Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
Giặc bên ngô...
 
(11h: 03-07-2010)
Giặc bên ngô...Anh tôi, bảnh bao như Tây, có khi cũng đã từng có khối cô mê tít chứ chả chơi. Ấy là nói khi chỉnh tề áo mũ ra đường cơ, còn như khi bước qua bậc cửa nhà tôi thì lộ mánh là dân Nghệ liền à.
Nhiều chuyện vui lắm, quần thì tinh chọn loại có tác dụng hai trong một, có vòng khóa kéo quanh đầu gối, mới có một chân thò vô cửa thôi là tay đã sờ đầu gối kéo khóa rồn rột, hai nửa cái ống quần rời ra vị chi là thành quần soọc.
 
Thứ anh tôi trờ tới sau hành động tháo hai nửa ống quần tất nhiên phải là nác chát, trai Xứ Nghệ mà, nói chung là cay, nồng, mặn, chát …mần răng mà thiếu được. Có chăng, khác chút đỉnh là đàn ông gì mà ăn chua thôi rồi, dưa mùng tôi muối đã chua lắm rồi mà còn cãi là chưa chua. Cá kho thì bỏ tới hai lần khế mà khế hết chứ cá chửa hết.
 
Đặc biệt là anh tôi mê ăn cơm cháy phải biết. Hí hí, tôi mà lộ chuyện ra đây thì bà con sẽ ôm bụng mà cười, chớ ai đời có một bận đi thăm nhà người yêu, mà đến chừng bữa cơm, anh tôi bắt người ta dỡ hết cơm ra khỏi niêu, rồi ngồi ôm cái niêu tréch nhà người ta mà cảo cháy, chấm nước kho cá ăn tỉnh bơ như ở nhà mình, chẳng sợ xấu hổ chi hết cả. Chị người yêu của anh tôi bảo với  tôi: “anh cô đúng là phong cách dân Nghệ không sai một ly”. Ờ thì trúng rứa mà, dân Nghệ chính hiệu mà, có phải hàng giả, hàng nhái chi mô!
 
Cũng như bao anh chàng xứ Nghệ khác, khi chưa qua khỏi lũy tre làng, anh tôi dõng dạc tuyên bố nào là tiêu chuẩn lấy vợ thì phải xinh đẹp này, phải thùy mị nết na này, phải giỏi tề gia nội trợ này, hiếu thảo thủy chung này …Mẹ thì động viên : “- Muốn được rứa thì phải học cho giỏi mà làm thầy thiên hạ thì người ta mới theo…”. Còn tôi thì bĩu môi : “- Xí, ghét của nào trời trao của ấy”.
 
Cuộc sống cứ trôi đi từng ngày, lời của mẹ và lời của tôi vận vào anh tôi hết cả. Nghe theo lời mẹ động viên, anh tôi học hành càng ngày càng giỏi giang, rồi từ giã quê hương lên thành phố, khoa trường bảnh bao, rồi nghề nghiệp vững chãi như mẹ mong ước. Dần dà theo năm tháng rồi anh tôi cũng ra dáng “thầy thiên hạ” ra phết, nói tiếng Tây, tiếng Tàu như gió, bạn bè thì ngoại quốc nhiều như Việt Nam, nói chung là bọn Tây tàu nó muốn chê ai thì chê, nhưng dứt khoát Việt Nam mà cỡ anh tôi thì bọn nó chẳng giám chê đâu…
 
Rồi anh tôi cũng lấy vợ. Nhưng chị dâu không phải là nơi anh cảo cháy ở “chốn cũ quê xưa”. Chị là người xứ khác, không biết om nác chát, muối cà trường, nên anh tôi đành nhịn thèm từ khi có vợ. Chị không nghe được mô tê răng rứa nên anh tôi cũng nhịn giọng, uốn lưỡi mà nói tiếng phổ thông cho chị nghe. Gay go hơn nữa là biết anh thèm, nhút cà mẹ gửi ra, chị tỏ ý ghê sợ kinh tởm món ăn đó, nên anh cũng không dám đem về nhà mình, đành gửi nhờ nhà bạn rồi ăn ké cơm nhà bên đó, ăn rồi còn mượn bạn bàn chải đánh răng cho thơm tho mới dám về nhà.
 
Con trai Xứ Nghệ thường rất hay cãi nhau với bạn bè, hùng hổ nơi đông người, nhưng không hiểu sao rất mềm lòng khi “Nghe em giọng Bắc ngọt ngào”. Biết điểm yếu đó nên chị dâu lấn lướt, lấy cớ không ăn được nhút, không nghe được mô tê răng rứa, nên không chịu về quê thăm mẹ. Mẹ tôi thì hiền lành nên dù buồn cũng tự động viên: “- Ừ thì mình quê mùa, dâu nó không ở được thì thôi, miễn sao con cháu mình được êm thấm cửa nhà cũng vui rồi!”. nói vậy nhưng rồi mẹ cứ tần ngần, có con gà đẻ chục trứng không dám ăn, có mấy hạt đỗ, hạt nếp cũng cất dành cho đến mốc meo hết cả. Bao mùa như vậy, mẹ chồng vẫn chưa gặp con dâu. Em trai tôi thấy mẹ buồn, quyết tâm dành dụm tiền đưa mẹ ra thành phố thăm anh, nhân thể nhìn mặt con dâu luôn. Nhưng đi rồi khi về, mẹ trở nên trầm lặng xa vắng hơn, không nói năng chi, thỉnh thoảng tôi lại thấy mẹ dấu đi cơn thở dài. Đứa em trai cũng vậy, tôi gặng hỏi mãi thì nó nói: “- Sẽ không bao giờ đến đó lần thứ hai”.
 
Thế là tôi giận anh tôi! Giận anh, nên mỗi lần mẹ gói nhút, gói dưa để đưa tôi đi gửi cho anh là tôi ỉm luôn không gửi. Đáng đời anh lắm, không đáng được ăn nhút quê đâu, đúng là “ghét của nào trời trao của đó” mà. Anh lấy vợ kiểu chi mà để người ta khinh khi cha mẹ, quê hương như rứa. Còn chị dâu, sao khi yêu chị nói trơn tru “Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo…” mà bây giờ có mấy trăm cây số đường nhựa chị lại chẳng muốn qua lấy một lần?
 
Tôi cong cớn gọi điện ra thành phố cho anh mà rằng:
Xét cho cùng thì bây giờ chị sống sung sướng ở thành phố, nhưng chị sinh ra và lớn lên cũng gốc gác quê mùa cày ruộng, cấy nương mà chị. Bởi gốc gác chân quê nên chị chỉ kiêu hãnh được khi mang giày cao gót bịt bùng mà thôi; Còn em đây, bây giờ ở quê, nhưng gốc gác sinh ra con nhà nho giáo tiểu thư, sinh ra nơi thị thành từ nhỏ, nên dù chân trần lội bùn vẫn chưa đến nỗi nhòa gót son đâu. Nếu chị sợ quê mùa thì chị xoàng quá, bởi vì:
 
-        Quê em tuy có chút gió lào rát mặt, nhưng quê chị lại có hanh khô nứt nẻ bàn chân?!
-        Quê em dù nhút mặn cà chua, thì quê chị rau rửa mỗi một nước thì cũng đâu có văn minh chi?!
-        Quê em có mô tê răng rứa, thì quê chị cũng “đi Hà Lội mua cái lồi về lấu cơm lếp” mà thôi ?!
 
Không hơn chi nhau phải không chị ?
 
Anh tôi biết tôi giận, nên năm lần bảy lượt xin tôi: - Em ơi “Thương nhau cau sáu bổ ba” cho anh nhờ. Mần chi mà được rứa, anh mà về đây thì “cau sáu bổ mười hai” là chắc chứ mần chi có chuyện bổ ba. Em sẽ làm “giặc bên ngô” cho anh coi, chớ ai đời anh sống như thế mà cũng coi là hạnh phúc được ư. Anh biết không, khi em về quê chồng, ở đó từ rau, bát đũa … người ta đều rửa một nước (khác với quê mình rửa ba nước), em cũng đã từng phải nhắm mắt để nuốt, nhưng em khác chị dâu ở chỗ là em vẫn về, dù ở đó ăn không ngon, dù ở đó em mới lần đầu tiên phải đi gặt lúa. Vì chị dâu, anh phụ tình cả “người cũ quê xưa”, xếp vào dĩ vãng những đêm trăng hẹn hò phường vải; vì chị dâu mà anh chăm sóc mẹ già chỉ bằng cách gửi tiền mà thôi, như vậy mà anh còn dám đòi “cau sáu bổ ba” cho anh được ư? Anh mà về đây em sẽ cho thấm thía nỗi chua cay cả nghĩa đen và nghĩa bóng đủ đầy cho biết đời anh luôn chứ lị…
 
Ghi chú: Viết theo chuyện kể của một chị người Nghệ. Chuyện chưa có đoạn kết trong đời, nên Phlanhoa cũng chưa có đoạn kết cho bài viết, đành phải hy vọng vào một ngày, anh trai Xứ Nghệ đủ mạnh dạn khoe với xứ người nhút cà quê cục, hãnh diện với răng rứa mô tê, chị dâu Xứ Nghệ không còn sợ  nhọc nhằn giọng nói gió lào, Phlanhoa sẽ viết một đoạn kết thật hay, thật có hậu cho đời…
 
 

Để gửi ý kiến nhấp vào đây