Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Ngô Khoai học chuyện
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
An Tĩnh cổ lục - Thiên II - Chương 2 : Xứ Vinh (từ trang 89 - 97)
 
(00h: 15-01-2011)
An Tĩnh cổ lục - Thiên II - Chương 2 : Xứ Vinh (từ trang 89 - 97)Sông Lam không phải là địa giới thiên nhiên của hai tỉnh mang tính hành chính giữa Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay, mà chính là núi Hồng Lĩnh, "Dãy núi Bến Thủy" của các nhà địa chất học...

 

AN-TĨNH CỔ LỤC

(LE VIEUX AN-TĨNH)

Tập san Đô thành hiếu cổ xuất bản năm 1936

(Bulletin des Amis du Vieux Huế, 1936)

 

Tác giả: HIPPOLYTE BRETON

Người dịch: NGUYỄN ĐÌNH KHANG và NGUYỄN VĂN PHÚ

Người hiệu đính: CHƯƠNG THÂU và PHAN TRỌNG BÁU

 

*Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây

Giữ bản quyền tổ chức và bố cục bộ sách

 

***

Thiên II - Chương 2 : Xứ Vinh

(Từ trang 89 - 97)

 

Sông Lam không phải là địa giới thiên nhiên của hai tỉnh mang tính hành chính giữa Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay, mà chính là núi Hồng Lĩnh, "Dãy núi Bến Thủy" của các nhà địa chất học. Vả lại, cần chú ý rằng cửa sông Lam (sông Cả) chảy theo chân dãy núi ấy về phía Đông Bắc trước thời kỳ khởi chuyển của lục địa vào cuối đệ tứ kỷ, lúc này là thời kỳ hình thành các đồng bằng duyên hải của Đại Việt. Cần nói rõ là trước thời kỳ có sự khởi chuyển ấy, ở miền hạ lưu, sông Lam chảy qua Nam Đàn rồi trườn theo chân núi phía Tây - rặng núi ngăn cách Nam Đàn với Nghi Lộc, để chảy đến địa phận ngày nay của trung tâm thị xã bao gồm Vinh, Trường Thi và Bến Thủy [17, 18, 19]. Giới hạn phía Tây của xứ Vinh được quy định bởi "núi Đồng Trụ" và rặng núi Hữu Biệt là địa giới tự nhiên giữa Nam Đàn và Nghi Lộc.

Phân giới như vậy thì xứ Vinh gồm có toàn huyện Nghi Lộc, phần đất phía Đông của phủ Hưng Nguyên, và sau cùng là huyện Nghi Xuân, thuộc tỉnh Hà Tĩnh về mặt hành chính. Nghi Lộc và Nghi Xuân xưa kia hợp thành huyện Chân Phúc, sau đổi là Nghị Chân cho đến triều Tự Đức, năm thứ 28 (1874). Thời kỳ này, Hà Tĩnh được liệt vào tỉnh loại hai thuộc quyền cai trị của Tổng đốc Vinh, chức "Tổng đốc An-Tĩnh" vẫn còn. Như thế là trong cách gọi "xứ Vinh" có sự thỏa mãn cho cả nhà địa chất, nhà địa lý và nhà sử học.

 

Con đường cái quan là đường phân giới rõ nhất giữa hai vùng khác nhau hợp thành xứ Vinh. Miền Đông là vùng cát bao la. Miền Tây, toàn bộ nằm trong huyện Nghi Lộc, là một vùng đất sét, xưa kia là vùng do đất phù sa bồi đắp, điều này đã được xác minh qua bốn cuộc dò tìm đã tiến hành ở Vinh và Trường Thi, việc phát hiện của tôi về một lớp than bùn tại làng Cẩm Trường, và một cứ liệu rõ rệt hơn nữa là nhân lúc đào một cái giếng trong vườn xứ Xã Đoài [17, 18, 19], người ta đã phát hiện được một cái neo biển thuộc thời thượng cổ.

 

Chỉ cần nhìn nhanh trên bản đồ tỷ lệ xích 1/100.000 của Nghi Lộc là người ta có thể biết ngay rằng các làng mạc của vùng đất cát đã được hình thành trên những bãi cát song song với đường bờ biển ngày nay. Những dải đất cát này bị ngăn cách bởi những vụng lòng chảo dài, có dòng nước rất trong luôn luôn chảy vào. Chỉ nơi đây mới có các ruộng lúa. Trên các dải đất, người ta chỉ thấy những loại cây trồng ưa đất khô. Mỗi một dải đất đều có một con đường nhỏ chạy suốt từ đầu đến cuối. Đây là khu của các ngôi mộ. Các cồn cát này là những đụn cát hóa thạch và mỗi giải cát đánh dấu một đợt biển tiến, biển lùi ra bắt đầu vào cuối đệ tứ kỷ. Như vậy là từ con đường cái quan cho đến miền duyên hải ngày nay, các làng xã lần lượt được thiết lập. Đi từ Tây sang Đông, người ta nhận thấy độ cao của các giải cát hạ thấp đều khoảng từ mực 6 đến mực 2. Như vậy là về mặt địa hình, xứ Vinh thuộc phía Đông đường cái quan có thể được biểu hiện theo đồ hình bởi hình cắt giống như hình một tấm tôn uốn cong.

 

Còn đối với những bãi đất bồi của biển trong thời cận đại, thì nhờ bản dịch các Gia phổ của họ Nguyễn Thượng Xá (Cửa Lò) và họ Nguyễn Tiên Điền (Cửa Hội), tôi biết được bờ biển ở thế kỷ XIV cách bờ biển ngày nay 2 km về phía Tây [Hình LXXI].

 

Miền Tây của xứ Vinh là một vụng lòng chảo dài song song với bờ biển. Các độ cao không quá 2 m, ở phía Vinh để rồi hạ xuống dưới mực 0 trên các bản đồ cho đến eo Đò Cấm, xưa kia vùng này còn ở trong trạng thái nửa đầm. Một con "sông đào" chạy suốt theo chiều dài của vụng lòng chảo này. Bởi tất cả những điều nhận biết đó, người ta hình dung được vụng lòng chảo nằm giữa Vinh và Đò Cấm là di tích của một cái vụng xưa, nay đã được bồi đắp. Các nhận biết này hỗ trợ thêm cho những điều đã nói ở trên [Hình LXXII và LXIII ở dưới].

 

Tất cả những nhận xét ấy giúp cho chúng ta tìm được những địa điểm và các công trình cổ xưa trên đỉnh các đồi núi. Những đồi núi này có thể nổi lên vào thời kỳ mà xứ Vinh còn là một vũng. Miền duyên hải phía Đông có ít nhiều giá trị lịch sử từ thế kỷ XIV, thời kỳ của các họ Nguyễn Thượng Xá và họ Nguyễn Tiên Điền...

 

Tôi có thể đặt vào trong khung cảnh của xứ Vinh "núi Đồng Trụ". Nhưng thung lũng sông Lam là một thực thể vừa mang tính chất địa chất, vừa mang tính chất địa lý và lịch sử, bao gồm các xứ Nam Đàn, Võ Liệt, Anh Sơn và Tương Dương (Cửa Rào) mang tên gọi của các khu vực hành chính. Hiểu như vậy, thì "Thung lũng sông Lam" từ thượng lưu đến hạ lưu, kéo dài từ Cửa Rào cho đến núi Đồng Trụ.

 

Tôi cũng có thể đưa vào trong khung cảnh của Vinh "đền Độc Lôi", đền này ở mút phía Nam rặng núi ngăn cách Nghi Lộc với Nam Đàn, nhưng nên để đền này vào "xứ Nam Đàn", vì một lẽ là nó đánh dấu mút Đông Nam của thung lũng chết của sông Lam, sau khởi chuyển của lục địa đã biến thành Hồ của mùa Xuân (Xuân Hồ). Hồ này từ chân phía Tây núi ấy, từ huyện lị huyện Nam Đàn cho đến làng Hữu Biệt. Đền Độc Lôi nằm trên địa phận làng này.

 

Như vậy là "Núi Đồng Trụ" và "Đền Độc Lôi" sẽ là giới hạn cuối cùng của địa giới phía Tây xứ Vinh.

 

NHỮNG DANH LAM VÀ THẮNG TÍCH CỦA XỨ VINH

 

Núi Hồng Lĩnh. - Rặng núi kỳ thú này nằm ở hữu ngạn sông Lam, sườn Bắc thuộc địa phận huyện Nghi Xuân, sườn Nam thuộc huyện Can Lộc.

 

Theo truyền thuyết dân gian, thì lai lịch của tên rặng núi như sau:

 

Đứng ở phía Bắc đồng bằng ven biển, người quan sát nhận rõ được ba dãy núi hợp lại giống như chim "hồng" giương hai cánh để lấy đà "lĩnh". Từ đó người ta mới đặt tên là "Hồng Lĩnh".

 

Các thi nhân muốn xem nét đặc sắc của cả chín mươi chín đỉnh, nhưng chỉ có mấy đỉnh là đáng chú ý. 1. Đỉnh Đôn Lân, các nhà thơ nói nó "biến mất trong mây". Trên đỉnh Đôn Lân, thời nhà Lê có một "bảng nhãn" tên là Trần Bảo Tín ở đó. Do đó ngọn núi mang tên là Cù Sơn, lấy tên "Trần Sơn" để nhắc lại vị quan ấy là một nhà thơ nổi tiếng. 2. Ngọn Sư Tử là một ngọn núi có hình dáng con sư tử trong thần thoại Hán Việt (?). Đặc biệt ai cũng biết đến ngọn núi này vì đó là một công trình của thiên nhiên, là "Chiếc cầu mà các nàng tiên tắm ở đó". 3. Đỉnh Hương Tích quả thực là đỉnh đẹp nhất. Đây là một địa điểm du lịch thu hút người An Nam từ những nơi xa đến. Họ đến đây để thăm "đền hay đài Trang Vương", lầu của vua Trang, "Am Thánh mẫu", nơi Thánh mẫu, một nữ thần của nhà Phật, đã ở ẩn, và nhất là chùa Hương Tích mà năm thứ 17 đời Minh Mạng (1857) đã được khắc tên vào một cái đỉnh của cung điện nhà vua ở Huế, thắng tích này được liệt vào những nơi đẹp nhất của Đại Việt.

 

Vả lại, cần phải chú ý rằng "núi Hồng Lĩnh" được người Tàu cho là đẹp, họ đã xếp danh lam này vào số "Hai Mươi Mốt Ngọn Núi" đẹp nhất của nước An Nam. Trong các văn bản Tàu, người ta gọi ngọn núi này là Thiên Tượng và đỉnh Hương Tích là Hương Tượng. Các họa sĩ Tàu vẽ những đỉnh núi đẹp nhất và dâng tác phẩm của mình lên Hoàng đế Hồng Võ, người khai sáng ra triều đại nhà Minh (cuối thế kỷ XIV).

 

Hàng năm, cứ đến ngày 18 tháng 2 âm lịch thì chùa Hương Tích là nơi trẩy hội rất nhộn nhịp (xem các Hình LXXVI và LXXVII). Theo truyền khẩu thì một người con gái của vua Trang Vương, một tín đồ Phật giáo rất mộ đạo, đến tu ở đây. Vua cha bèn dựng cho nàng một cái lầu ở phía Bắc của chùa - ngôi chùa con gần đấy chính là nơi mà nàng công chúa tự thiêu (Hình LXXIV ở trên).

 

Cái mô típ ở dưới Hình số LXXVII gọi là Bát quái. Để tránh được nhiều đoạn trùng lặp trong nhiều chương, tôi đã tập trung vào "đền Vua Bà". Việc miêu tả và bình luận các mô típ về điêu khắc thường hay tìm thấy ở đền đài, miếu mạo. Chính ở chương này, người đọc sẽ thấy được ý nghĩa của Bát quái.

 

Đền thờ Thánh Mẫu được xây dựng dưới thời nhà Trần (Hình LXXIV).

 

Đền Thiên Vương dựng từ thời nhà Minh. Do một trận cháy năm ất Dậu (1885), nên đại bộ phận đền đã bị tàn phá, và được Tổng đốc An-Tĩnh là Đào Tấn tu sửa lại vào năm Thành Thái thứ 13 (1901).

 

Núi Đại Hải. - Ngọn núi này là bộ phận của dãy núi ngăn cách hai xứ Vinh và Nam Đàn. Nó nằm ở địa phận làng Hương Cái phủ Hưng Nguyên.

 

Theo các truyền khẩu của địa phương, thì tên ngọn núi nhắc lại rằng vào thời xa xưa, nước biển đã lấn tới tận chân núi này (Đại Hải = biển lớn).

 

Về phương diện lịch sử, điều cần phải nhớ là làng Đông Thái nằm ở phía Nam của núi Đại Hải. Đó là cái nôi của dòng họ Tây Sơn và dòng họ Ngô. Vị tổ đầu tiên của nhà Ngô là Ngô Quyền, người đã khai sáng ra một trong những triều đại quốc gia đầu tiên của nước An Nam (939-963). Các sử biên niên nói là "Triều đại quốc gia", nên đổi là "Triều đại độc lập", hay nói đúng hơn là "Triều đại thần thuộc Thiên triều", so với các thời kỳ đô hộ của Tàu trước đó. Bởi vì tổ tiên của họ Ngô và của những người sáng lập ra các triều đại An Nam, cho đến cả triều nhà Lý (thế kỷ thứ XI), là dòng dõi của "Mười hai sứ quân" nhân lúc bên Tàu gặp thời kỳ loạn lạc, thời "Ngũ đại" (907-960), các Thái thú tự xưng độc lập. Tây Sơn (núi ở phía Tây) là biệt danh để đặt cho họ Nguyễn đã thành công trong việc thiết lập ra một triều đại. Họ Nguyễn này trị vì khắp tất cả các xứ nói tiếng An Nam (Đàng Trong, Trung Kỳ, Đàng Ngoài) từ năm 1778 đến 1802. Lịch sử của họ này sẽ được nói lại ở mục III. "Các vọng tộc quê ở Hà Tĩnh". Tháp Cao Biền (Hình LXXII và Hình ở dưới). - ở địa phận làng Phương Tích và làng Yên Trường có một hòn núi khiến con sông đào từ Vinh đến Đò Cấm phải uốn dòng về phía Đông.

Trên đỉnh núi ấy, Cao Biền, tên tuổi đã được nhắc đến nhiều lần và chúng tôi sẽ còn nói đến trong nhiều chương khác, đã dựng lên một cái tháp, người thì nói đó là một cái tháp để xá lị của nhà Phật, người thì nói đó là một cái đèn để ban đêm chiếu sáng cho thuyền bè qua lại trên sông đào, hoặc đó là đồn binh để báo hiệu. Đây là một điều bí ẩn còn cần phải nghiên cứu. Dù sao chăng nữa, về cái tháp này nay chẳng còn dấu tích gì nữa. Chỉ biết rằng ngày nay nhìn thấy đỉnh núi san bằng là người ta biết được vị trí của tháp xưa kia nằm ở đấy, nhưng người ta còn tìm thấy ở đó những mảnh gạch vỡ không còn giá trị gì về mặt trang trí.

Tại làng Yên Trường, giữa chân núi và con sông đào là đền Lĩnh Vạn. Đền này do Cao Biền dựng, nhưng ngày nay về phương diện khảo cổ học nó cũng chẳng có giá trị gì.

Các lãnh địa cũ của họ Nguyễn Thượng Xá. - (Từ Hình LXXVIII đến Hình LXXXIII), - Lịch sử của họ Nguyễn Thượng Xá sẽ được nói lại ở mục III - "Các vọng tộc". Điều đáng làm cho chúng ta chú ý ở đây là các đền đài miếu mạo đều dành để thờ những tổ tiên danh tiếng và miêu tả những danh lam trong lãnh địa của họ.

 

Những người khai sáng nên thanh thế của dòng họ này là Nguyễn Hội, cùng với Nguyễn Biên, con trưởng và con thứ là Nguyễn Xí, người nổi danh nhất của dòng họ. Cả ba đều nằm trong danh sách những võ tướng chủ chốt của Lê Lợi. Nguyễn Xí là một trong những anh hùng xuất sắc nhất của cuộc chiến tranh giành độc lập (1418-1428) do Lê Lợi chỉ huy chống quân Minh. Ngài phụng sự rất tận lực bốn vị vua đầu tiên của nhà Hậu Lê: Lê Lợi (1418-1433), Thái Tông (1433-1442), Nhân Tông (1442-1459) và Thánh Tông (1459-1497).

 

Năm ất Dậu (1465), Nguyễn Xí mất. Đến năm Đinh Hợi (1467) thì việc xây dựng đền thờ Ngài hoàn thành. Vua Thánh Tông đã trích quỹ riêng để chi vào việc xây đền.

 

Đền gồm có năm nhà. Nhà giữa chia làm ba gian: gian trong và gian giữa là nơi thờ Nguyễn Hội, gian phía trước và ở hai bên: bên trái là bàn thờ Nguyễn Biên, chết không thừa tự và bên phải là bàn thờ Nguyễn Xí. Gian giữa nằm ở phía trên để một cái tháp chuông nhỏ, xung quanh mép ngoài có khắc dòng chữ: "Cương Quốc Công từ" - ghi lại tước vị cao quý của Nguyễn Xí. Trước mặt gian chính giữa của ngôi đền dành để thờ Nguyễn Xí, có một bức hoành phi khắc mấy chữ: Nhạc giáng thần (không khí trong lành của núi rừng đã làm nên tài ba cho con người). Đó là một câu trích từ Kinh Thi.

 

Bên phải và bên trái của gian ấy là hai câu đối, do vua Lê Thánh Tông cho:

 

1. Hà nhạc nhật tinh, thiên thu hạc khí (núi, sông và tinh tú có cái oai nghiêm muôn đời, ý muốn nói: con người trung thành và ngay thẳng sinh ra từ một không khí trong sạch, nghĩa là những đức hạnh của tổ tiên họ đã hun đúc nên một con người kiệt xuất).

2. Phụ tử huynh đệ, vạn cổ anh phong (cha, con và anh em có tiếng tăm lừng lẫy, ám chỉ những công trạng hiển hách do Nguyễn Hội, cùng con trai cả là Nguyễn Biên và con thứ là Nguyễn Xí và mười lăm người con trai của Nguyễn Xí đã đóng góp cho bốn vị vua đầu tiên của Triều Lê).

 

 


Để gửi ý kiến nhấp vào đây

Các tin khác:
 An Tĩnh cổ lục - Thiên II - Chương 2 : Xứ Vinh (tiếp theo từ trang 98 - 104) (22h: 17-01-2011)
 An Tĩnh cổ lục - Thiên II - Chương 2 : Xứ Vinh (tiếp theo từ trang 105-109) (22h: 19-01-2011)
 An Tĩnh cổ lục - Thiên II - Chương 2 : Xứ Vinh (Từ trang 109 - 117) (22h: 19-01-2011)
 An Tĩnh cổ lục - Thiên II - Chương II : Xứ Vinh (Tiếp theo từ trang 118 - 123) (21h: 21-01-2011)
 An Tĩnh cổ lục - Thiên II - Chương 2 : Xứ Vinh (Tiếp theo từ trang 123 - 135) (21h: 21-01-2011)
 An Tĩnh cổ lục - Thiên II - Chương 3 : Xứ Hà Tĩnh (Tr. 136 - 142) (23h: 22-01-2011)
 An Tĩnh cổ lục - Thiên II - Chương 4 : Xứ Kỳ Anh (tr. 143 - 151) (11h: 11-04-2011)
 An Tĩnh cổ lục - Thiên II - Chương 5 : Lưu vực sông Lam (từ trang 152 - 157) (11h: 26-01-2011)
 An Tĩnh cổ lục - Thiên II - Chuong 5 : Lưu vực sông Lam (tiếp theo từ trang 158 - 164) (11h: 26-01-2011)
 An Tĩnh cổ lục - Thiên II - Chương V : Lưu vực sông Lam - Vùng Tràng Đen (tr. 164 - 174) (12h: 28-01-2011)