đà là một vị vua có thật của nước ta. Chiểu theo một số kinh Nôm mà tôi hiện có, Phật A-di-đà cũng chính là Phật tổ Như Lai. Nay căn cứ vào câu chuyện có địa danh, tên tuổi rõ ràng, thì tôi cũng cho rằng Diệu Thiện là một nhân vật lịch sử có thật. Nàng là một công chúa con vua nước Việt Thường; hoặc công chúa con của một tộc người nào đó quanh vùng núi Hồng Lĩnh. Nếu nàng được Phật tổ cứu vớt, thì đồng nghĩa nàng công chúa Diệu Thiện cùng thời lịch sử với Phật A-di-đà. Và danh hiệu Phật bà trăm tay nghìn mắt là hiệu thụy do nhân dân phong tặng cho người con gái trinh tiết và hiếu nghĩa đức độ !

 

 

PHẬT GIÁO CÓ NGUỒN GỐC VIỆT NAM

Kỳ 9: Rốt cuộc thì Phật giáo nguyên thủy ở đâu ?

Phan Lan Hoa

Truyền thuyết về chùa Hương Tích Hà Tĩnh và một số tình tiết bị các nhà văn hóa thêm thắt dẫn đến sai lệch hiểu biết của nhân dân.

 

Vua Trang Vương không có con trai, chỉ có ba người con gái. Công chúa Diệu Thiện là con gái thứ ba, vì không tuân lệnh vua cha ép gả nàng cho một võ quan trong triều, bởi nàng đã chót thề non hẹn biển cùng với quan ngự y tên là Triệu Chấn. Nàng bị vua cha đuổi ra khỏi cung, bèn tìm đến chùa Phật ở cùng với các ni cô. Vua Trang Vương bèn ra lệnh đốt chùa. Nàng được Phật tổ che chở cứu vớt, cho thần Hổ đưa lên núi Am (núi Hương Tích) ẩn mình trên đó. Triệu Chấn biết tin, bèn từ giã cung thành cưỡi voi lên núi Am, ở trong một hang đá khác trên ngọn núi này, hàng ngày cưỡi voi đi núi hái cây lá về chữa bệnh cho nhân dân trong vùng và kề cận chăm sóc Diệu Thiện.

Rồi một ngày nọ, có người đến báo tin cùng công chúa Diệu Thiện rằng vua Trang Vương bị bệnh hiểm nghèo, phải có tròng mắt và bàn tay của người con gái trinh tiết để làm thuốc mới hòng cứu chữa. Nghe vậy, công chúa Diệu Thiện đã không ngần ngại móc tròng mắt và chặt bàn tay của mình gửi về cho làm thuốc cứu vua cha. Khi vua Trang Vương khỏi bệnh mới hay tin về sự hy sinh mạng sống  của đứa con gái đã bị chính mình ruồng bỏ, vẫn một lòng son sắt hiếu thảo, vua đã rất hối hận. Trang Vương bèn cho xây dựng am và nền Trang Vương để lên đó tu hành, ngày ngày được kề cận con gái. Nền Trang Vương theo truyền thuyết có 99 đỉnh đá được xếp thành hình tròn, nay dấu tích vẫn còn.

Phần quan ngự y Triệu Chấn, ông đã viết ra kinh Dược Sư, ngày ngày ngồi trước am Diệu Thiện để cầu nguyện cho nàng được mau chóng lành lại những vết thương, thoát khỏi sự đau đớn. Rồi một ngày nọ, Phật tổ nghe được lời cầu nguyện của Triệu Chấn đã vì cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của người con gái trinh tiết, mà hóa phép, phong thụy cho nàng thành Phật bà trăm tay nghìn mắt. Theo truyền thuyết, đó là ngày 18 tháng hai. Còn Triệu Chấn sau đó vẫn ở lại trong am Dược Sư của mình, ngày ngày cưỡi voi đi hái thuốc chữa bệnh cho nhân dân trong vùng, sống cho đến hết đời mình trong hang đá. Khi mất, Triệu Chấn cũng được phong thụy là Phật, ông là tác giả của kinh Dược Sư. Chuyện lưu truyền cho đến ngày nay thành một lối đạo thường hằng, nhân dân trong vùng hễ có ốm đau bệnh tật thì đều đến trước cửa am Phật bà tụng kinh Dược Sư cầu xin cứu chữa. Am Dược Sư nay vẫn còn trên núi Hương Tích và rất linh thiêng.

Những sai lệch từ việc phóng bút thái quá của các nhà văn hóa thế kỷ hai mươi !?

Sai lệch thứ nhất: Theo truyền thuyết ở núi Hồng Lĩnh chép rằng công chúa Diệu Thiện là con gái út của vua Trang Vương, chứ không phải Sở Trang Vương, hay Diệu Trang Vương?

Có thể căn cứ vào bản đồ địa lý để làm sáng tỏ vấn đề: Nước Sở ở mạn bắc sông Dương Tử, nằm vào khúc giữa sông Hoài và sông Dương Tử, không thuận để đi đường biển sang nước ta. Cho nên cứ chiểu theo lịch trình Nguyễn Du đi sứ sang Trung Quốc ở thế kỷ 18, mà mất thời gian những ba năm, thì vào thời trước CN, nếu đi được từ nước Sở sang đến nước Việt Thường, chí ít phải mất trên bốn, năm năm đổ lên. Đó là một độ dài thời gian mà người nước Sở không thể sang Việt Thường đem tròng mắt và bàn tay công chúa Diệu Thiện về để kịp làm thuốc cho vua cha đang bệnh nặng cần cấp cứu? Vào cái thời không có tủ lạnh, con người chưa biết sử dụng đá để dự trữ thức ăn, thì tròng mắt và bàn tay đưa xuống núi là đã khó rồi, nói chi đưa về nước Sở? Từ đó mà suy ra, vua Trang Vương là một vị vua tại địa phương Hà Tĩnh, tức tộc Việt, hoặc tộc Chăm, hoặc các bộ tộc lân cận Hà Tĩnh? Cũng có thể một trong những vị vua Hùng có hiệu là Trang Vương?

Sai lệch thứ hai: Tích kể, công chúa Diệu Thiện vì không chịu lấy viên quan võ, nên bị vua cha đuổi khỏi triều, bèn vào chùa đi tu, vua Trang Vương sai  đốt chùa, nhưng được Phật tổ chở che cứu thoát, lại được Hổ thần cõng lên núi Am (núi Hương Tích) và tu hành ở đó.

Như đã phân tích ở kỳ 5, thời kỳ trước CN, Trung Quốc chưa có Phật độ trì. Chiểu theo lịch sử Phật giáo, mãi năm 62 sau CN, khi ở nước ta đã có tới 1.500 năm có Phật độ trì, thì hai Phạm tăng từ nước Thiên Trúc (Việt Nam) lần đầu tiên mới sang truyền đạo, từ đó đổ về sau Trung Quốc mới có Đạo Bụt truyền đến. Cứ lịch sử ấy mà truy ra, nước Sở khi ấy chưa có chùa Phật, nên làm gì có chuyện Phật tổ cứu vớt ở nước Sở? Yếu tố này đồng thời cũng phủ quyết vua Trang Vương là vua nước Sở ?

Sai lệch thứ ba: Sử Trung Quốc chép: “...tháng 7 năm 591 TCN, Sở Trang vương mất. Ông làm vua được 23 năm...”. Như vậy vị vua cùng tên này của nước Sở mất tại nước Sở. Vị vua này trong lịch sử Trung Hoa có con trai nối dõi, chứ không phải chỉ có con gái như trong truyền thuyết Diệu Thiện. Còn trong truyền thuyết Phật bà, thì vua Trang Vương sau đó vì thương nhớ con và ân hận nên đã lên núi lập am tu hành và mất tại núi Am (núi Hương Tích). Dưới đây là chi tiết rất quan trọng của lịch sử Phật giáo cần phải chú ý:

* Một vị vua nước ngoài không thể nhập cư bất hợp pháp vào Việt Thường Thị để lập am tu hành một cách tự do? Cho nên Trang Vương phải là một vị vua trong nước. Nhưng ở kỷ vua Hùng, người ta chưa có họ, Diệu Thiện không phải họ Diệu như trong video của nhà Phật tuyên truyền, cho nên không thể gán ghép họ Diệu cho vua Trang Vương ? Đề nghị hãy cứ gọi là vua Trang Vương đúng như truyền thuyết. Bởi sự phóng bút mập mờ của các nhà văn hóa khiến cho Phật tử lạy tổ tiên nước mình, mà lại nhầm tưởng lạy người nước Sở ?!

* Am là kiểu chùa cổ thường thấy trên đất Việt Thường. Am bắt nguồn từ việc đạo sĩ nước ta từng tìm các hang núi lập am để tu thiền. Am Hương Tích thực chất đã có trên đỉnh Hương Tích từ thời vua Trang Vương, tức vào kỷ các vua Hùng dựng nước, cho nên núi này còn có tên cổ là núi Am. Đời Trần có lẽ là sự tu bổ, hoặc xây mới trên nền tích cũ mà thôi?

* Truyền thuyết chép, Hồng Lĩnh có chín mươi chín đỉnh, chứ không phải chín chín ngọn núi. Ở đây nên hiểu là 99 cái đỉnh bằng đá trên nền Trang Vương, chứ không phải dãy Hồng Lĩnh có 99 ngọn núi ? Dãy núi này nhiều hơn 99 đỉnh. Thiết nghĩ, sự tẩu hỏa trong nghiên cứu, lại thói ưa phóng bút tạc chuyện theo kiểu vô thưởng vô phạt của các nhà văn hóa Việt Nam, khiến cho câu chuyện lịch sử Phật giáo bỗng chốc thành chuyện hoang đường !?

Các kỳ trước tôi có nói về tục phong hiệu thụy của vua nước ta. Tôi cũng đã chứng minh Phật A-di-đà là một vị vua có thật của nước ta. Chiểu theo một số kinh Nôm mà tôi hiện có, Phật A-di-đà cũng chính là Phật tổ Như Lai. Nay căn cứ vào câu chuyện có địa danh, tên tuổi rõ ràng, thì tôi cũng cho rằng Diệu Thiện là một nhân vật lịch sử có thật. Nàng là một công chúa con vua nước Việt Thường; hoặc công chúa con của một tộc người nào đó quanh vùng núi Hồng Lĩnh. Nếu nàng được Phật tổ cứu vớt, thì đồng nghĩa nàng công chúa Diệu Thiện cùng thời lịch sử với Phật A-di-đà. Và danh hiệu Phật bà trăm tay nghìn mắt là hiệu thụy do nhân dân phong tặng cho người con gái trinh tiết và hiếu nghĩa đức độ !

* Còn một yếu tố lịch sử quan trọng nữa của Phật giáo, thuộc về chùa Hương Tích Hà Tĩnh tôi muốn đề cập tới nữa, đó là: Kinh Dược Sư là kinh cổ có nguồn gốc tại đây. Tác giả kinh Dược Sư là quan ngự y Triệu Chấn.

Trong truyền thuyết có đề cập đến hai loại thú rừng là voi và hổ. Mỗi khi nhân vật lịch sử đã là người thật việc thật, thì cũng nên hiểu cho đúng hiện tượng này. Dòn tích vua Hùng thường có nhắc đến thuật giáo của các đạo sĩ. Tôi cho rằng voi và hổ trong truyền thuyết này là những con thú đã được thuần hóa, có thể điều khiển. Phật tổ đã sai khiến con hổ được nuôi thuần hóa của mình để đưa công chúa Diệu Thiện lên núi Am mai danh ẩn tích, tự hồ như rạp xiếc thuần hóa hững con thú đó thôi; trong khi quan ngự y Triệu Chấn lại có con voi cũng đã được thuần hóa, dùng để đi núi, điều này cũng bình thường như người Tây Nguyên vẫn nuôi voi trong nhà thôi mà. Họ Triệu cũng không phải là họ có xuất xứ từ nước Sở, mà xuất xứ từ nước ta từ lâu đời.

Vua Hùng thứ III và câu chuyện Tiên Dung – Chử Đồng Tử tu tiên hóa Phật trên núi Quỳnh Viên ở Thạch Hà, Hà Tĩnh.

Nếu không có sự xuất hiện của vua Hùng Vương thứ III tại núi Thiên Cầm như lịch sử ghi chép, thì tôi đã không có lý do gì để đặt dấu hỏi nghi ngờ hai vị tổ nghề muối và nghề ngư là hai vị vua Hùng. Và với sự xuất hiện của ba vị vua Hùng, lại là ba vị đạo sĩ (Thiền sư Ngưỡng Quang, Dang Hùng, Đông Đạo) trên cùng một địa danh, điều đó có thể đi đến kết luận, Kỳ La – Nhượng Bạn (nay là khu du lịch Thiên Cầm, Hà Tĩnh) chính là quê hương của các vị vua Hùng, đồng thời là nơi xuất xứ của Đạo giáo? Các vị vua Hùng là các tổ sư của Đạo giáo. (Ảnh núi Quỳnh Viên ở cửa Sót, Thạch Hà, Hà Tĩnh)

Chuyện kể rằng: Ngày xưa ở làng Chử Xá. Có cậu bé mồ cô cha mẹ từ nhỏ, không biết tên họ là gì, nên dân làng quen gọi là Chử Đồng Tử (đứa bé mục đồng ở làng Chử). Chử thường làm thuê cho các thuyền buôn ở chợ Hà. Một hôm Chử đi cùng môt thuyền buôn đến cửa biển, rồi bơi sang chơi ở núi Quỳnh Viên, gặp một ông lão râu tóc bạc phơ xưng là Bụt Quang, sống ẩn dật trên núi. Ông lão trao cho Chử một cây gậy và chiếc nón, rồi bảo với Chử đó là chìa khóa vạn năng của mọi phép nhiệm màu. Thế là từ đó Chử ở lại trên núi Quỳnh Viên để tu tiên.

Đời Hùng Vương thứ III, có con gái là Tiên Dung. Vị công chúa này tính tình sôi nổi, thích ngao du sơn hà đó đây hơn là thích lấy chồng. Một hôm, nghe Quỳnh Viên có thắng cảnh thần tiên, bèn dong thuyền ra đó vãn cảnh. Rồi nàng gặp Chử Đồng Tử và đã ở lại cùng Chử Đồng Tử tu tiên từ đó. Vua Hùng hay tin vô cùng giận giữ, liền cấm Tiên Dung không được quay về triều. Chử Đồng Tử và Tiên Dung bèn cắm cây gậy của Bụt Quang trao cho xuống đất, úp cái nón lên và ngồi thiền cùng nhau. Một đêm nọ, đất ở dưới chân hai người sụt xuống thành môt cái đầm sâu, rồi cũng từ đó không ai còn nhìn thấy Chử Đồng Tử và Tiên Dung đâu nữa, nên ai ai cũng cho rằng hai người đã hóa Phật bay về trời.

Tiên Dung – Chử Đồng Tử có nhiều dị bản. Trong đó dị bản phổ biến nhất hiện nay đều coi đầm Dạ Trạch và làng Chử Gia ở Hưng Yên là nơi xuất phát sự tích? Tuy nhiên xét trên thực tế, Hưng Yên là tỉnh lỵ không có biển, không có núi Quỳnh Viên, tên đầm Dạ Trạch xuất hiện ở thời Triệu Quang Phục, còn tên làng cũng không khẳng định được rằng có từ thời Hùng Vương? Trong khi đó ở Hà Tĩnh có đủ tên núi, tên làng, tên chợ. Núi Quỳnh Viên và làng Chử Xá, chợ Hà đều thể hiện là rất cổ xưa và đảm bảo được hầu hết các yếu tố lịch sử.

Sách “Nghệ An chí” của tiến sỹ Bùi Dương Lịch; “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú; “Đại Nam nhất thống chí” của Lê Quý Đôn đều chép như nhau, Nam Giới xưa là núi Quỳnh Viên, ngọn núi có sự tích Chử Đồng Tử tu tiên đắc đạo. Vua Lê Thánh Tông khi tiến quân qua Nam Giới, cũng đã đề như sau: “Danh sơn thuyết cổ tự Quỳnh Viên” (ngọn núi nổi tiếng này xưa còn gọi là núi Quỳnh Viên).

Quỳnh Viên là tên gọi cổ xưa nhất của núi Nam Giới, tên gọi này xuất hiện cùng với tên núi Hồng Lĩnh ở thời sơ sử. Quỳnh Viên nằm bên phải cửa Sót, xưa thuộc đất Hà Hoàng của nước Việt Thường, nay thuộc đất Thạch Hà của tỉnh Hà Tĩnh. Hiện trên núi Quỳnh Viên còn dấu tích của hai cái nền, tương truyền là dấu vết Chử Đồng Tử và Tiên Dung tu tiên để lại. Đỉnh núi cuối cùng của dãy Quỳnh Viên gọi là Long Ngâm. Ở phía dưới chân núi này có một cái đầm, có lẽ là đầm trong sự tích? hiểm trở, kỳ bí chưa ai dám đến. Đáy hồ thông với biển, xung quanh bờ nhiều bùn lầy, hoa cỏ mọc xanh um thành hàng rào bao quanh, lại có hai ngọn núi nhỏ mọc thành vòng cung hai bên tựa hồ như hai cái râu rồng. Ngày thường, mặt đầm trong xanh, cảnh sắc hùng vĩ, nhưng khi thủy triều lên, nhất là ngày biển động, nước sôi lên, lại ngọn núi phía trên trông giống như cái trán rồng, đầm như cái miệng rồng phun nước, nên núi này mới có tên là Long Ngâm. Trên núi có khe Hau Hau, từ xưa đã nổi tiếng là dòng nước mát lành nhất xứ Hoan Châu. Về mùa đại hạn, nhân dân ở vùng cửa Sót thường lên đây lấy nước ngọt về bán cho các vùng lân cận. Người ta thường mua nước của khe Hau Hau với giá cao hơn nước lấy từ các nguồn khác.

Làng Chử Xá (nay là xã Đậu Chử, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh), chợ Hà (nay thuộc xã Kỳ Lợi, Kỳ Anh, Hà Tĩnh). Trong truyền thuyết mô tả, chợ Hà gần  một thương cảng, nơi thương nhân ngoại quốc qua lại buôn bán tấp nập bằng thuyền bè, cũng không phù hợp với địa danh ở Hưng Yên? Ngược lại chợ Hà ở Kỳ Anh vị trí vừa gần cảng biển (nay là Vụng Áng) như trong mô tả. Từ cảng này lại có thể bơi thuyền ra núi Quỳnh Viên rất gần. Nơi đây khi xưa là thương cảng trao đổi giao lưu hàng hóa giữa Việt Thường và Lâm Ấp.

Bàn về Đạo sĩ thiền sư Ngưỡng Quang, hay còn được nhân dân trong vùng gọi là Phật Quang? Sách nhà Phật ở Huế chép rằng: “Phật Quang người Chăm hay người Ấn Độ, đến tu hành ở núi Quỳnh Viên và truyền đạo cho Chử Đồng Tử, sau đó Chử Đồng Tử truyền đạo cho Tiên Dung. Hai vị này trở thành Phật và Quan âm đầu tiên của Việt Nam...”.

Phật Quang người Chăm hay người Ấn Độ thì cũng là người Việt Nam cả, cho nên hai vị Tiên Dung – Chử Đồng Tử không phải là hai vị Phật đầu tiên của nước ta. Chiểu theo “Cao tăng truyện” thì hai vị Phạm Tăng khi truyền đạo sang nước Tề vào năm 62 sau CN, thì khi ấy ở Ấn Độ (Việt Nam) đã có 1.500 năm có Phật phù độ (truyện đã đăng ở kỳ 5). Ghi chép này tương ứng với kỷ nguyên tên gọi Việt Thường Thị, nước của các vua Hùng trên đất Hà Tĩnh. Tiếc thay chùa Phật trên núi Quỳnh Viên đến nay chưa có như sử tích ghi chép!

Có người chất vấn:

- O Hoa viết tới bảy tám kỳ về nguồn gốc Phật giáo rồi thì xác định cụ thể xem gốc gác nhà Phật thực sự ở đâu?

Lại có người bảo họ đang dùng tâm linh để xác định danh tính thân mẫu của Kinh Dương Vương ? Xin thưa:

- Nói cái gì cũng phải có sách, đừng đem tâm linh ra hù dọa bá tính là trái đạo đấy ạ.

Cổ sử Việt Nam và Sử nhà Phật đồng chép:

- Thiền sư Ngưỡng Quang, Tiên Dung và Chử Đồng Tử đều tu tiên và hóa Phật trên núi Quỳnh Viên, sử tích cũng còn nguyên sơ ở đó, núi nay vẫn còn nguyên hình hài;

- Công chúa Diệu Thiện hóa thành Phật bà trăm tay nghìn mắt trên núi Am của dãy Hồng Lĩnh, đời sau gọi là núi Hương Tích, nơi có chùa Hương Tích ở Hà Tĩnh, hang đá cổ vẫn còn nguyên dấu vết;

Sử cũng lại chép:

- Kinh Dương Vương, húy là Lộc Tục, lập quốc năm 2879TCN, lấy tên là Xích Quỷ, đóng đô tại núi Hồng Lĩnh;

- Những lại chép: Vua Hùng thứ ba thường đi dạo cảnh ở Thiên Cầm, vì núi có hang, gió lộng vào nghe như tiếng đàn trời, nên gọi là Thiên Cầm. Tiên Dung là công chúa con vua Hùng thứ ba vậy;

- Câu chuyện sứ giả Việt Thường Thị đi sứ nhà Chu vào năm 2357-2258TCN. Cái tên Việt Thường đã được lưu dấu dưới chân núi Hồng Lĩnh, kéo dài gần 3300 năm, cho đến đời tiền Lê (980-1009) mới đổi là Hoan Châu;

Vậy thì đã nói ra rồi, nên cứ vậy mà suy ra, nơi đó là đất thủy nguyên sinh dòng Bụt Đạo (Phật giáo), cũng là đất Tổ của Việt Tộc vậy !

***

Kỳ 10: Sử dụng năng lượng Bụt Đạo vào điều trị Đông y

 

 


Để gửi ý kiến nhấp vào đây

Các tin khác:
 Lạm bàn về chuyện bức thư của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đề nghị cấm đốt vàng mã tại chùa. (17h: 23-02-2018)