Tìm kiếm
Trang chủ
Diễn đàn
An Tĩnh cổ lục
* Dấu tích Việt Thường Thị và vai trò Nghệ An trong dòng lịch sử Việt Nam
* Những điều kỳ lạ Phlanhoa đọc được trong trời đất Việt Thường
* Việt Thường phong tục
Ẩm thực Nghệ An - Hà Tĩnh
* Văn hóa ẩm thực Việt Nam
* Dưỡng sinh
* Phật giáo có nguồn gốc ở Việt Nam
Khảo cổ Nghệ Tĩnh
Bản sắc văn hóa Xứ Nghệ
Ví dặm
Góc nhìn Phlanhoa
* Bình luận
* Chiêm tinh láo nháo Phlanhoa
Phòng văn chương
* Phản biện các nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều
* Phlanhoa viết
Phòng thơ
* Lý thuyết học làm thơ
* Thơ về Nghệ An - Hà Tĩnh
* Thơ Phlanhoa
* Thất ngôn bát cú
Du lịch đó đây
* Khoảnh khắc cuộc sống
Ngôn ngữ không lời
Trang thông tin xã Đức La
* Phlanhoa hát
Liên hệ - Góp ý
Liên kết website
Làng Chợ Cồ - Kỳ 2
 
(15h: 08-10-2010)
Bài viết của Trần Hậu Thàng (cuốn "Làng cổ Hà Tĩnh")


Truyền thống tôn sư trọng đạo ấy được các thế hệ con cháu tiếp nối phát huy. Ngày nay, trong làng có trên 200 thầy giáo, cô giáo. Họ đi dạy ở nhiều nơi và đủ các cấp học. Riêng bậc đại học có 16 người làng là cán bộ giảng dạy.

Gia đình cố Phụng có đến 11 người con dâu rể cháu làm nghề dạy học. Con em trong làng có tiếng là chịu khó và học giỏi. gia đình cố Tài 3 năm liền có 5 người cháu thi đậu đại học.

 

Nghề chữa bệnh gia truyền của con cháu cố Tổng Thành (Thàng ? *) thật đáng trân trọng. Vào đầu thế kỷ thứ XIX, cố Tổng Thành vốn là thầy dạy học và thầy địa lý, được bên ngoại truyền thêm nghề chữa bệnh và cho toàn bộ sách y học quý hiếm. Cố Thàng dày công nghiên cứu và dạy dỗ con cháu hành nghề. Cha truyền con nối, nghề chữa bệnh, nhất là bệnh đau mắt ngày càng phát triển. con cháu cố Tổng Thành như cố Du, cố Cận, cố Hiều, cố Ngoạn, ông Toàn, ông Uyển…đều là những thấy thuốc giỏi.

 

 

* Phlanhoa xin bổ sung một chút thông tin vào đoạn này:

 

Cụ Tổng Thành, hay còn gọi là Cụ đầu huyện, tên húy là Trần Hậu Thàng (có lẽ tác giả bài viết là con cháu dòng họ Trần Hậu ở Chợ Cồ?). Theo bà ngoại Phlanhoa kể thì hồi trẻ, cụ đi thi đỗ đầu huyện, được chính quyền đương thời bổ nhiệm làm Tổng thành cai quản tỉnh lỵ Hà Tĩnh (thị xã Hà Tĩnh lúc đó có cả thảy tám dãy phố). Nhưng cụ Thàng đã từ chối nhậm quan, vì cụ cho rằng Triều đình Huế hèn nhát và cụ không muốn làm quan dưới sự phụ thuộc của người ngoại quốc (Pháp). Cũng với lý do đó, cụ không tham gia các khoa thi cao hơn, đồng thời cũng không mong con cháu mình tham gia khoa cử. Cụ quay về làng Chợ Cồ và bắt đầu nghiên cứu y học. Cụ chữa bệnh cho dân mà không lấy tiền công bao giờ. Cho nên nhân dân trong vùng và khắp các vùng lân cận đều trọng vọng gọi là “Cụ đầu huyện”, hoặc “Cụ Tổng Thành”, dù cụ chưa nhậm quan ngày nào. Ngày Cụ đầu huyện mất, không chỉ có dân làng Chợ Cồ, mà tất cả nhân dân trong 8 dãy phố của thị xã Hà Tĩnh, các xã xung quanh, và bệnh nhân của cụ từ các nơi đổ về, người bán buôn trong chợ Tỉnh cũng đóng cửa hàng quán để đi đưa tang, khiến cho đám tang đông nghẹt người kéo dài từ Chợ Cồ lên đến chợ tỉnh, thị xã Hà Tĩnh.

 

Con cái của Cụ đầu huyện về sau đều noi gương cha làm nghề y học, trong đó giỏi nhất là cố Ngoạn, khoảng từ thập kỷ 40 - 60 cố Ngoạn được coi là danh y bậc nhất về chữa trị thong manh mắt, tiếng tăm của cố Ngoạn nổi tiếng hết một vùng rộng lớn từ tỉnh Hà Nội cho đến kinh thành Huế, bệnh nhân của củ có cả những người từ Lào, Trung Quốc tìm sang. Nhiều người cơm đùm cơm nắm đến Chợ Cồ chữa bệnh hàng tháng trời. Dân trong làng noi gương y đức của cha con Cụ đầu huyện, đều sẵn lòng cho bệnh nhân ở trọ không lấy tiền, thậm chí còn giúp cơm áo khi họ gặp khó khăn. Khoảng năm 1958 (hoặc 1959), cố Ngoạn được Bộ y tế mời ra Hà Nội để viết sách và làm việc tại Viện mắt Trung Ương. Tuy nhiên sau một thời gian, cố Ngoạn thấy sự gò bó không phù hợp với tinh thần chữa trị của mình, nên xin về lại quê hương tiếp tục hành nghề y tại Chợ Cồ cho đến cuối đời.

 

 

 

Người làng Chợ Cồ, xưa cũng như nay, tuy cuộc sống vật chất còn nghèo khó, nhưng lại có cuộc sống tinh thần, đời sống tâm linh khá phong phú, thấm đượm tính nhân văn và đạo lý ở đời.

 

Trên dải cát Cồn Cồ nhỏ hẹp mà có đến hàng chục ngôi đền, chùa, đình, miếu, nhà thờ… nằm san sat1t bên nhau. Giải thích hiện tượng này, có người bảo Cồn Cồ là đất “Hàm Long”, “Cồn Rồng” (hai địa danh trên Cồn Cồ), linh thiêng lắm.

 

Nhưng sự linh thiêng của đất trời trước hết là ở lòng người. Họ chăm lo xây cất đền chùa, nhà thờ…là để thờ phụng, để hướng về cội nguồn, để bày tỏ lòng biết ơn các vị tiền bối đã có công lao với quê hương đất nước. xin nêu ra đây vài dẫn chứng:

 

Ngài Trần Hậu Dật dưới thời Lê (thế kỷ XVII) đã có tước quận công được vua Lê vinh phong “Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân, Đô đốc phủ đô đồng tri, Trí Quận công”. Con cháu và dân làng lập đền thờ ngài ở Cồn Cồ. Hàng năm, ngày 25.5, xã Trung Tiết làm lễ dâng hương, ngày 26 tháng 5, các chi nhánh họ Trần làm lễ tế.

 

Ngài Lê Văn Ngói từng làm Hiệu úy vi hộ quân (?) triều đại Tây Sơn, xông pha dưới ngọn cò oanh liệt Quang Trun, đã bỏ mình nơi chiến trận. con cháu và dân làng lập đền thờ ngài ở Cồn Cồ, gần giếng Chè, thường gọi là nhà thờ Quan Đội.

 

Đền Võ Chỉ, Đến Thánh, Đình Trung, Chúa Khang Quý và mấy chục nhà thờ Thần Tổ đặt cạnh nhà thờ các họ trong làng là biểu hiện ngời sáng đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân làng.

 

Chùa bình Vôi tọa lạc trên một vùng cồn Cồ rộng rãi, thoáng mát, cây cối cao to xanh tốt, chẳng có rào dậu che chắn gì cả. Ở giữa chỉ có một cái nhà thắp hương thấp nhỏ, xung quanh là hàng trăm chiếc bình vôi đủ các cỡ xếp chồng lên nhau. Chiếc bình vôi nào cũng vậy, cái miệng của nó được quệt voi dày và dài ra như cái vòi ấm nước. Người ta cho đó là dấu hiệu của sự sung túc nồng thắm. Chính “ông bình vôi” đã làm cho “miếng trầu là đầu câu chuyện” đằm thắm nồng nàn. Người làng mang ông bình vôi của nhà mình bỏ vào chùa, xếp chồng lên nhau như vậy, chắc là không phải để thoát tục xa lánh cõi trần và cũng chẳng phải để cầu mong lợi lộc. Họ làm như vậy có lẽ là để ghi nhớ một phong tục có ý nghĩa, phong tục mời trầu và câu mong cho cõi trần ngày càng nồng thắm nghĩa tình.

 

Lễ hội làng khá phong phú đa dạng, đáng ghi nhớ hơn cả là lễ tục ngoạt. Hàng năm vào khoảng rằm tháng sáu, cả mười một làng trong xã Trung Tiết đều rước thần về tế tại Đình Trung. Lễ hội diễn ra trong hai ngày với các nội dung: thứ nhất, các làng tổ chức thành đoàn long trọng rước lễ về tế. Các đoàn thường đông người đi nhưng đẹp nhất là đoàn trai lể và ái rước quả phẩm. họ mặc đồng phục truyền thống, đi nhịp nhàng theo tiếng trống chiêng. Nội dung thứ hai là hành lễ tại Đình Trung. Võ Chỉ, Văn Miếu theo nghi thức cổ truyền, trang nghiêm long trọng. Và nội dung thứ ba là tổ chức nhiều cuộc thi văn nghệ thể thao giữa các làng.

 

Làng Phú Hào thường được Hội đồng chấm thi tặng giải thưởng cao nhất. Làng Chợ cồ, nơi diễn ra lễ hội của xã, không chỉ có người đến dự hội đông nhất, mà các vị chức sắc và trai lễ còn phải đảm nhận mọi việc của một làng sở tại. Dấu ấn để lại của lễ hội là những đêm há trò, do người làng Chợ Cồ trình diễn.

 

“Hát trò Chợ Cồ” đã thành câu nói quen dùng của người trong vùng. Nổi tiếng nhất là chiếu trò cố Đạt. Cố say mê và tìm tòi học hỏi về nghệ thuật hát trò (còn gọi hát ả đào hay hát ca trù). Cố tần tảo sắm sửa đàn trống, sênh và dày công dạy cho con, cho dâu và cho bà con trong làng hát ca trù. Khi có lễ hội, chiếu hát  trò của cố Đạt được mời đến diễn, người dự rất đông. Ngày thường cố Đạt tổ chức hát tại nhà mình ở xóm Vườn Ích.

 

Ngày nay hát ca trù cũng như một số sinh hoạt văn hóa khác bị mai một, nhưng bản sắc văn hóa làng vẫn được giữ gìn và phát triển, trải qua thử thách càng tỏ rõ sức sống.

 

Suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, làng Chợ Cồ đã góp phần mình vào thắng lợi chung của cả nước.

 

Chưa bao  giờ sức sống văn hóa làng Chợ Cồ lại được phát huy mạnh mẽ như trong những ngày chiến tranh ác liệt, phẩm chất cộng đồng được khơi dậy và thể hiện khá sinh động. Cả làng sôi động lên bằng nhiều biện pháp như giúp đỡ gia đình hoạn nạn, cưu mang những cháu bé mồ côi, ưu ái đối với những ông bà có con cháu đi chiến đấu, làm lán học để các cháu kịp đến trường, nhanh chóng ổn định cuộc sống. Dân làng còn khó khăn nhưng vẫn tiếp đón các đơn vị bộ đội, các cơ quan của tỉnh, các tổ chức kinh tế giáo dục sơ tán về làng.

 

Bản sắc văn hóa cộng đồng làng Chợ Cồ được hình thành và phát triển trong lịch sử, ngày càng được phát huy, được khẳng định.

 

Đó là tình nghĩa làng xóm, tối lửa tắt đèn có nhau, thương yêu giúp đỡ nhau, nhất là khi khó khăn hoạn nạn.

 

Đó là ý thức dân chủ công bằng, đôn hậu thủy chung, uống nước nhớ nguồn đền ơn đáp nghĩa.

 

Đó là cốt cách sống trung thực ngay thẳng, vị tha, không ham danh lợi, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn.

 

Đó là tinh thần lao động cần cù khéo tay sáng tạo, là lối sống giản dị tiết kiệm khiêm nhường, sống bằng chính kết quả lao động của mình.

 


Để gửi ý kiến nhấp vào đây

Các tin khác:
 Làng Chợ Cồ - Kỳ 1 (12h: 07-10-2010)
 TỤC NÉM ĐÁ Ở CÁT NGẠN (13h: 30-09-2010)
 Kẻ Hạ - Việt Yên Hạ - Kỳ 2 (16h: 28-09-2010)
 Kẻ Hạ - Việt Yên Hạ - Kỳ 1 (15h: 27-09-2010)
 Cửa Hội (00h: 24-09-2010)
 Núi Thiên Nhận (16h: 10-09-2010)
 LÀNG ĐÓNG THUYỀN TRƯỜNG XUÂN (11h: 07-09-2010)
 HUYỀN THOẠI DÒNG SÔNG LAM – Phlanhoa (13h: 06-09-2010)
 PHÚC GIANG THƯ VIỆN - CÁI NÔI VĂN HÓA XỨ NGHỆ (12h: 02-09-2010)
 CÁC VỊ “TIẾN SĨ VÕ” (09h: 05-09-2010)