Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phản biện các nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
Dấu tích nhà nước Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
 
(08h: 24-12-2014)
Dấu tích nhà nước Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
Các giả thiết khảo luận của Phan Lan Hoa về vùng đất Việt Thường Thị trong thời kỳ Sơ sử
***
Chương I: Đi tìm dấu tích xưa - một nhà nước sơ khai Việt Thường Thị
***

Ghi chú: 

- Nội dung này chỉ mang tính khảo luận cá nhân, nhằm mục đích nêu ra những vấn đề mâu thuẫn trong lịch sử Việt Nam ở thời kỳ Sơ sử, với hy vọng các nhà nghiên cứu để tâm và có sự xem xét lại... 

 - Một phần nội dung đã được đăng tải trên Tạp chí văn hóa Nghệ An số ra tháng 11.2014  

 

DẤU TÍCH NHÀ NƯỚC VIỆT THƯỜNG THỊ

VÀ VAI TRÒ NGHỆ AN TRONG DÒNG LỊCH SỬ VIỆT NAM

Chương I

Đi tìm dấu tích xưa – Một nhà nước sơ khai Việt Thường Thị

Để làm nổi bật ý nghĩa cái tên Việt Thường mà tôi cho là quan trọng bậc nhất trong lịch sử hình thành dân tộc Việt, tôi sẽ phải liên kết các mối thông tin tư liệu hiện có ở Việt Nam, từ cũ nhất đến mới nhất, bao gồm cả Truyền thuyết -  Lịch sử - Khảo cổ - Nhân chủng học để làm rõ vấn đề. Đồng thời qua đây tôi cũng mạnh dạn đưa ra những điểm mà tôi cho là người biên sử nước ta, từ chỗ nhầm lẫn địa danh, dẫn đến nhầm lẫn các tình tiết lịch sử giữa nước Việt Thường và các nước lân bang, khiến cho diễn biến lịch sử bị mâu thuẫn, thiếu mạch lạc. Thậm chí tai hại hơn, cái tên Việt Thường gần như đã bị đánh mất hoàn toàn vai vế trong dòng lịch sử chính thống của Việt Nam?

Tôi sẽ đi vào thảo luận vấn đề bắt đầu từ  khái niệm “Người Việt”

Vì sao cuộc tranh luận về nguồn gốc người Việt trên diễn đàn vanhoanghean.com.vn lại không thể tìm tới hồi kết?

Bởi vì các nhà tranh luận bị nhầm lẫn khái niệm Người tiền sử với Người Việt, nên từ cái sai ban đầu ấy, khiến cho hướng đi của các bài viết trở lên lan man. Nội dung xem qua thì  có vẻ toàn điều lớn lao, vĩ đại, nhưng đọc tới hồi kết thì có cảm giác tựa hồ như người đi rừng lại quên mang theo la bàn nên cứ loanh quanh trong rừng rậm không tìm được  lối ra, dù đã đẫy tay nải trầm hương tìm được.

Tôi đã từng đọc các bài viết mà ông Hà Văn Thùy đem ra làm dẫn chứng trên các diễn đàn khoa học khác. Nhưng xin thưa, đó là những công trình nghiên cứu về nguồn gốc loài người, chứ không phải nghiên cứu về nguồn gốc người Việt. Cần phải xác định rằng sự kiện tổ tiên loài người xuất hiện đầu tiên ở Đông Phi rồi di cư vào Việt Nam, hay sự xuất hiện chủng người AustraloidMongoloid trên đất Việt Nam là một khái niệm hoàn toàn khác với khái niệm hình thành dân tộc Việt? Lớp Người tiền sử thuộc nền văn hóa Hòa Bình không chỉ là tổ tiên của riêng người Việt, mà là tổ tiên chung của người châu Á. Và chỉ có một vị trong lớp Người tiền sử ấy là tổ tiên thực sự của Người Việt mà thôi. Do nhận thức sai lầm ngay từ khái niệm tên gọi Người Việt với Người tiền sử, nên ông Hà Văn Thùy đã nhận vơ già nửa thế giới là người Việt?

Vậy nên xác định khái niệm người Việt như thế nào?

Theo lẽ thường, khi một người đến một vùng đất mới, khai cơ nên một dòng họ, một dân tộc, thì người đó được tôn vinh là thủy tổ của dòng họ, của dân tộc đó. Đồng thời vùng đất khai cơ ấy được coi là đất tổ của dòng họ, dân tộc ấy.

Vậy ai là người khai cơ nên tộc người Việt? Và vùng đất khai cơ ấy ở đâu?

Cương mục tiền biên chép rằng:  Sử cũ phần Ngoại kỷ chép Hồng Bàng Thị bắt đầu từ Kinh Dương Vương thụ phong năm Nhâm Tuất (2879 TCN) cùng thời với Đế Nghi, truyền đến Hùng Vương đời cuối cùng là năm Quý Mão (258 TCN) tức năm thứ năm mươi bảy đời Noãn Vương nhà Chu thì mất nước, tất cả là hai nghìn sáu trăm hai mươi hai năm.”…

Sử cũ đồng thời cũng chép: Kinh Dương Vương, tên húy là Lộc Tục, khi lập quốc lấy tên nước là Xích Quỷ, đóng đô tại núi Hồng Lĩnh. Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động Đình, phía nam giáp nước Hồ Tôn, phía tây giáp nước Thục, phía đông giáp bể Nam Hải.

Xét về độ tin cậy của tài liệu, cho đến nay chỉ duy nhất cổ sử Việt Nam đề cập đến Kinh Dương Vương, và không có bất cứ tài liệu nào khác của Trung Hoa nói rằng Kinh Dương Vương lập quốc ở bờ nam sông Dương Tử. Do đó, kết luận của ông Hà Văn Thùy và ông Tạ Đức là sự bịa đặt lịch sử thiếu căn cứ ?!

Bấy lâu nay, các nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam cứ đổ vấy cho rằng cổ sử ghi chép theo truyền thuyết, nên không có cơ sở tin cậy. Bản thân tôi lại nghĩ là ghi chép của tân sử có nhiều nhầm lẫn. Riêng trường hợp của Kinh Dương Vương thì có thể lấy kết quả khảo cổ để chứng minh ghi chép của sử cũ là có cơ sở:

Trong bài viết về hang Đồng Trương (Anh Sơn – Nghệ An), nhà khảo cổ học  Bùi Vinh chép: “Hiện vật và di tích thu được trong hố khai quật gồm có đồ đá, đồ gốm, đất nung, đồ đồng, đồ sắt, đồ thuỷ tinh, thổ hoàng… xương răng động vật, dấu tích than tro bếp lửa và các mộ táng. Dựa vào đặc điểm loại hình và sự phân bổ của các di vật – di tích trong địa tầng có thể biết được chúng thuộc văn hoá của hai thời đại khác nhau…”

Và Bùi Vinh kết luận:

“ Đồng Trương là một địa điểm khảo cổ học chứa di tồn văn hoá thuộc nhiều giai đoạn khác nhau, chủ yếu là hai nền văn hoá nổi tiếng nhất ở Việt Nam: Văn hoá Hoà Bình thời tiền sử và văn hoá Đông Sơn thời sơ sử. Vì vậy mà việc phát hiện ra địa điểm này có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Đây là lần đầu tiên phát hiện được “một Hoà Bình sơ khởi” đi kèm với các mộ táng của nó có thể thuộc giai đoạn hậu kỳ đá cũ với niên đại rất cổ xưa từ 1 đến 1,2 vạn BP (năm TCN). Những tài liệu thu được từ giai đoạn văn hoá này thuộc về lịch sử văn hoá – con người lâu dài của mảnh đất Nghệ An.

Việc phát hiện các di vật tiền Đông Sơn và Đông Sơn tại hang Đồng Trương mà niên đại ước đoán năm trong khoảng 2.300 – 3.000 BP, rõ ràng đã bổ sung cho nhận định: Lưu vực sông Lam là một trong ba trung tâm phát sinh và phát triển văn hoá của người Việt cổ thời các vua Hùng dựng nước.”

Cách hang Đồng Trương 3km, bài viết về kết quả khảo cổ ở hang Rú Bò của hai tác giả Phan Văn Hùng, Hồ Mạnh Hà, cũng có những tình tiết quan trọng không kém:

“…Hang Bò là một địa điểm thời tiền sử, thuộc thời đại đá mới (văn hóa Hòa Bình). Những di vật đá ở đây có nhiều nét gần gũi với nhóm di vật lớp dưới hang Đồng Trương cách Hang Bò 3 km về phía Đông đã khai quật vào năm 2004. Rất có khả năng Hang Bò còn là một địa điểm khảo cổ học phản ánh quá trình phát triển lâu dài của người tiền sử, từ đá mới đến kim khí, có thể có mộ táng. Cùng với Hang Bò ở đây còn có cả một hệ thống hang động với nhiều mái đá rất thuận lợi cho người tiền sử cư trú, sinh sống... Tại đây đã có những phát hiện về rìu đá hình tứ giác mài toàn thân, cùng với đồ gốm thời đại Kim khí.

Những hình khắc trên đá ở Hang Bò là do người tiền sử tạo ra với kỹ thuật sơ khai, thể hiện trình độ tư duy về thẩm mỹ của người tạo ra chúng. Việc xác định niên đại và nội dung của những hình khắc này đòi hỏi một quá trình nghiên cứu có tính hệ thống với sự tham gia của các nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau.

Việc phát hiện tảng đá có ký tự cổ ở Hang Bò xã Hoa Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An là một phát hiện mới, lạ về khảo cổ học, vì từ xưa đến nay chưa có một phát hiện khảo cổ nào ở Nghệ An nói riêng, cả miền Trung nói chung có loại ký tự, hình khắc trên đá của người tiền sử như ở Hang Bò. Phát hiện mới, lạ ở Hang Bò góp thêm tư liệu về nghệ thuật cổ trên đá ở Việt Nam…”

Ở đây tôi xin chỉ ra cái sự nhầm của ông Hà Văn Thuỳ rằng chủng người Australoid trên đất Việt Nam bị biến mất khoảng 4500 TCN? Nhưng trên thực tế, những hố khai quật tại Nghệ Tĩnh, cho đến thế kỷ thứ ba TCN, di cốt người sơ sử (không phải tiền sử) tìm thấy dù con số lên tới hàng ngàn, thì hầu như đa số vẫn là chủng người Australoid, rất ít chủng người Mongoloid. Tại bài ” Đa Bút, Quỳnh Văn, Cái Bèo trong bối cảnh phát triển văn hóa từ Hòa Bình sang hậu Hòa Bình ở Việt Nam”. Nhà KCH Bùi Vinh viết: “…Cư dân Quỳnh Văn chôn người trong huyệt gần tròn tại nơi cư trú, theo tư thế bó gối hay nằm co, thường di cốt không đầy đủ. Về chủng tộc là người Australoid và có nét Mongoloid…”.

Tại một số bài viết về kết quả khảo cổ ở Phái Nam (Hà Tĩnh), nơi giao thoa văn hóa Đông Sơn và Sa Huỳnh cũng cho kết luận di cốt người sơ sử là chủng người Australoid. Điều đó có thể đặt giả thiết kết luận tổ tiên chính thống của người Việt và người Chăm đều thuộc chủng người Australoid ?

Tôi cho rằng, sở dĩ người Việt Nam ngày nay nghĩ rằng tổ tiên của mình ở bờ sông Dương Tử là do các nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam đã bị nhầm lẫn núi Động Đình, Hồ Động Đình của nước Đại Việt với Động Đình Hồ của Trung Quốc? Sách “Đại Nam nhất thống chí”chép: “Núi Động Đình ở sách Quy Lai, huyện Yên Thành là núi lớn ở xứ Diễn Châu, phía tây núi có thành, trong thành có những viên đá chồng chất, hình như viên đạn…”.

Như vậy, lãnh thổ ban đầu thuở khai cơ của nước Xích Quỷ có giới hạn: Phía nam từ núi Quỳnh Viên (Nam Giới) thuộc đất Đường Lâm, châu Phúc Lộc, nay là huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh;  Biên giới phía Bắc đến núi Động Đình, thuộc đất Diễn Châu (Nghệ An).

Tôi sẽ vận dụng hết khả năng suy luận của mình để cố gắng kết nối một cách logic nhất các yếu tố lịch sử, sẽ làm sáng tỏ nơi đây là nôi sinh ra tộc người Việt!

Trước hết, căn cứ theo ghi chép của các thư tịch sử liệu cũ Việt Nam và Trung Hoa về các nhóm người Việt, cần khẳng định ngay, Việt Thường là cái tên “Việt” xuất hiện sớm nhất trong lịch sử Bách Việt. Đặc biệt hơn, Việt Thường còn được thể hiện là một địa danh có vai trò lịch sử quan trọng tầm cỡ một quốc gia, có nền văn hiến độc lập, được ghi nhận rõ ràng trong sử sách Hán – Việt; là một cái tên cổ chính thống,  chứ không phải một thứ tên tuổi mờ ảo thiếu rõ ràng, mà cần phải suy luận theo kiểu bính âm như  ông Tạ Đức sử dụng trong “Nguồn gốc người Việt – người Mường”!?

Khâm Định Việt sử thông giám cương mục - Tiền Biên, Quyển I, chép: “Theo "Thông chí" (通志) của Trịnh Tiều (Trung Quốc), về đời Đào Đường (2357-2258 TCN), phương Nam có Việt Thường thị qua hai lần sứ dịch sang chầu, dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là Quy lịch (龜歴 lịch Rùa).

Đồng thời sách này cũng chép: “Sử ký (Trung Quốc) chép: Năm Tân Mão thứ sáu (1110-TCN) đời Thành Vương nhà Chu, phía Nam bộ Giao Chỉ có Việt Thường Thị qua ba lần sứ dịch, sang dâng chim trĩ trắng. Chu công nói: "Đức trạch chưa thấm khắp đến phương xa, người quân tử không nhận đồ lễ ra mắt; chính lệnh chưa ban ra tới, người quân tử không bắt người ta thần phục". Theo lời thông dịch, sứ giả muốn nói: "Ông già trong nước chúng tôi có nói: "Trời mưa không dầm gió dữ và biển không nổi sóng đã ba năm nay, ý chừng Trung Quốc có thánh nhân chăng?". Vì thế, chúng tôi sang chầu". Chu Công đem dâng lễ vật lên nhà tôn miếu. Sứ giả không thuộc đường về, Chu Công cho năm cỗ xe biền đều làm theo lối chỉ nam. Sứ giả đi xe ấy theo ven biển nước Phù Nam và nước Lâm Ấp, vừa một năm mới về đến nước.” Sự kiện này, "Hậu Hán thư" chép là: “ 越裳以三象重譯而獻白雉 (Việt Thường dĩ tam tượng trùng dịch nhi hiến bạch trĩ) và không có chi tiết cấp xe chỉ nam về nước, không biết sách ta lấy tư liệu ở đâu?

“Đại Nam Quốc sử diễn ca” của Nguyễn Trãi cũng có nội dung tương tự:

Vừa đời ngang với Châu Thành (Chu Thành)

Bốn phương biển lặng, trời thanh một màu

Thử thăm Trung Quốc thế nào

Lại đem bạch trĩ dâng vào Châu Vương

Ba trùng dịch hộ chưa tường

Ban xe Tý – Ngọ chỉ đường Nam quy

Cách nhau ± 1148 năm giữa 2 lần đi sứ, lại không phải chỉ tên suông Việt Thường theo kiểu một địa danh nào đó, mà là Việt Thường Thị, chữ “thị” cho đến thời Xuân Thu vẫn là từ chỉ định giới hạn một vùng lãnh địa tương đương một quốc gia. Vậy Việt Thường rõ ràng không còn là một bộ lạc bán khai, mà phải là một nhà nước sơ khai, có văn hóa bản sắc riêng, biết quan sát thiên văn, địa lý, có kinh luân hẳn hòi và chế độ chính trị khá ổn định. Việc Chu Vương trả lời rằng Việt Thường Thị với nhà Chu không phải là quan hệ chư hầu nên không nhận lễ, càng chứng tỏ Việt Thường Thị là một nhà nước độc lập, hòa bình với phương Bắc chứ không hề phụ thuộc phương Bắc. Như vậy, địa danh Việt Thường chí ít cũng có thể xác định được trong sử sách là từ trước năm 2258 TCN và được duy trì kéo dài hơn ±3238 năm, đến đời tiền Lê (980 - 1009) mới đổi là Hoan Châu.

Việc xác định biên giới đất Việt Thường hiện có nhiều tranh cãi. Cái sai gây tranh cãi này xuất phát từ trong sử sách Việt Nam của các đời sau, mà Hoàng Xuân Hãn từng đặt nghi vấn có người cố ý sửa đổi lịch sử? Bởi việc xác định vị trí đất đai Việt Thường Thị rõ ràng như ban ngày, nên tranh cãi chẳng qua là sự bảo thủ, cố tình không chịu thừa nhận mà thôi. Tôi có thể đưa ngay ra các điểm phân tích sau:

- Thứ nhất, sử sách chép rằng Việt Thường là một trong hai bộ quan trọng nhất trong 14 (15?) bộ của nước Văn Lang, trong khi phạm vi nước Văn Lang, theo “Dư địa chí – Nguyễn Trãi”, bộ thuộc miền biên cương phía bắc thời bấy giờ là Chu Diên và Vũ Ninh, thì Chu Diên nay thuộc đất đai tỉnh Sơn Tây và Vũ Ninh thuộc đất đai tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Vậy nên có thể khẳng định, Việt Thường không thể ở bờ nam sông Dương Tử được?

- Thứ hai, sử liệu nhà Chu đã chép rõ “Việt Thường Thị ở phía nam Giao Chỉ ”, còn sách “Dư địa chí – Nguyễn Trãi” lại chép, “Giao Chỉ sau này là Sơn Nam”, tương ứng với các vùng Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định ngày nay. Suy ra Việt Thường chỉ nằm ở vùng đất từ Ninh Bình đổ vào.

- Thứ ba, biên giới phía nam của nước Văn Lang giáp nước Hồ Tôn. Điều này có thể lấy sử mới để chứng minh. Mãi cho đến thời Tiền Lý (503 – 548), biên giới phía nam nước Vạn Xuân  cũng chỉ mới tới núi Quỳnh Viên Nam Giới. Chính Lý Nam Đế là người đã đem quân chinh phục, đánh đuổi người Lâm Ấp đến tận đèo Ngang, cứ chiếm vùng nam Hà Tĩnh vốn là đất đai của người Chăm, nhập vào đất đai Vạn Xuân. Đến năm 1306, đời Trần Anh Tông, nhờ vào việc kết duyên của công chúa Huyền Trân (con gái vua Trần Nhân Tông) với Chế Mân là vua của nước Chiêm Thành. Chế Mân đã cắt đất hai châu Ô, Rí  (thuộc tỉnh Quảng Bình ngày nay) làm của hồi môn cho việc cưới hỏi, từ đó xứ Hoan Châu (thế kỷ XIV) được mở rộng tới sông Gianh. Như vậy, việc xác định địa danh Việt Thường ở Quảng Bình, Quảng Trị là do người chép sử bị nhầm lẫn sử cũ với sử mới.

- Thứ tư, vùng bắc Hà Tĩnh, cụ thể là vùng dưới chân núi Hồng Lĩnh, mãi đến trước đời Tiền Lê (980 - 1009) vẫn có tên là huyện Việt Thường, thuộc quận Cửu Đức (tức xứ Nghệ An về sau).

Bốn yếu tố trên, đặc biệt là yếu tố thứ tư đủ để khoanh vùng đất đai Việt Thường xưa thuộc vùng lưu vực sông Lam – sông Mã. Tương đương với vùng đất thuở khai cơ của Kinh Dương Vương và Động Đình Quân hợp lại.

Xứ Động Đình lần theo ghi chép của sử cũ, có thể xác định tên sau là Cửu Chân (thời Hùng Vương). Lãnh thổ gồm Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu của tỉnh Nghệ An, đổ ra Thanh Hoá, đến Ninh Bình, xứ này được các nhà khảo cổ học xác định là gốc gác cội nguồn quê hương của người Mường. Người Quảng Xương (Thanh Hóa) cho rằng, nguồn gốc cây lúa Việt Nam sinh ra trên vùng đất của họ. Còn tại vùng Động Đình (Yên Thành) thì vẫn lưu truyền câu ca từ ngàn xưa:

Đông Thành là mẹ là cha

Đói cơm rách áo tìm ra Đông Thành

Cổ sử Trung Hoa cũng có những ghi nhận bổ túc cho điều đó: “người Việt ở Cửu Chân đã biết trồng lúa hai mùa…”. Rồi lại chép:  “năm 123, đời Hán Anh Đế, lúa ở Cửu Chân rất tốt, 150 gốc lúa được những 768 bông”.  Có thể thấy rằng ở vào thế kỷ thứ XI - TCN mà tổ tiên chúng ta đã biết chuyên canh lúa hai mùa, thì chứng tỏ cây lúa đã được thuần hóa từ trước đó rất lâu tại vùng đất này. Ở đây tôi cũng làm rõ thêm rằng, theo Kinh Lễ của Khổng Tử thì ngũ cốc của Trung Hoa là ma (hạt gai dầu), thử (kê), tắc (ngô), mạch (lúa mì), thục (đậu tương)”, nghĩa là trong ngũ cốc mà người Trung Quốc thờ phụng không có hạt lúa. Trên thực tế, văn hóa ẩm thực Việt Nam với trên dưới cả ngàn món ăn được chế biến từ bột gạo cũng thể hiện rõ nét là quê hương của nền nông nghiệp lúa nước.

          Sau khi lập quốc tại núi Hồng Lĩnh, Kinh Dương Vương kết duyên cùng công chúa con vua xứ Động Đình (Động Đình Quân). Nghĩa là con trai xứ Nghệ An, làm rể xứ Thanh Hóa; con gái Thanh Hóa làm dâu Nghệ An. Lạc Long Quân Sùng Lãm - vị Tiên tổ của người Việt ngày nay được sinh ra bởi sự hòa huyết hai dòng máu Việt – Mường. 100 người con trai của Lạc Long Quân có lẽ cũng đều sinh ra ở vùng đất Xích Quỷ (hoặc là Xích Quỷ đến thời Sùng Lãm đã có cả thảy 100 bộ tộc quy phục?). 

Tôi đặt giả thiết cho nguồn gốc ra đời cái tên Việt Thường:

Có thể sau khi kết giao thông gia, hai tộc Việt – Mường đã thống nhất giang sơn làm một thành nước Việt – Thường (Mường). Đến đời Lạc Long Quân Sùng Lãm, lấy vợ là Âu Cơ , sử chép “gặp nhau ở Tương…” thì có lẽ là con gái của xứ Giao Chỉ? Chứ không phải con gái Đế Lai ở bên Tàu; hoặc Đế Lai chính là thủ lĩnh của Giao Chỉ, chứ không phải người Tàu? Bởi Tương là sông Tương và Tiên nữ có lẽ là nói con gái miền núi Tiên Du. Hai địa danh này đều thuộc tỉnh Bắc Ninh.

Hai bộ tộc Việt Thường và Giao Chỉ trước là mối quan hệ thông hiếu, sau thì từ mối nhân duyên này hợp thành quốc gia là Hồng Bàng Thị? Sự kiện chia tay của Lạc Long Quân và Âu Cơ, có thể lại là sự chia tách trở lại thành hai. Lý do chia tay là bởi Lạc Long Quân vốn người miền biển, quanh năm quen tung hoành lặn ngụp trong nắng gió. Nay Giao Chỉ là miền đất nhiều núi rừng và không có biển, phong tục tập quán cũng khác khiến cho Lạc Long Quân cảm thấy gò bó. Sau khi chia tay, Giao Chỉ thành nước Âu Việt, nhà Tần gọi là Tây Âu (chữ Âu trong Âu Việt cũng là chữ Âu trong Âu Cơ). Dư địa chí của Cổ Hi Phùng chép: “ Giao Chỉ về đời Chu gọi là Lạc Việt, về đời Tần gọi là Tây Âu”. Như vậy, có thể xác định việc chia tách Hồng Bàng Thị  thành hai nước Tây Âu và Việt Thường được xảy ra tương đương với đời Chu Thành Vương. Lạc Việt, phát âm theo tiếng Thanh – Nghệ có lẽ là nác Việt (do bị đọc trại từ cách phát âm "n" lẫn với "l" của xứ Bắc), tức nước Việt, tức gọi tắt từ tên nước Việt Thường.  Cho nên việc xác định mộ phần của Kinh Dương Vương ở Bắc Ninh là hoàn toàn có cơ sở. Có thể khi hợp thành Hồng Bàng Thị, kinh đô đặt tại Châu Phong, tức chính nơi đang thờ phụng Kinh Dương Vương, xã Châu Phong, huyện Quế Võ, Bắc Ninh ngày nay. Việc sử sách ghi chép ngược thành Phong Châu chắc là do nhầm lẫn cách đọc chữ Nôm với chữ Hán. Có thể Kinh Dương Vương mất trước khi Hồng Bàng Thị chia đôi thành Tây Âu và Việt Thường, nên mộ phần mới an toạ tại Châu Phong?

Như vậy tên Việt Thường xuất hiện hai lần trong lịch sử nước ta, nhưng thuộc hai triều đại khác nhau. Ở lần đi sứ thứ nhất đến nước Giao Đường Thị (2357-2258 TCN), khi ấy Việt Thường Thị là nhà nước hợp quốc của Kinh Dương Vương (Việt) và Động Đình Quân (Mường); Ở lần đi sứ thứ hai vào năm 1110 TCN sang nhà Chu là nước Việt (Lạc Việt, nác Việt Thường) của Hùng Vương. Cách quãng giữa hai giai đoạn lịch sử này là nhà nước Hồng Bàng Thị của Lạc Long Quân Sùng Lãm và Âu Cơ, bao gồm Việt Thường và Giao Chỉ hợp lại. Suy ra, 18 đời vua Hùng trị vì khoảng ±1000 năm, chí ít là từ năm 1110 TCN. Đây là một sự hợp lý về thời gian, bình quân mỗi đời vua trị vì khoảng 40 – 50 năm.

Việt Thường với lưu vực sông Lam, Động Đình với lưu vực sông Mã và Giao Chỉ với lưu vực sông Hồng, ngày nay đã được các nhà khảo cổ học chứng minh là ba vùng lõi của nền Văn hóa Đông Sơn, là tổ tiên sinh ra người Lạc Việt.

***

Tôi tiếp tục đặt câu hỏi nghi ngờ về sự nhầm lẫn lịch sử giữa dân tộc Việt Thường với các nhóm người Việt khác trong cộng đồng Bách Việt. Mà điều đầu tiên tôi muốn nói tới đó là, Bách Việt chưa bao giờ là một quốc gia trong lịch sử!  Bách Việt gồm nhiều quốc gia, hầu như toàn bộ Nam Á đều được người Hán gọi là Bách Việt.

Cụm từ “Bách Việt” xuất hiện khi nào?

Theo sử liệu Hán, thì ở thời đầu nhà Chu, người Hoa Hạ gọi các nhóm người ở bờ nam sông Dương Tử là Man (Ư, Mân, Đông, Cô, Sơn, Dương vv… ), bấy giờ cụm từ Bách Việt chưa xuất hiện ở lưu vực sông này. Chỉ khi Triệu Đà lập nên nước Nam Việt, những nhóm người Man đều thuộc vùng đất đai Nam Việt dựng quốc. Sau khi nhà Triệu bại vong, Nam Việt phân tản thành nhiều quận lệ thuộc Hán. Cụm từ Bách Việt xuất hiện trong Hán sử từ đó. Như vậy các nhóm người Man từ Cối Kê đến Quảng Tây, bao gồm hậu duệ người Việt và cả các chủng người khác sống ở bờ nam sông Dương Tử,  chính thức bị Việt hóa kể từ thế kỷ thứ III – TCN (tên các tộc người Man được gán thêm chữ Việt có lẽ là do các nhà nghiên cứu). Cho dù vậy, gia phả một số nhóm người Man ghi nhận tổ tiên của họ là người Việt. Ví dụ: người Mân cho rằng tổ tiên của họ thuộc một dòng dõi hoàng tộc người Việt. Trong khi người Ư được lịch sử gọi là Ư Việt, nhưng lại cho rằng họ có tổ tiên là nhà Hạ… Việc này tôi đánh giá là sự mở mang bờ cõi theo hướng bắc tiến của người Việt. Rồi trong công cuộc mở mang ấy, hình thành nên các thị tộc có nguồn gốc Việt,  sống lẫn lộn với các thị tộc có xuất xứ từ phương Bắc di cư đến bờ nam sông Dương Tử. Cho dù như thế, thì phàm những ai tự nhận mình là hậu duệ dân tộc Việt cần ghi nhớ, Lạc Việt là nôi sinh! Và cần được hiểu cho đúng, Bách Việt khi xưa, hay Việt Nam ngày nay, luôn luôn là đa sắc tộc, có nhiều chủng người sinh sống chứ không chỉ có mỗi một “chủng người Mongoloid phương Nam”? Chẳng cần đem khoa học chứng minh làm gì cho to tát vấn đề, chỉ cần nhìn màu da thôi cũng thấy rất rõ điều này!

***

Sự nhầm tiếp theo là nhầm lẫn về vị trí địa lý và lịch sử của nước Dạ Lang với nước Lạc Việt. Tôi cho rằng không có nước Văn Lang, mà chỉ có nước Lạc Việt, nước Tây Âu và nước Dạ Lang. Văn Lang có thể là kinh đô của nước Dạ Lang; hoặc là tên thuỵ của vua Hùng Vương Lang Liêu?

Trước khi chứng minh không có nước Văn Lang, tôi cần nói qua về nước Dạ Lang:

- Dạ Lang (Miêu): trong sử liệu Hán (206 TCN – 23 Sau CN) là một một bộ tộc hùng mạnh nhất trong các bộ tộc ở vùng Tây Nam Trung Hoa. Theo mô tả thì quân đội Dạ Lang có tới 100 nghìn lính tinh nhuệ, tàu bè đi lại tấp nập trên sông, cảnh quan phồn thịnh. Trong bài: “Chính thể Dạ Lang và Nguồn gốc của cái tên Trung Quốc” của tác giả  Geoff Wade (người dịch: Hà Hữu Nga), có đoạn : “ Nếu chúng ta tổng kết các nhận định trong các sử liệu Hán về Dạ Lang thì có thể thấy rằng trong khuôn khổ các giới hạn tạm thời của nó, chính thể Dạ Lang và tiền thân Tang Ca của nó đã mở rộng, với tư cách là một chính thể chủ yếu, ở vào thế kỷ III TCN, hoặc có lẽ thậm chí còn sớm hơn.  Cho đến khi các giới hạn địa lý được quan tâm, thì “Hậu Hán thư” đã lưu ý rằng Dạ Lang đã mở rộng về phía đông đến tận Giao Chỉ (bắc Việt Nam ngày nay), về phía tây đến Điền quốc (tập trung xung quanh hồ Điền Trì ở Vân Nam), và về phía bắc đến Cung Đô (ngày nay là Tứ Xuyên)”. Nước này vua được gọi là lang, kinh đô gọi là Văn Lang. Và theo mô tả trên thì trung tâm nước Dạ Lang ở nằm trên cao nguyên Quý Châu thuộc miền Tây tỉnh Vân Nam ngày nay. Ví trí địa lý một mặt giáp với Ba Thục, mặt kia giáp với hồ Động Đình, tây giáp với nước Điền (Lô Lô), đông giáp với Giao Chỉ. Vùng giáp biên với Giao Chỉ của Dạ Lang sau bị nhà Tần đánh chiếm lập thành Lâm Quất, Tượng Quận và đem tù binh bắt được của các nước lân bang đày đến đấy (đây có lẽ là lý do mà vùng biên cương phía Bắc nước ta có nhiều dân tộc thiểu số. Có thể tổ tiên của họ là tù binh của nhà Tần?). Trong cuộc chiến tranh giữa Nam Việt Triệu Đà với nhà Hán, do trước đó Triệu Đà từng có tham vọng quy phục Dạ Lang. Cho nên sau này nhà Hán lấy đó làm lợi dụng, cấu kết với nước Dạ Lang để tiêu diệt nhà Triệu. Nhưng khi nhà Triệu bại vong, thì Dạ Lang lại quy phục nhà Hán (năm 23 Sau CN).

Văn Lang là hiệu thụy của Lang Liêu sau khi mất?

Theo tập tục của cộng đồng Bách Việt từ thời Sơ sử đã có, thường một người sau khi mất, người ta căn cứ vào tài đức khi sống của người đó để đặt hiệu thụy, nếu vua giỏi về văn thì gọi Văn Vương, giỏi về võ thì gọi Vũ Vương. Tục này kéo dài đến đời hậu Lê ở nước ta vẫn còn duy trì. Ví dụ như Trần Quốc Tuấn sau khi mất được nhà Trần phong là Hưng Đạo Đại Vương; Đinh Liệt sau khi mất, được nhà Lê phong là Linh Cảm Đại Vương (Đại Vương là chức danh của các thần đất, còn Linh Cảm là địa danh dấy nghiệp thành công của Đinh Liệt). Theo mô tả trong sử liệu, Lang Liêu Hùng Vương là vị vua có phép ảo thuật “phong tục thuần lương chân chất, chính sự dùng lối thắt gút…” nên quy phục được nhiều bộ lạc. Có lẽ do chủ trương dùng văn để trị nước nên sau khi mất được đặt thụy là Văn Lang?

Nhầm lẫn có thể là ở chỗ nước ta thì có vua Văn Lang, còn Dạ Lang thì có kinh đô là Văn Lang, dẫn đến các nhà nghiên cứu sử cứ đi tìm kinh đô văn lang trên đất Việt Nam mà chẳng thấy đâu? Đó là chưa nói đến nước Sở cũng được gọi là Kinh Sở, lại cũng có vua Hùng, nên cũng dễ nhầm lẫn?

Tại sao tôi cho rằng không có nước Văn Lang?

Chứng cứ là sử liệu chép rằng sau khi thủ lĩnh Tây Âu bị diệt bởi nhà Tần, thì Thục Phán nổi lên, ép Hùng Vương nhường ngôi, hợp hai nước Tây Âu và Lạc Việt thành một, lấy tên là Âu Lạc. Vậy thì khi đó tên nước rõ ràng là Lạc Việt và Tây Âu chứ không phải là Văn Lang? Còn trước đó là Việt Thường Thị? Vậy thì vị trí nước Văn Lang nằm ở đâu? Giai đoạn lịch sử nào?

Tôi cần sử dụng một số ghi chép của sử cũ để làm rõ hơn về biên giới nước Âu Lạc:

- Cổ sử chép rằng: “Sau có quân Triệu Đà gây chiến ở núi Tiên Du (Bắc Ninh), đánh không lại An Dương Vương nên phải giảng hoà…”. Biên giới nước Âu Lạc và vùng đất thuộc quyền cai quản của Triệu Đà lúc bấy giờ lấy sông Tiểu Giang (tức sông Tương ở Bắc Ninh) làm giới tuyến.  Điều này chứng tỏ, trước đó nước Âu Lạc của An Dương Vương, dù đã bao gồm cả Tây Âu và Lạc Việt, thì biên giới phía bắc cũng mới chỉ tới bờ nam sông Tương ở Bắc Ninh mà thôi.

- Tôi có thể lấy thêm một chứng cứ khác: Sách “Đại Việt sử lược” chép: “Cuối đời nhà Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi rồi lên thay. Phán đắp thành ở Việt Thường, lấy hiệu là An Dương Vương, rồi không cùng với họ Chu thông hiếu nữa. Cuối đời nhà Tần, Triệu Đà chiếm cứ Uất Lâm, Nam Hải, Tượng Quận rồi xưng vương đóng đô ở Phiên Ngung, đặt quốc hiệu là Việt, tự xưng là Võ Vương.” Trong bài “Nam Việt Uý Đà liệt truyện”, Tư Mã Thiên cũng mô tả về sự hình thành nước Nam Việt, mầm mống âm mưu bắt đầu từ Nhâm Ngao đã mở nước cờ cho Triệu Đà. Lợi dụng khi nhà Tần bị tiêu diệt, “Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận”. Rồi dùng của cải mua chuộc các bộ tộc người Mân lệ thuộc vào mình. Sau thì dùng mưu đánh chiếm đất đai Âu Việt, lập nên nước Nam Việt và tự xưng là Triệu Đà Vũ Đế.

Như vậy căn cứ vào yếu tố giới tuyến là sông Tiểu Giang, thì có thể xác định, thời Hùng Vương, ba địa danh: Việt Thường, Giao Chỉ và Tượng Quận là ba vùng đất đai thuộc ba quốc gia khác nhau. Việt Thường, tức nác Việt (Lạc Việt) là  nước của vua Hùng; Giao Chỉ tức nước Tây Âu, chữ Âu trong Tây Âu và chữ Âu trong tên mẹ Âu Cơ là một chữ, tức Tây Âu là nước của mẹ Âu Cơ. Một thực tiễn  cho thấy vùng địa phương thuộc Tây Âu cho đến ngày nay vẫn gọi mẹ là U (chữ Âu còn phát âm là U) rất phổ biến; Còn Tượng Quận, trước thuộc đất đai của nước Dạ Lang, sau bị nhà Tần chiếm dụng làm nơi giam giữ tù binh. Việc này có thể căn cứ theo ghi chép của sử liệu đời Tống “Phong Châu xưa là đất Dạ Lang” mà khẳng định thêm. Ranh giới giữa Giao Chỉ và Tượng Quận là sông Tiểu Giang, ở huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Và Người Việt hẵng nhớ, quê cha là Việt Thường, quê mẹ là Giao Chỉ.

Tôi xin được làm rõ hơn nữa về miền đất Tây Âu Giao Chỉ. Đồng thời tôi sẽ phải tìm hiểu một chút về nguồn gốc của An Dương Vương Thục Phán. Cần tổng hợp một vài thông tin về An Dương Vương để phân tích:

- Cương mục tiền biên chép: “Nước Thục, từ năm thứ 5 đời Thận Tĩnh Vương nhà Chu (316 TCN) đã bị nhà Tần diệt rồi, làm gì còn có vua nữa? Huống chi từ Thục đến Văn Lang, còn có đất Kiện Vi (nay thuộc Vân Nam), đất Dạ Lang, đất Cùng, đất Tác và đất Nhiễm Mang (những đất này xưa là đất rợ mọi ở về phía tây và nam, nay thuộc Vân Nam), cách nhau hàng hai ba ngàn dặm, có lẽ nào Thục vượt qua được các nước ấy mà sang đánh lấy nước Văn Lang?”.

- Còn theo “Giao Quảng ký” của Hoàng Sâm: “Sau này con Thục Vương đem quân đánh Lạc Hầu, tự xưng là An Dương Vương, lỵ sở ở đất Phong Khê… Năm Bính Ngọ (255 TCN - tức Thục An Dương Vương năm thứ 3; Chu Đông - chu quân năm thứ 1). Tháng ba, mùa xuân, đắp xong Loa thành.”

- Theo sách “Thái bình hoàn vũ ký”, phần “Nam Việt chí”, của Nhạc Sử nhà Tống chép “An Dương Vương cai trị Giao Châu, Úy Đà đem quân sang đánh. An Dương Vương có thần nhân là Cao Thông giúp đỡ, chế ra cái nỏ, bắn một phát giết chết quân Triệu hàng vạn người, bắn ba phát giết đến ba vạn. Triệu Đà biết rõ duyên cớ, liền lui về đóng ở Vũ Ninh, rồi cho con là Trọng Thủy sang làm tin, xin hòa hảo với nhau. Nhà Thục, từ An Dương Vương khởi lên năm Giáp Thìn (257 TCN) đến năm Quý Tị (208 TCN) mất nước, cộng 50 năm…Năm Quý Mão (198 TCN - Triệu Dũ Vương năm thứ 10; Hán Cao hoàng đế năm thứ 9). Nam Việt vương Triệu Đà đã đánh và diệt được An Dương Vương rồi, sai hai sứ thần coi giữ quận Giao Chỉ và quận Cửu Chân.”

- Theo sử sách Trung Hoa, Ba - Thục là hai thị tộc cổ thuộc miền Tứ Xuyên, bị Tần Thủy Hoàng tiêu diệt vào năm 316 TCN. Hoàng tộc nhà Thục lánh nạn sang Tây Âu, nhưng đi giữa đường tiếp tục bị Tần Thủy Hoàng truy diệt. Sử ký của Tư Mã Thiên lại chép: “Năm thứ 33, Tần Thuỷ hoàng đưa những người trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm và Tượng Quận, Nam Hải; cho những người đi đày đến đó canh giữ…”

Như vậy, tôi đã có thể bao quát lại các nội dung trên để phân tích và đi đến nhận định như sau:

1. Giao Chỉ chính là nước Tây Âu, lãnh thổ từ Ninh Bình đến Bắc Ninh;

2. Việc “biên giới phía tây giáp Ba Thục” là sử ta chép nhầm sử của nước Dạ Lang;

3. Thục Phán đúng là hậu duệ nước Thục ở miền Tứ Xuyên. Có thể hoàng tộc nhà Thục nằm trong số bị đi đày đến Tượng Quận? Và ở đây thêm một minh chứng, đến thời nhà Tần, Tượng Quận và Giao Chỉ chưa hề là một nước. Chỉ khi thủ lĩnh Tây Âu bị nhà Tần diệt, Tây Âu mới bị lệ vào Tượng Quận. Ngay lúc này, họ Thục thừa cơ nổi lên lãnh đạo người Tây Âu chống lại nhà Tần. Như vậy, có hai điều cần làm rõ:

- Cho đ